CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ, XẾP HẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA VIỆT NAM 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh 1. Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia a.
Các công trình nghiên cứu đã công bố ở ngoài nước Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (the Global Competitiveness Report) là một báo cáo thường niên do Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum - WEF) thực hiện, xuất bản lần đầu vào năm 1979, nghiên cứu và xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới NLCT của các quốc gia. Thời gian đầu, báo cáo nhằm mục tiêu đưa ra các vấn đề và thúc đẩy thảo luận giữa các bên có liên quan về chiến lược và chính sách để giúp các quốc gia khắc phục các trở ngại và cải thiện NLCT. Từ năm 2005, WEF sử dụng Chỉ số NLCT toàn cầu (Global Competitiveness Index - GCI) như một công cụ để đo lường các lợi thế tự nhiên, yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô ảnh hưởng tới NLCT quốc gia. Đến năm 2017, trong bối cảnh công nghệ thay đổi mạnh mẽ, phân cực chính trị và sự phục hồi kinh tế mong manh, tổ chức này điều chỉnh cách tiếp cận và sử dụng chỉ số NLCT toàn cầu 4.0) thay cho chỉ số GCI.
Chỉ số này cung cấp thông tin khách quan cho phép các nhà lãnh đạo từ khu vực công và tư nhân hiểu rõ hơn các động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế. Việt Nam được WEF đánh giá và xếp hạng trong báo cáo này. Theo đó, 114 chỉ số đo lường NLCT quốc gia (GCI) và sau này là 98 chỉ số đo lường NLCT 4.0 được khảo sát và tính toán cho Việt Nam. Tuy nhiên, báo cáo này tính điểm và xếp hạng NLCT cho các nền kinh tế chủ yếu dựa trên cảm nhận của lãnh đạo các doanh nghiệp, đánh giá của chuyên gia, nhưng không thể hiện và lý giải được nguyên nhân của những chỉ số tốt, chỉ số kém hoặc giảm điểm, giảm bậc về NLCT; bởi vậy việc nhận diện các giải pháp liên quan là thách thức.
Trong khu vực, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á chủ trì và Công ty tư vấn McKinsey (Hoa Kỳ) cũng thực hiện và công bố Báo cáo NLCT các nước luan an 8 ASEAN (ASEAN Competitiveness Study - 2003). Nghiên cứu của McKinsey cho thấy nhiều sáng kiến của ASEAN có tác động hạn chế. Ví dụ: (i) chia sẻ thương mại nội khối ASEAN đã không tăng trưởng khi thực hiện AFTA; (ii) có sự khác biệt lớn về giá tiêu dùng của các sản phẩm gia dụng thông thường trong khu vực; (iii) hiệu quả bổ sung kinh tế chưa được tận dụng tốt; và (iv) tiến trình dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan còn chậm, đặc biệt liên quan đến việc hài hòa các tiêu chuẩn, thực hiện các thỏa thuận công nhận lẫn nhau và đơn giản hóa thủ tục hải quan. Theo đó, McKinsey khuyến nghị rằng Cộng đồng kinh tế ASEAN nên là một dạng thỏa thuận “FTA +”, bao gồm xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan đối với dịch vụ, tự do hóa dòng vốn trong khu vực với việc tập trung vào các chính sách đầu tư kinh tế vi mô, và cho phép lao động lành nghề di chuyển lớn hơn trong khu vực.
Nghiên cứu này đặt Việt Nam trong bối cảnh chung của các nước ASEAN, không phân tích và kiến nghị riêng, cụ thể cho Việt Nam. Vì vậy, phân tích về NLCT quốc gia và thách thức đổi với Việt Nam trong nghiên cứu này là mờ nhạt. NLCT khu vực ASEAN cũng được xem xét trong nghiên cứu của Peter Lloyd và Penny Smith (2004). Nghiên cứu này phân tích và tìm kiếm giải pháp nâng cao NLCT cho ASEAN trong bối cảnh nền kinh tế thế giới thay đổi nhanh chóng.
Phân tích và kiến nghị của nghiên cứu gắn với các chính sách kinh tế trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và các Hiệp định thương mại tự do. Peter Lloyd và Penny Smith cũng đặt Việt Nam trong bối cảnh chung của các nước ASEAN, do đó phân tích về NLCT quốc gia Việt Nam trong nghiên cứu này không rõ ràng. Philippe Gugler và Julien Chaisse (2010) biên soạn cuốn sách NLCT của các nước ASEAN: Động lực về doanh nghiệp và cải cách pháp lý (Competitiveness of the ASEAN Countries: Corporate and Regulatory Drivers) nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao NLCT của các quốc gia, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với suy thoái kinh tế. Cuốn sách là tổng hợp các nghiên cứu của các tác giả khác nhau nhằm tìm kiếm cách thức khả thi để đưa ASEAN trở thành một khối kinh tế và chính trị khu vực.
Các chuyên luan an 9 gia nghiên cứu NLCT ngành của ASEAN; phân tích vai trò của các công ty đa quốc gia (MNE) trước những thách thức của hội nhập; và chứng minh rằng hội nhập khu vực sẽ chỉ thành công nếu mối liên kết của ASEAN được mở rộng với các đối tác toàn cầu thông qua các cuộc đàm phán về các Hiệp định thương mại tự do. Tương tự như nghiên cứu của McKinsey (2003) và Peter Lloyd và Penny Smith (2004), cuốn sách này đặt Việt Nam trong bối cảnh chung của ASEAN; phân tích mối quan hệ hợp tác giữa ASEAN với phần còn lại của thế giới và trong nội bộ ASEAN, và đề xuất thúc đẩy tự do đầu tư, tự do thương mại. Do đó, những phân tích về NLCT quốc gia Việt Nam trong cuốn sách này cũng rất mờ nhạt. Các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước Ở trong nước, báo cáo nghiên cứu về NLCT quốc gia Việt Nam được nhiều học giả tham khảo là “Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010”.
Đây là báo cáo nghiên cứu hợp tác giữa Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Học viện Năng lực cạnh tranh châu Á (ACI) thuộc Trường chính sách công Lý Quang Diệu theo hướng dẫn về phương pháp luận của Giáo sư Michael E. Báo cáo đánh giá chi tiết về các yếu tố vĩ mô và vi mô của NLCT quốc gia Việt Nam, dựa trên khung phân tích NLCT của Michael Porter. Tuy nhiên, sau khi công bố Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010 đến nay, chưa có thêm báo cáo nghiên cứu chuyên sâu nào về NLCT quốc gia Việt Nam. Báo cáo này không tập trung vào xếp hạng tổng thể của Việt Nam so với các quốc gia khác, mà mô tả bức tranh thực tế về NLCT quốc gia Việt Nam tại thời điểm đó.
Mặt khác, do cách tiếp cận và giới hạn phạm vi của nghiên cứu nên báo cáo này thiếu vắng phân tích sâu đối với một số nhân tố quan trọng khác và là thách thức, điểm nghẽn cản trở NLCT ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay như thể chế kinh tế thị trường, đổi mới sáng tạo,… Ngoài ra, môi trường kinh doanh – nhân tố nền tảng trong hầu hết các bảng xếp hạng - cũng được mổ xẻ nghiên cứu, nhưng còn ở mức độ hạn chế và một số nội dung đã không còn phù hợp với bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu các nhân tố cụ thể của năng lực cạnh tranh NLCT của một nền kinh tế là tổng hòa của nhiều yếu tố thành phần. Theo đó, nghiên cứu về NLCT không chỉ là các báo cáo NLCT quốc gia như cách tiếp cận của WEF mà còn được thể hiện qua các báo cáo, nghiên cứu về các nhân tố thành phần tác động tới NLCT. Các báo cáo này chủ yếu là tài liệu ngoài nước.
Về môi trường kinh doanh Báo cáo Mức độ thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh (Doing Business, gọi tắt là Môi trường kinh doanh) của Ngân hàng thế giới (WB) là báo cáo kết quả điều tra, khảo sát về các quy định và thực tiễn thực thi dẫn tới thúc đẩy hoặc hạn chế kinh doanh. Đây là báo cáo thường niên (thực hiện từ năm 2003), trong đó công bố bộ chỉ số xếp hạng Môi trường kinh doanh (EoDB - Ease of Doing Business Index). Bộ chỉ số này đánh giá về các quy định liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp và về bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) trong nước. WB tập hợp thông tin về những thay đổi trong khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính (TTHC) và những trở ngại về kỹ thuật trong việc bắt đầu thành lập hoặc mở rộng hoạt động của một doanh nghiệp.
Việt Nam được đánh giá trong xếp hạng này. Báo cáo gợi ý những điểm tích cực cũng như hạn chế trong quy định và thực thi liên quan tới 10 chỉ số môi trường kinh doanh, nhưng những nhận định, phân tích vào các nguyên nhân cụ thể chưa sâu sắc, mới chỉ dừng lại ở một số điểm rà soát trong văn bản. Forbes là một tạp chí có uy tín cao, nổi tiếng với các chương trình xếp hạng về nhiều loại như các quốc gia có môi trường kinh doanh tốt nhất, doanh nghiệp lớn nhất, công nghệ phát triển nhanh nhất,. Từ năm 2006, Forbes hàng năm cũng công bố Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh.
Từ năm 2008, báo cáo có tên gọi là “Các quốc gia có môi trường kinh doanh tốt nhất - Best Countries for Business” - BCB. Trước đó, báo cáo có tên gọi là “Chỉ số thân thiện với vốn đầu tư - Capital Hospitality Index”. Việt Nam có trong danh sách xếp hạng này. Để thực hiện bảng xếp hạng, tạp chí Forbes không làm cuộc khảo sát riêng, mà chỉ luan an 11 tổng hợp và phân tích báo cáo, dữ liệu của các tổ chức khác.
Chỉ số này của Forbes cho thấy mức độ cảm nhận và một số vấn đề của môi trường kinh doanh, nhưng không chỉ rõ được nguyên nhân dẫn tới các kết quả đó. Về quyền tài sản Quyền tài sản (property right) là bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường. Đây là chỉ số được đánh giá trong nhiều bộ chỉ số xếp hạng trên thế giới như: NLCT toàn cầu của WEF; Môi trường kinh doanh (Doing Business) của WB; Môi trường kinh doanh (Best Countries for Business) của Forbes; Tự do kinh tế (của Quỹ di sản văn hóa); Tự do kinh tế thế giới (của Viện Fraser);. Liên minh quyền tài sản (Property Rights Alliance) xây dựng và công bố một bộ chỉ số riêng về quyền tài sản quốc tế (International property rights index - IPRI).
Chỉ số quyền tài sản quốc tế được đánh giá dựa trên các nhóm yếu tố về: môi trường pháp lý và chính trị, quyền sở hữu vật chất và quyền sở hữu trí tuệ. Đây là chỉ số được thiết kế dành riêng cho việc đo lường quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu vật chất.