Tổng quan luận án
Công trình "Vấn đề xuất bản sách dịch ở Việt Nam hiện nay" của nghiên cứu sinh Vũ Thị Ngọc Thuỳ là luận án tiến sĩ chuyên ngành Xuất bản (mã số: 9 32 04 01), được hoàn thành tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Hà Huy Phượng và TS. Trần Văn Hải.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng sách dịch đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất bản tại Việt Nam với số lượng đầu sách và bản in tăng đều qua các năm. Tuy nhiên, hoạt động này đang đối diện với nhiều thách thức: tác động của khoa học - kỹ thuật và công nghệ thông tin, sự xuất hiện của các hình thái sách mới, xuất bản điện tử lấn át sách in truyền thống, cùng mặt trái của cơ chế thị trường. Trước đây, nhiều công trình đã nghiên cứu xuất bản dưới góc độ lý luận và nghiệp vụ chung, nhưng chưa có đề tài nghiên cứu hệ thống về xuất bản sách dịch. Những vấn đề xoay quanh mảng sách này chưa được tổng kết, so sánh và xây dựng thành lý thuyết khoa học cụ thể. Luận án được thực hiện nhằm bổ sung khoảng trống lý luận và thực tiễn trên.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở xây dựng khung lý thuyết về xuất bản sách dịch và đánh giá thực trạng hoạt động xuất bản sách dịch ở Việt Nam, luận án đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xuất bản sách dịch đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm bốn nội dung:
- Một là: Tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
- Hai là: Hệ thống hóa, phân tích và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về vấn đề xuất bản sách dịch.
- Ba là: Nghiên cứu và đánh giá thực trạng hoạt động xuất bản sách dịch Việt Nam thông qua kết quả khảo sát một số nhà xuất bản và công ty sách tư nhân. Trên cơ sở đó rút ra vấn đề của xuất bản sách dịch, những thành tựu và hạn chế của hoạt động xuất bản sách dịch Việt Nam hiện nay, những vấn đề đặt ra với xuất bản sách dịch.
- Bốn là: Đề xuất những giải pháp góp phần giải quyết các vấn đề xuất bản sách dịch Việt Nam hiện nay.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm:
- Vì sao lại cần quan tâm đến xuất bản sách dịch Việt Nam? Phải chăng nó còn tồn tại những vấn đề dưới sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan?
- Vấn đề xuất bản sách dịch Việt Nam hiện nay là những gì? Quy trình xuất bản sách dịch đã hợp lý từ tổ chức bản thảo đến biên tập, truyền thông và phát hành?
- Làm thế nào để góp phần giải quyết vấn đề xuất bản sách dịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm:
- Giả thuyết thứ nhất: Hoạt động xuất bản sách dịch nước ta đã đạt được những kết quả nhất định, cung cấp nhiều đầu sách giá trị, số lượng bản in tăng. Tuy nhiên, xuất bản sách dịch vẫn tồn tại hạn chế trước sự bùng phát của công nghệ mới và yêu cầu hội nhập quốc tế.
- Giả thuyết thứ hai: Xuất bản sách dịch hiện đã có quy trình phù hợp nhưng vẫn nảy sinh vấn đề ở các đầu sách liên kết xuất bản. Cơ cấu tổ chức bản thảo còn mất cân bằng giữa sách dịch xuôi và sách dịch ngược, thể loại và ngôn ngữ dịch; cộng tác viên và biên tập viên còn để xảy ra sai sót; nạn in lậu, in giả diễn biến phức tạp; hoạt động truyền thông chưa được đầu tư thích đáng.
- Giả thuyết thứ ba: Cần xây dựng các giải pháp xuất phát từ thực tiễn gắn với cơ quan quản lý và các đơn vị xuất bản để giải quyết triệt để những tồn tại của hoạt động này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Những vấn đề của hoạt động xuất bản sách dịch ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 5 đơn vị gồm 4 nhà xuất bản (Thế giới, Kim Đồng, Văn học, Trẻ) và 1 doanh nghiệp liên kết tư nhân là Công ty Cổ phần Sách AlphaBooks.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát dữ liệu từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/12/2019.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu hoạt động xuất bản sách dịch ở các khâu tổ chức bản thảo (kế hoạch đề tài, công tác cộng tác viên), biên tập - xuất bản, truyền thông và phát hành sách dịch.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo 3 cụm chủ đề chính:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về hoạt động xuất bản:
- Trong nước: Đỗ Quang Hưng (1996) với "Lịch sử xuất bản sách Việt Nam"; Vũ Mạnh Chu (1997) nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện pháp luật xuất bản; Nguyễn Trọng Báu (2002) về biên tập ngôn ngữ sách và báo chí; Vũ Duy Thông (2004) hệ thống quan điểm kinh điển của Mác - Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh về báo chí, xuất bản; Trần Văn Hải (2007) trong "Lý luận nghiệp vụ xuất bản tập 1"; Lê Thị Phúc (2008) về công nghệ in trong lịch sử xuất bản; Nguyễn Hồng Vinh (2011) về xuất bản qua 25 năm đổi mới; Nguyễn Lan Phương và Đường Vinh Sường (2011) về quản trị kinh doanh xuất bản; Lê Văn Yên (2012) về thực trạng và giải pháp khắc phục in lậu sách; Bộ Thông tin và Truyền thông (2013) về đường lối, chính sách và pháp luật xuất bản; Phạm Thị Thu (2013) nghiên cứu xuất bản điện tử; Nguyễn Anh Tú (2015) về quản lý nhà nước đối với xuất bản; Nguyễn An Tiêm và Nguyễn Nguyên (2015) về xã hội hóa hoạt động xuất bản; Vũ Thùy Dương (2016) về nhận diện sai phạm xuất bản; Trần Văn Hải (2017) về quản lý nhà nước về xuất bản; Phạm Văn Thấu (2017) về nghiệp vụ biên tập - xuất bản; Vũ Mạnh Chu và Vũ Thùy Dương (2019) về quyền tác giả và quyền liên quan; Kỷ yếu hội thảo của Đại học Văn hóa Hà Nội (2019) về đào tạo nhân lực xuất bản thời kỳ số hóa; Đào Thị Hoàn (2020) về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xuất bản giai đoạn 1990 - 2016.
- Thế giới: Gerald Gross (1993), Ian Montagnes (1991), Philip G. Altbach và Damtew Teferra (1999, do Vũ Thế Hùng dịch), N. D. Eriasvili (2004, do Đào Tấn Anh và Kiều Vân dịch), K. D. Sullivan và Merilee Eggleston (2006), Susan Bell (2007), Suzanne Gilad (2007), Thomas Woll (2010), John B. Thompson (2012), Trần Hân (2013, do Thúy Lan và Thanh Huyền dịch), Steve Dunham (2015), Wayne Miller và Kevin Prufer (2016), Peter Ginna (2017), Kelvin Smith và Melanie Ramdarshan Bold (2018), James Raven (2021, do Đào Quốc Minh dịch).
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về dịch thuật:
- Trong nước: Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1982) với các khảo cứu của Vũ Khiêu, Phan Ngọc, Phan Văn Các; Nguyễn Chí Thuật (2002); Đình Vĩnh (2006) về dịch thuật văn học nửa đầu thế kỷ XX; Nguyễn Thượng Hùng (2005) về lý thuyết và thực hành dịch; Lưu Trọng Tuấn (2008) về dịch văn bản khoa học; Phạm Đức Trung (2017) về lỗi dịch đối dịch Hán - Việt.
- Thế giới: Friedrich Schleiermacher (1813) phân định phương pháp ngoại hóa và nội hóa; A. V. Fedorov (2004, Lê Đức Mẫn dịch) về cơ sở lý thuyết dịch đại cương; Esther Allen (2007, Phạm Anh Minh dịch) về vị thế tiếng Anh trong toàn cầu hóa; Jeremy Munday (2009, Trịnh Lữ dịch) nghiên cứu dịch thuật liên ngành và mạng lưới quyền lực của ngành xuất bản.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trực tiếp về xuất bản sách dịch:
- "Sổ tay Dịch giả Văn học" của Hội Văn bút quốc tế PEN Hoa Kỳ (1981, Trịnh Lữ dịch) liên quan đến mẫu hợp đồng và Công ước Berne; Hoàng Thúy Toàn (1996) với "Bước đầu tìm hiểu lịch sử sách dịch của nước ta"; Trần Văn Hải (2001) trong giáo trình "Biên tập các loại sách chuyên ngành tập II"; Ngô Tự Lập (2005) với "Minh triết của giới hạn"; Phạm Thị Thu (2008) về xuất bản tài liệu dịch trong bối cảnh toàn cầu hóa; Vũ Thị Ngọc Thùy (2014) với đề tài "Biên tập sách dịch"; Lê Hùng Tiến (2018) về phê bình đánh giá dịch thuật và khảo sát thực tiễn dịch Anh - Việt.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước phần lớn tiếp cận cơ sở lý luận chung của ngành xuất bản hoặc chuyên sâu về kỹ thuật ngôn ngữ học dịch thuật, chỉ bàn luận đơn lẻ về bản quyền, dịch giả hoặc biên tập một tác phẩm cụ thể. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các khâu của quy trình xuất bản sách dịch (từ tổ chức đề tài, mua bản quyền, dịch thuật, hiệu đính, biên tập, đến truyền thông và phát hành) trên cơ sở khảo sát thực chứng tại các đơn vị xuất bản Việt Nam sau khi gia nhập Công ước Berne. Luận án điền vào khoảng trống này thông qua việc xây dựng khung lý thuyết chuyên biệt và khảo sát thực tế giai đoạn 2017 - 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về hoạt động xuất bản. Bên cạnh đó, luận án vận dụng lý thuyết xuất bản học và lý thuyết dịch thuật theo quan điểm hệ thống.
Khung lý thuyết nghiên cứu của luận án xác định mối quan hệ giữa các thành tố:
- Các yếu tố khách quan: Chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội; nhu cầu của độc giả; sự phát triển của khoa học - kỹ thuật - công nghệ.
- Các yếu tố chủ quan: Năng lực của các đơn vị xuất bản; nhân lực trong xuất bản sách dịch.
- Nội dung vấn đề xuất bản sách dịch: Tổ chức bản thảo dịch; biên tập bản thảo dịch; truyền thông sách dịch; phát hành sách dịch.
- Mục tiêu hoạt động: Kênh giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và thế giới; nâng cao dân trí và đời sống văn hóa tinh thần; tạo nguồn thu kinh tế cho các đơn vị xuất bản.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả kết hợp cách tiếp cận định tính và định lượng:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khảo cứu các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, công trình khoa học trong và ngoài nước.
- Phương pháp khảo sát, thống kê thứ cấp: Khảo sát toàn bộ dữ liệu sách dịch trong Thư mục Quốc gia Việt Nam 3 năm (2017, 2018, 2019) do Thư viện Quốc gia Việt Nam lưu chiểu. Thu thập các chỉ số: tên sách, tác giả, người dịch, quốc gia, đơn vị xuất bản, đối tác liên kết, năm xuất bản, lần tái bản, số trang, kích thước, giá thành, số lượng bản in và tên nguyên bản.
- Phương pháp định lượng điều tra chọn mẫu: Sử dụng bảng hỏi Anket khảo sát ý kiến đánh giá của độc giả về sách dịch. Thu về 485 phiếu, sau xử lý làm sạch còn 446 phiếu đạt chuẩn, phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phân tích chiến dịch truyền thông "Hội sách nửa giá" của Công ty Cổ phần Sách AlphaBooks và khảo sát các xuất bản phẩm dịch cụ thể tại các đơn vị nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 12 cuộc phỏng vấn sâu chia làm 3 nhóm đối tượng:
- Nhóm 1 (5 trường hợp): Lãnh đạo, nhà quản lý tại các đơn vị xuất bản.
- Nhóm 2 (4 trường hợp): Biên tập viên sách dịch và dịch giả.
- Nhóm 3 (3 trường hợp): Chuyên gia trong lĩnh vực xuất bản.
Bảng tổng hợp nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập của luận án:
| Phương pháp |
Nguồn dữ liệu / Khách thể khảo sát |
Quy mô mẫu / Phạm vi dữ liệu |
Mục đích xử lý |
| Thống kê thư mục |
Thư mục Quốc gia Việt Nam tại Thư viện Quốc gia |
Sách dịch lưu chiểu 3 năm (2017, 2018, 2019) |
Thống kê số đầu sách, ngôn ngữ, thể loại, bản in |
| Điều tra bảng hỏi (Anket) |
Công chúng độc giả đọc sách dịch |
Phát ra 485 phiếu, thu về 446 phiếu hợp lệ |
Xử lý bằng phần mềm SPSS để đánh giá hành vi, thị hiếu |
| Phỏng vấn sâu (PVS) |
Quản lý ĐVXB, biên tập viên, dịch giả, chuyên gia |
12 trường hợp (5 quản lý, 4 BTV/dịch giả, 3 chuyên gia) |
Thu thập đánh giá chuyên môn sâu về quy trình và rào cản |
| Nghiên cứu trường hợp |
Công ty Cổ phần Sách AlphaBooks |
Chiến dịch "Hội sách nửa giá" và các ca xuất bản |
Đánh giá chi phí, cách thức và hiệu quả truyền thông sách dịch |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này trình bày bức tranh tổng thể về các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến 3 mảng: xuất bản, dịch thuật và xuất bản sách dịch. Tác giả phân tích những kết quả đã đạt được từ các công trình nghiên cứu trước đây: làm rõ khái niệm cơ bản, vai trò văn hóa, các quy định pháp luật và một số khâu nghiệp vụ chuyên môn. Đồng thời, chương 1 khẳng định khoảng trống học thuật: chưa có công trình nào đánh giá thực trạng xuất bản sách dịch một cách hệ thống ở các đơn vị xuất bản cụ thể trong bối cảnh thực thi Công ước Berne và sự thay đổi của kinh tế thị trường số hóa. Từ đó, tác giả xác định nhiệm vụ luận án cần giải quyết là xây dựng khung lý thuyết toàn diện, khảo sát thực tiễn các đơn vị xuất bản tiêu biểu và đề xuất giải pháp đồng bộ.
Chương 2: Xuất bản sách dịch - Những vấn đề lý luận cơ bản
Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng:
- Khái niệm xuất bản: Căn cứ Luật Xuất bản 2012 và giáo trình của Trần Văn Hải (2007), xuất bản được hiểu theo nghĩa rộng là chuỗi hoạt động biên tập, in ấn và phát hành; theo nghĩa hẹp là công việc tổ chức, biên tập bản thảo tại đơn vị xuất bản nhằm thực hiện 3 chức năng: tri thức (văn hóa), mỹ thuật - kỹ thuật và thương mại.
- Khái niệm dịch và sách dịch: Tiếp thu quan điểm của Jeremy Munday (2009), dịch là quá trình chuyển thông điệp từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ đích với sự tương đương tối đa về nội dung và chức năng tác phẩm. Sách dịch là sản phẩm văn bản của hoạt động dịch thuật sau khi trải qua các công đoạn biên tập, chế bản, in ấn và phát hành ra công chúng.
- Phân loại sách dịch: Sách dịch xuôi (dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt) và sách dịch ngược (dịch từ tác phẩm trong nước sang tiếng nước ngoài); dịch trực tiếp (từ nguyên bản) và dịch gián tiếp (qua ngôn ngữ trung gian, văn bản lấy ví dụ quá trình dịch Kinh Thánh qua nhiều thứ tiếng); dịch lần đầu và dịch lại (văn bản dẫn chứng tác phẩm "Hoàng tử bé" của Saint-Exupéry tính đến năm 2014 đã có 11 dịch giả dịch sang tiếng Việt, trong đó có các bản dịch của Bùi Giáng năm 2006, Nguyễn Tấn Đại năm 2005, Châu Diên năm 2007, Nguyễn Trường Tân năm 2007); phân loại theo thể loại xuất bản phẩm.
- Khái niệm "Vấn đề": Dẫn theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, 2011), vấn đề là điều cần phải được nghiên cứu giải quyết. Vấn đề xuất bản sách dịch là những vướng mắc, đòi hỏi cần giải quyết phát sinh từ khâu tổ chức bản thảo đến khâu phát hành và tiếp nhận của bạn đọc.
- Tỷ lệ sách dịch quốc tế: Luận án dẫn số liệu tỷ lệ sách dịch trên thị trường các nước: Anh chiếm 2%, Mỹ chiếm 3%, Thổ Nhĩ Kỳ chiếm 40% và Slovenia chiếm 70%.
- Vai trò xuất bản sách dịch: Là kênh giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và thế giới; tác động đến hệ tư tưởng và sự phát triển ngôn ngữ dân tộc (dẫn chứng bản dịch Kinh Thánh của Martin Luther đặt nền móng cho tiếng Đức hiện đại; lịch sử dịch kinh Phật từ tiếng Phạn ở Luy Lâu vào thế kỷ VI; sự phát triển của chữ Nôm, chữ Quốc ngữ giai đoạn 1930 - 1945 và công cuộc Việt hóa chương trình giáo dục gắn với Hoàng Xuân Hãn); làm giàu kho tàng tri thức khoa học xã hội và kỹ thuật.
- Bốn đặc điểm của xuất bản sách dịch:
- Nguồn bản thảo là sách có sẵn: Quá trình xuất bản mang tính kế thừa nguyên tác, dịch giả là người tái tạo văn bản nghệ thuật trong sự phụ thuộc vào tác phẩm gốc.
- Cộng tác viên xuất bản là dịch giả: Đơn vị xuất bản có thể tổ chức dịch thử, thẩm định năng lực người dịch trước khi ký hợp đồng dịch thuật chuyên biệt.
- Bắt buộc có hợp đồng mua bán bản quyền: Tuân thủ Công ước Berne (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26/10/2004), đơn vị xuất bản phải đàm phán hợp pháp với chủ sở hữu quyền tác giả nước ngoài trước khi dịch và in ấn.
- Biên tập bản thảo dịch đòi hỏi đối chiếu bản gốc: Quy trình biên tập có sự tham gia của người hiệu đính để kiểm tra, sửa chữa sai lệch so với nguyên bản.
- Cơ sở chính trị, pháp lý: Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 25/8/2004 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản; Luật Xuất bản 2012; Nghị định số 18/2014/NĐ-CP quy định về chế độ nhuận bút cho xuất bản phẩm dịch.
Chương 3: Thực trạng vấn đề xuất bản sách dịch ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 công bố kết quả khảo sát thực tế tại 5 đơn vị (NXB Thế giới, NXB Kim Đồng, NXB Văn học, NXB Trẻ và Công ty Cổ phần Sách AlphaBooks) cùng dữ liệu Thư mục Quốc gia giai đoạn 2017 - 2019:
- Về cơ cấu số lượng và ngôn ngữ: Sách dịch xuôi chiếm tỷ lệ áp đảo hoàn toàn, trong khi số lượng sách dịch ngược để giới thiệu văn hóa Việt Nam ra nước ngoài còn rất hạn chế. Về ngôn ngữ nguồn, sách dịch từ tiếng Anh chiếm vị trí áp đảo, kế tiếp là tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Nhật Bản và tiếng Hàn Quốc.
- Về cơ cấu thể loại: Sách dịch tập trung chủ yếu ở mảng sách văn học, sách kinh tế - quản trị kinh doanh, kỹ năng sống và sách thiếu nhi. Các thể loại sách khoa học kỹ thuật chuyên sâu, triết học và chính trị - xã hội chiếm tỷ trọng thấp.
- Hoạt động liên kết xuất bản: Tỷ lệ sách dịch được thực hiện qua hình thức liên kết giữa nhà xuất bản với các công ty sách tư nhân chiếm tỷ trọng lớn tại các đơn vị khảo sát. Cơ chế này giúp gia tăng nhanh số lượng đầu sách nhưng cũng nảy sinh tình trạng buông lỏng thẩm định nội dung, phó mặc khâu biên dịch cho đối tác tư nhân.
- Chất lượng dịch thuật và công tác biên tập: Khảo sát thực tế và ý kiến chuyên gia chỉ ra nhiều hạn chế về chất lượng bản thảo dịch. Tồn tại các lỗi sai về ngữ nghĩa, thuật ngữ chuyên môn và phong cách diễn đạt do trình độ của một bộ phận dịch giả chưa đạt yêu cầu. Đội ngũ biên tập viên tại nhiều đơn vị xuất bản chưa đủ năng lực ngoại ngữ để đọc đối chiếu trực tiếp với nguyên bản tiếng nước ngoài. Khâu hiệu đính chưa được thực hiện nghiêm túc hoặc bị cắt bỏ nhằm giảm giá thành sản xuất. Định mức nhuận bút theo Nghị định 18/2014/NĐ-CP chưa khuyến khích được đội ngũ dịch giả giỏi gắn bó lâu dài.
- Tình trạng in lậu và vi phạm bản quyền: Số liệu khảo sát 446 độc giả cho thấy tỷ lệ mua phải sách dịch in lậu, in giả chiếm tỷ lệ đáng kể do giá thành rẻ và sự phân phối tràn lan trên các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội. Điều này gây thất thoát doanh thu cho các đơn vị làm sách chân chính.
- Khâu truyền thông và phát hành: Hoạt động truyền thông sách dịch đã có bước tiến bộ qua các chiến dịch cụ thể (như "Hội sách nửa giá" của Alpha Books giúp tối ưu hóa chi phí quảng bá và tăng khả năng tiếp cận độc giả), tuy nhiên nhìn chung kinh phí đầu tư cho truyền thông của nhiều nhà xuất bản truyền thống còn thấp, các kênh giới thiệu sách còn thụ động.
Chương 4: Xu thế phát triển và giải pháp cho vấn đề xuất bản sách dịch ở Việt Nam hiện nay
Chương này phân tích các xu thế vận động của xuất bản sách dịch: xu thế toàn cầu hóa thông tin, sự chuyển dịch từ sách in truyền thống sang xuất bản điện tử, xuất bản âm thanh (audiobook), ứng dụng in theo yêu cầu (POD) và sự cạnh tranh gay gắt từ mạng xã hội.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp căn bản:
- Nhóm giải pháp quản lý nhà nước:
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách và pháp luật liên quan đến bản quyền xuất bản;
- Tăng cường hiệu lực thanh tra, xử lý nghiêm minh các hành vi in lậu, phát tán sách lậu trên môi trường kỹ thuật số;
- Ban hành cơ chế tài trợ, đặt hàng dịch thuật đối với các công trình tri thức tinh hoa thế giới và có chính sách hỗ trợ kinh phí dịch ngược các tác phẩm văn hóa Việt Nam ra tiếng nước ngoài;
- Điều chỉnh quy định khung mức thù lao, nhuận bút dịch thuật phù hợp với biến động thị trường.
- Nhóm giải pháp dành cho các đơn vị xuất bản:
- Nâng cao năng lực thẩm định tác phẩm gốc ngay từ khâu lập kế hoạch đề tài;
- Chuyên nghiệp hóa công tác tuyển chọn cộng tác viên dịch thuật; thực hiện nghiêm túc quy trình biên tập đối chiếu bản gốc và bắt buộc có chuyên gia hiệu đính;
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ và kỹ năng nghiệp vụ biên tập sách dịch cho đội ngũ biên tập viên cơ hữu;
- Đổi mới chiến lược truyền thông đa kênh, kết hợp tiếp thị số và phân phối trực tuyến;
- Từng bước mở rộng khai thác bản quyền sách dịch ngược để xuất khẩu xuất bản phẩm ra thị trường quốc tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu chuyên biệt về xuất bản sách dịch trong điều kiện Việt Nam. Công trình làm rõ các khái niệm, phân loại sách dịch, xác định 4 đặc điểm cốt lõi và chu trình nghiệp vụ khép kín của hoạt động xuất bản sách dịch; đồng thời hệ thống hóa các yếu tố khách quan và chủ quan chi phối chất lượng xuất bản phẩm dịch.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng thông qua thống kê Thư mục Quốc gia giai đoạn 2017 - 2019, khảo sát thực tế tại 5 đơn vị xuất bản và kết quả xử lý 446 phiếu hỏi độc giả bằng phần mềm SPSS, cùng 12 phỏng vấn sâu. Những tư liệu và con số thống kê này phản ánh chân thực thực trạng mất cân đối giữa sách dịch xuôi và sách dịch ngược, sự thiên lệch về ngôn ngữ (tiếng Anh chiếm đa số) và thể loại (chủ yếu là văn học, kỹ năng, kinh tế), cũng như những kẽ hở trong khâu liên kết xuất bản, tình trạng in lậu và sự thiếu hụt nhân lực biên tập đối chiếu.
Hệ thống kiến nghị và giải pháp do luận án đề xuất mang tính đồng bộ, trực tiếp hướng vào hai chủ thể: cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản và các nhà xuất bản, doanh nghiệp liên kết, nhằm giải quyết các tồn tại cụ thể trong điều kiện thực thi luật pháp sở hữu trí tuệ tại Việt Nam hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát thực tế tại các đơn vị xuất bản tập trung vào 5 cơ sở (4 nhà xuất bản lớn và 1 công ty sách tư nhân), do đó chưa bao quát hết đặc thù của các nhà xuất bản chuyên ngành kỹ thuật, y học hoặc các đơn vị xuất bản địa phương.
- Dữ liệu khảo sát thư mục và thị trường dừng lại ở mốc thời gian từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/12/2019, chưa phản ánh đầy đủ những biến động sâu sắc của thị trường xuất bản trong và sau đại dịch toàn cầu cũng như sự bùng nổ của các nền tảng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ dịch thuật gần đây.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng diện khảo sát sang các nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, giáo dục và công nghệ để so sánh đặc tính dịch thuật chuyên ngành.
- Nghiên cứu sâu tác động của các công cụ dịch máy và trí tuệ nhân tạo đến quy trình biên tập, hiệu đính và bản quyền trong hoạt động xuất bản sách dịch.
- Xây dựng mô hình chuỗi giá trị và cơ chế chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy xuất bản sách dịch ngược của Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Xuất bản, Báo chí, Ngôn ngữ học ứng dụng và Truyền thông: Cung cấp khung lý thuyết, quy trình nghiệp vụ và phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa thư mục học, điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia.
- Giảng viên các cơ sở đào tạo chuyên ngành: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho các học phần Lý luận nghiệp vụ xuất bản, Biên tập sách dịch, Bản quyền xuất bản.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Ban Tuyên giáo, Cục Xuất bản, In và Phát hành): Sử dụng các căn cứ thực tế và số liệu phản ánh về in lậu, vướng mắc liên kết xuất bản, bất cập nhuận bút Nghị định 18/2014/NĐ-CP để hoàn thiện chính sách quản lý ngành.
- Ban lãnh đạo, biên tập viên các nhà xuất bản và đơn vị liên kết xuất bản: Tham khảo các tiêu chí đánh giá chất lượng bản dịch, quy trình tổ chức bản thảo, phương thức quản lý người dịch, cơ chế hiệu đính và cách thức triển khai truyền thông sách dịch.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án khảo sát thực tế tại những đơn vị xuất bản cụ thể nào và trong giai đoạn thời gian nào?
Luận án tiến hành khảo sát thực tế tại 5 đơn vị xuất bản, bao gồm 4 nhà xuất bản nhà nước (Nhà xuất bản Thế giới, Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Văn học, Nhà xuất bản Trẻ) và 1 doanh nghiệp liên kết tư nhân là Công ty Cổ phần Sách AlphaBooks. Dữ liệu thực tế được thu thập và thống kê trong khoảng thời gian 3 năm, từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/12/2019.
-
Hoạt động xuất bản sách dịch có những đặc điểm cơ bản nào khác biệt so với sách sáng tác thông thường?
Theo kết quả nghiên cứu của luận án, xuất bản sách dịch có 4 đặc điểm cơ bản khác biệt: (1) Nguồn bản thảo là sách có sẵn, mang tính chất tái sáng tạo dựa trên văn bản gốc; (2) Cộng tác viên chủ lực là dịch giả, đòi hỏi quy trình thẩm định mẫu dịch thử trước khi ký hợp đồng dịch; (3) Bắt buộc phải có hợp đồng mua bán bản quyền tác phẩm hợp pháp với chủ sở hữu nước ngoài trước khi tiến hành dịch và in ấn theo Công ước Berne; (4) Khâu biên tập đòi hỏi phải đối chiếu trực tiếp với bản gốc tiếng nước ngoài và thường xuyên cần sự tham gia của người hiệu đính chuyên môn.
-
Luận án đã thu thập và xử lý các nguồn dữ liệu định lượng nào?
Tác giả đã thu thập dữ liệu định lượng từ hai nguồn chính: (1) Thống kê toàn bộ các đầu sách dịch được lưu chiểu trong Thư mục Quốc gia Việt Nam trong 3 năm 2017, 2018, 2019 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam; (2) Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi Anket đối với công chúng độc giả, phát ra 485 phiếu, thu về và làm sạch được 446 phiếu trả lời hợp lệ, sau đó tiến hành phân tích số liệu thống kê bằng phần mềm SPSS.
-
Thực trạng cơ cấu thể loại và ngôn ngữ sách dịch ở Việt Nam trong giai đoạn khảo sát bộc lộ những hạn chế gì?
Kết quả khảo sát chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng trên hai phương diện: Về chiều hướng dịch, sách dịch xuôi chiếm tỷ trọng áp đảo, còn sách dịch ngược để quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài còn rất ít. Về ngôn ngữ và thể loại, sách dịch từ tiếng Anh chiếm tỷ lệ vượt trội so với các thứ tiếng khác; nội dung tập trung chủ yếu vào sách văn học, kinh tế, kỹ năng sống và sách thiếu nhi, trong khi sách khoa học kỹ thuật và học thuật chuyên sâu chiếm tỷ lệ rất thấp.
-
Đâu là các nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng một số sách dịch tại Việt Nam chưa cao theo phân tích của tác giả?
Tác giả xác định các nguyên nhân chính gồm: Năng lực của một bộ phận dịch giả còn hạn chế về vốn từ và hiểu biết văn hóa; đội ngũ biên tập viên tại đơn vị xuất bản thiếu kỹ năng ngoại ngữ chuyên sâu để đọc đối chiếu bản gốc; nhiều đơn vị bỏ qua hoặc xem nhẹ khâu hiệu đính nhằm cắt giảm chi phí; tình trạng buông lỏng quản lý trong mô hình liên kết xuất bản; và khung nhuận bút theo quy định nhà nước chưa đủ khuyến khích những dịch giả có uy tín.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Vấn đề xuất bản sách dịch ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Vũ Thị Ngọc Thuỳ là công trình nghiên cứu toàn diện về hoạt động xuất bản sách dịch dưới góc độ lý luận và thực tiễn chuyên ngành xuất bản. Dựa trên các dữ liệu thực chứng từ Thư mục Quốc gia 2017 - 2019, khảo sát 5 đơn vị xuất bản tiêu biểu và điều tra chọn mẫu 446 độc giả, luận án đã làm sáng tỏ bức tranh thực trạng, chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến các bất cập trong khâu tổ chức bản thảo, biên tập, bản quyền và truyền thông sách dịch. Các giải pháp do luận án đề xuất cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho cơ quan quản lý và các cơ sở xuất bản nhằm nâng cao chất lượng sách dịch tại Việt Nam.