Tổ Chức Không Gian Các Quảng Trường Đô Thị Khu Trung Tâm Thành Phố Vientiane, Lào

Luận án nghiên cứu về tổ chức không gian quảng trường đô thị trung tâm Vientiane, Lào. Giải pháp quy hoạch, thiết kế quảng trường hiệu quả, bền vững.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2024

289
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Án Tổ Chức Không Gian Quảng Trường Vientiane

Trong bối cảnh đô thị hóa ngày càng gia tăng, nhu cầu hưởng thụ cả về vật chất lẫn tinh thần của người dân đô thị cũng tăng lên. Không gian công cộng Vientiane, đặc biệt là quảng trường đô thị, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu này. Luận án này tập trung nghiên cứu về tổ chức không gian của các quảng trường tại khu trung tâm Vientiane, Lào, dưới góc độ hành vi con người và bối cảnh đô thị mới. Mục tiêu là đảm bảo và nâng cao chất lượng không gian công cộng, khuyến khích giao lưu, sinh hoạt cộng đồng, và thúc đẩy các hoạt động kinh tế, văn hóa, môi trường. Theo tài liệu gốc, các quảng trường công cộng không chỉ làm tăng đáng kể đời sống của đô thị mà còn đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, du lịch và là trung tâm cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, góp phần tạo nên điểm nhấn cho thành phố. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các khu trung tâm đô thị đang gặp nhiều thách thức.

1.1. Khái niệm và định nghĩa về Quảng Trường Đô Thị

Luận án làm rõ các khái niệm liên quan đến không gian đô thị, không gian công cộng, và đặc biệt là quảng trường đô thị. Việc hiểu rõ các khái niệm này là nền tảng quan trọng để phân tích và đánh giá tổ chức không gian của các quảng trường. Không gian công cộng được xem là yếu tố then chốt để kết nối cộng đồng. Tài liệu gốc nhấn mạnh vai trò của các quảng trường trong việc tạo ra một môi trường sống thoải mái, kích thích sự tương tác giữa các cư dân, và tăng cường ý thức cộng đồng. Nghiên cứu này tập trung vào việc khám phá các yếu tố thiết kế có thể thúc đẩy các tương tác xã hội tích cực trong không gian quảng trường.

1.2. Vai trò của Quảng Trường Đô Thị trong xã hội Lào

Quảng trường không chỉ là một không gian vật lý mà còn là một biểu tượng văn hóa và xã hội quan trọng. Tại Lào, quảng trường thường gắn liền với các sự kiện lịch sử, tôn giáo, và các hoạt động cộng đồng. Nghiên cứu này tìm hiểu về vai trò của quảng trường trong việc duy trì và phát huy di sản văn hóa Vientiane. Ví dụ, Quảng trường That Luang không chỉ là một địa điểm du lịch mà còn là nơi diễn ra các lễ hội Phật giáo quan trọng. Theo tài liệu, quảng trườngchìa khóa khôi phục các khu trung tâm đang trầm lắng, mang lại sức sống mới cho đô thị.

II. Thách Thức Tổ Chức Không Gian Quảng Trường Trung Tâm Vientiane

Thành phố Vientiane đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển đô thị, đặc biệt là việc tổ chức không gian công cộngquảng trường. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng, tăng trưởng dân số, và thiếu quy hoạch đồng bộ đã gây ra nhiều vấn đề như ô nhiễm môi trường, thiếu không gian xanh, và sự suy giảm chất lượng không gian công cộng. Một số quảng trường bị chia cắt hoặc chiếm dụng cho mục đích cá nhân, làm giảm diện tích và hiệu quả sử dụng. Theo tài liệu gốc, quy hoạch đô thị và phát triển cơ sở hạ tầng đô thị không theo kịp nhu cầu thực tế, ảnh hưởng đến chất lượng sống của người dân. Do đó, cần có những nghiên cứu nghiêm túc về việc quy hoạch và kiến trúc các quảng trường sinh động, hấp dẫn, tôn trọng những khoảng hở quý trong thành phố, đem lại sức sống cho đô thị.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chất Lượng Quảng Trường

Nghiên cứu xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng không gian quảng trường, bao gồm chính sách quản lý, nhận thức của người dân, kết nối với các khu vực xung quanh, và đặc điểm kiến trúc của không gian. Theo tài liệu gốc, các quảng trường hiện nay đang được sử dụng kém hiệu quả do nhiều nguyên nhân khác nhau. Cần có sự nghiên cứu sâu về đặc điểm và những đặc điểm kiến tạo của không gian. Tình trạng này đòi hỏi cần phải nghiên cứu sâu về không gian công cộngquảng trường.

2.2. Sự Cần Thiết Nghiên Cứu Tổ Chức Không Gian tại Vientiane

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Lào đang tích cực xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong các đô thị để đáp ứng nhu cầu phát triển. Tuy nhiên, việc phát triển không gian công cộng chưa được quan tâm đúng mức trong quy hoạch đô thị. Việc nghiên cứu các giải pháp tổ chức không gian công cộng cho thành phố dựa trên các luận điểm phát triển đô thị và kinh nghiệm của các đô thị có tính chất tương đồng là điều cần thiết. Điều này không chỉ làm đẹp cho thành phố mà còn phản ánh quá trình biến đổi bền vững của đô thị.

III. Phương Pháp Xây Dựng Khung Đánh Giá Chất Lượng Quảng Trường Vientiane

Luận án xây dựng một khung đánh giá chất lượng không gian quảng trường đô thị áp dụng cho trường hợp của Vientiane. Khung này bao gồm các tiêu chí về địa điểm, vật chất, hành vi, tâm lýquản lý. Khía cạnh địa điểm xem xét vị trí, khả năng tiếp cận và kết nối của quảng trường. Khía cạnh vật chất tập trung vào thiết kế, cảnh quan, và các tiện ích. Khía cạnh hành vitâm lý đánh giá mức độ thoải mái, an toàn, và khả năng thúc đẩy tương tác xã hội. Khía cạnh quản lý xem xét hiệu quả của các chính sách và quy định liên quan đến quảng trường. Theo tài liệu gốc, mục tiêu của nghiên cứu là xây dựng khung đánh giá chất lượng không gian quảng trường đô thị trường hợp dụng cho các quảng trường Vientiane.

3.1. Các Tiêu Chí Đánh Giá Chất Lượng Không Gian

Các tiêu chí đánh giá bao gồm khía cạnh địa điểm, tập trung vào vị trí và khả năng kết nối của quảng trường với không gian đô thị xung quanh. Tiêu chí về vật chất xem xét chi tiết thiết kế, vật liệu, cảnh quan và các tiện ích công cộng. Khía cạnh về hành vitâm lý tập trung vào sự thoải mái, an toàn, khả năng thúc đẩy tương tác xã hội. Tiêu chí quản lý đánh giá tính hiệu quả của các quy định và chính sách quản lý không gian.

3.2. Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu và Phân Tích

Luận án sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu như khảo sát điều tra, phỏng vấn chuyên gia, phân tích tài liệu và quan sát thực địa. Dữ liệu thu thập được phân tích bằng các phương pháp thống kê, mô hình hóa không gian và đánh giá định tính. Phương pháp khảo sát được thực hiện để thu thập thông tin về thực trạng và nhu cầu sử dụng của người dân. Phỏng vấn chuyên gia được sử dụng để thu thập ý kiến và kiến thức chuyên môn.

IV. Giải Pháp Tổ Chức Không Gian Quảng Trường Đô Thị Bền Vững Vientiane

Luận án đề xuất các giải pháp tổ chức không gian quảng trường đô thị theo hướng bền vững, phù hợp với điều kiện của Vientiane. Các giải pháp này bao gồm việc tạo ra các không gian đa chức năng, tăng cường kết nối với các khu vực xung quanh, bảo tồn di sản văn hóa, và sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia cộng đồng trong quá trình thiết kế và quản lý quảng trường. Theo tài liệu gốc, cần có quan điểm chung cho việc chức không gian Quảng trường thành phố Vientiane. Cần đưa ra các quan niệm chức năng không gian Quảng trường theo xu hướng bền vững hiện nay.

4.1. Mô Hình Tổ Chức Không Gian Quảng Trường Đa Chức Năng

Mô hình này hướng đến việc tạo ra các quảng trường có thể đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của người dân, từ vui chơi, giải trí, mua sắm đến tổ chức các sự kiện văn hóa và cộng đồng. Các quảng trường đa chức năng cần có thiết kế linh hoạt, có thể dễ dàng chuyển đổi để phù hợp với các hoạt động khác nhau. Ví dụ, một quảng trường có thể được sử dụng làm nơi tổ chức chợ phiên vào cuối tuần hoặc làm sân khấu cho các buổi biểu diễn nghệ thuật vào buổi tối.

4.2. Tăng Cường Kết Nối Giữa Quảng Trường và Khu Vực Xung Quanh

Việc kết nối quảng trường với các khu vực xung quanh là rất quan trọng để tăng cường khả năng tiếp cận và sử dụng của người dân. Các giải pháp bao gồm việc tạo ra các tuyến đường đi bộ và xe đạp an toàn, cải thiện hệ thống giao thông công cộng, và xây dựng các không gian xanh kết nối quảng trường với công viên và khu dân cư. Việc tạo ra một mạng lưới không gian công cộng liên kết sẽ giúp tăng cường tính bền vững của đô thị.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Giải Pháp Cụ Thể Cho Quảng Trường Vientiane

Luận án áp dụng các kết quả nghiên cứu để đề xuất các giải pháp cụ thể cho các quảng trường trung tâm của Vientiane, như Quảng trường PatuxaiQuảng trường That Luang. Các giải pháp bao gồm việc cải tạo cảnh quan, nâng cấp cơ sở hạ tầng, và tổ chức các hoạt động văn hóa và cộng đồng. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa và tạo ra các không gian thân thiện với người dân. Theo tài liệu gốc, việc tổ chức KGQTĐT cần xem xét các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, tôn giáo, công nghệ vật liệu, con người.

5.1. Cải Tạo Cảnh Quan và Nâng Cấp Cơ Sở Hạ Tầng

Việc cải tạo cảnh quan bao gồm việc trồng thêm cây xanh, tạo ra các khu vực bóng mát, và sử dụng các vật liệu tự nhiên. Nâng cấp cơ sở hạ tầng bao gồm việc cải thiện hệ thống chiếu sáng, xây dựng nhà vệ sinh công cộng, và cung cấp các tiện ích cho người khuyết tật. Việc tạo ra một môi trường thoải mái và an toàn là rất quan trọng để thu hút người dân đến quảng trường.

5.2. Tổ Chức Các Hoạt Động Văn Hóa và Cộng Đồng

Việc tổ chức các hoạt động văn hóa và cộng đồng, như các buổi biểu diễn âm nhạc, các lễ hội truyền thống, và các hoạt động thể thao, sẽ giúp tạo ra một không gian sống động và thu hút người dân đến quảng trường. Các hoạt động này cũng giúp tăng cường ý thức cộng đồng và thúc đẩy sự tương tác giữa các thành viên trong xã hội.

VI. Kết Luận Tương Lai Phát Triển Quảng Trường Đô Thị Vientiane

Luận án kết luận rằng việc tổ chức không gian quảng trường đô thị một cách hiệu quả và bền vững là rất quan trọng đối với sự phát triển của Vientiane. Các giải pháp đề xuất trong luận án có thể giúp cải thiện chất lượng không gian công cộng, tăng cường sự tham gia cộng đồng, và thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Luận án kiến nghị rằng các cơ quan chức năng cần có các chính sách và quy định rõ ràng để quản lý và phát triển quảng trường đô thị một cách bền vững. Theo tài liệu gốc, cần bàn luận hệ thống hóa các nguyên tắc quy hoạch chức năng không gian hệ thống Quảng trường trung tâm thành phố Vientiane. Bàn luận khả năng ứng dụng của các giải pháp tạo không gian Quảng trường trung tâm thành phố Vientiane.

6.1. Đề Xuất Chính Sách và Quy Định

Các chính sách và quy định cần bao gồm việc bảo vệ di sản văn hóa, kiểm soát việc xây dựng xung quanh quảng trường, và đảm bảo quyền tiếp cận công bằng cho tất cả mọi người. Các chính sách này cũng cần khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong quá trình quản lý và phát triển quảng trường.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các giải pháp đề xuất trong luận án, nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đối với quảng trường đô thị, và phát triển các mô hình quản lý quảng trường thông minh sử dụng công nghệ thông tin.

23/04/2025
Tổ chức không gian các quảng trường đô thị khu trung tâm thành phố vientiane lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE QUANG TRUONG ĐÔ THI - VAN DE CHAT LUQNG KHONG GIAN TRONG BOI CANH THANH PHO VIENTIANE - LAO Mục tiêu chương tổng quan là để khăng định sự cần thiết và không trùng lắp cũng như tính tin cậy của hướng nghiên cứu. Do vậy, sẽ bao gồm một số nội dung sau ~ Khái niệm và thuật ngữ liên quan; - Tổng quan về Quảng trường đô thị trên thế giới - lịch sử, phân loại, xu thế phát triển; ~ Tổng quan về thành phó Vientiane và hệ thống Quảng trường đô thị trung tâm thanh phé Vientiane - Lao; ~ Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Những kh: ịnh nghĩa có liên quan đến đối tượng nghiên cứu Phần nội dung này tập trung vào định nghĩa của Quảng trường đô thị trong bối cảnh không gian. Để làm được điều này, phần nghiên cứu tập trung vào không gian đô thị, không gian công cộng và cuối cùng là Quảng trường đô thị.

Không gian đô thị Tìm hiểu "Không gian đô thị là gì?” là nội dung rt quan trọng trước khi trình bày ý nghĩa của một Quảng trường đô thị. Nói cách khác, điều quan trọng là phải hiểu bản chất của không gian đô thị để biến nó thành một Quảng trường đô thị. Theo Norberg-Schul= 1979 [SI, tr.11] định nghĩa không gian là "tổ chức ba chiều của các phần tử", "một hình học ba chiều". Mặt khác, không gian đô thị trực tiếp liên quan đến con người, vật thê và sự kiện, "nơi mà các đường phó, Quảng trường, công viên, sân chơi và vườn là những khoảng trống đã được giới hạn hoặc được định nghĩa để tạo ra một không gian kín" [69, tr.3] bởi các công trình xung quanh (các tòa nhà, tượng dai.

Tuong tu, theo Trancik [99, tr.63] va Norberg- Schulz [81, tr.11] chi ra "việc tạo ra tường bao" như một yếu tố quan trọng để cảm 10 thụ về không gian. Nhiều học giả khác nhau đã xác định không gian đô thị với một số quan điểm khác nhau. Theo Giedion [50] xác định khái niệm không gian theo quan điểm lịch sử với ba loại. Loại không gian đầu tiên bao gồm khái niệm không gian Ai Cập, Sumer và Hy Lạp được tạo ra bởi sự tương tác giữa các khối.

Loại thứ hai bắt đầu với người La Mã, có một khái niệm không gian giống như không gian nội thất. Loại thứ ba diễn ra trong thế kỷ 20, có một khái niệm về "chất lượng không gian phát triển của các tòa nhà tự do". Các học giả hậu hiện đại đã chỉ trích khái niệm không gian đô thị hiện đại (trong thể loại thứ ba) là "vô hạn và trừu tượng" [69, tr.9] và các tòa nhà của thành phố hiện đại như là "những khối hình ảo, trôi nồi trên biên không gian vô định hình" [50, tr. Kevin Lynch (1960) đã xác định các thành phố và không gian đô thị thông qua Š yếu tố nôi bật: con đường, các cạnh, các khu vực, các nút và các điểm mốc; liên quan đến cả hình thức vật chất và các khía cạnh biểu tượng.

Lynch đưa ra các yếu tố cung cấp một hình ảnh hoàn chỉnh về thành phố: "Các khu vực được cấu trúc với các nút, được xác định bởi các cạnh, bị xuyên qua bởi các đường dẫn, và rải rác với các điểm móc. các yếu tố thường xuyên chồng lên nhau và xuyên vào nhau “[50, tr90], [67, tr.223] đã xác định không gian đô thị là "không gian xã hội" và "không gian xây dựng". Trong khi không gian xây dựng tập trung vào không gian thực và "hình thái học của không gian, cách mà không gian ảnh hưởng đến nhận thức của chúng ta, cách mà không gian được sử dụng và nêu bật ý nghĩa"; khong gian xã hội đề cập đến "hàm ý không gian của các thể chế xã hội". Colquhoun nói rằng sự phân biệt truyền thống của không gian xã hội và không gian thực phụ thuộc vào "vai trò của các chức năng xã hí tương tự như cách tiêp cận hiện đại: "hình thức theo chức năng".

Về mặt nà ng chỉ trích các học giả hiện đại vi họ coi thành. phố là sản phẩm phụ của các chức năng xã hội và cuối cùng là tạo ra một loại không. gian đô thị đặc biệt. Ông cũng khẳng định, giống như những người theo chủ nghĩa a hậu hiện đại, không gian thực và xã hội nên được tách ra.

Tuy nhiên, ông đã xem không gian thực như là một "hệ thống tự trị chính thức" [43, tr.15] cũng có một cách tiếp cận không gian đô thị thực, xác định không gian như là hình thức (không áp đặt tiêu chuẩn thẩm mỹ"). Vì vậy ông định nghĩa không gian đô thị như là "không gian bên ngoài", "tất cả các loại không gian giữa các tòa nhà trong thị trấn và các địa phương khác". Một số học giả khác xử lý không gian thông qua quan niệm khác nhau. Họ xác định được không gian đô thị vì nó được cảm nhận bởi "giác quan" và "giải thích trí tuệ" [69, tr.

Cách tiếp cận này chỉ tiết hơn bằng cách nghiên cứu về "không gian thực" và "không gian tỉnh thần". Lefebvre là một trong những học gia hang đầu đưa ra cách đề lấp đầy "khoảng trống giữa không gian tỉnh thần và không gian thực" [69, tr. Để lấp khoảng trống này, ông giới thiệu khái niệm "không gian xã hội", "không gian của đời sống xã hội, và không gian của thực tiễn và xã hội " [69, tr. Ong khang định rằng không gian riêng biệt "kích thước không gian tỉnh thần, vật chất và xã hội" không nên tách rời.

38-40] đưa ra "ba mặt quan trọng về không gian xã hội" như: không gian cảm nhận, không gian cảm thụ và không gian sống, mà ông nghĩ là có liên kết với nhau. Ông giới thiệu không gian cảm thụ trong bối cảnh thực tiễn của không gian liên quan đến việc tô chức không gian và sử dụng không gian. Đầu tiên là cụ thể hóa sự liên kết chặt chẽ giữa thực tế hàng ngày (thói quen hàng ngày) với thực tế đô thị (các tuyến đường và mạng lưới kết nối các địa điểm dành cho công việc, cuộc sống "riêng tư" và giải trí). Thứ hai, ông giới thiệu không gian tưởng tượng của những người phác thảo, gọi là phát thảo không gian.

Đây là "không gian chiếm ưu thế trong bất kỳ xã hội nào" đó là "không gian của các nhà khoa học, nhà quy hoạch, nhà đô thị, các nhà phan chia ky tri va ky sư xã hội". Thứ ba, ông giới thiệu không gian đại diện trong phần không gian sống. Đây là "không. gian sống trực tiếp qua các hình ảnh và biểu tượng liên quan, và đó là không gian của "cư đân" và "người dùng".

Không gian đại diện là "chồng chéo không gian vật chất và sử dụng biểu tượng các vật thể của nó" [69, tr. Theo Lefebvre, "trước 12 thé kỷ 20, cách mà không gian được cảm nhận, hình thành và hoạt động được kết nối với nhau, cũng như ở các thành phó phương Tây, từ thời Phục hưng Y va thé ky 19" [69, tr.17-18 ] Tóm lại, khái niệm về không gian đô thị cần phải tính đến khía cạnh vật chất, xã hội và biểu tượng cùng một thời điểm. Ngoài các cuộc thảo luận về không gian này, yếu tố về địa điểm cũng là một khái niệm quan trọng cần được xem xét trong bối cảnh này. Vì nó là một phần của không gian "mà một người hoặc một vật chiếm chỗ, và mang lại ý nghĩa và giá trị" [69, tr.

Nói cách khác, địa điểm là kinh nghiệm cảm giác của không gian.23] nói rằng "nếu không gian cho phép di chuyên xảy ra, thì địa điểm sẽ là nơi tạm dừng". Norberg-Schulz [81, tr. 6] dinh nghĩa khái niệm địa lý là "cái gì đó nhiều hơn địa điểm trừu tượng. một tổng thể được tạo thành từ những vật cụ thể có chất liệu, hình dạng, kết cấu và màu sắc".

Hơn thế nữa, ngoài các đặc tính vật lý này, 7rancik [99, tr.112] kết hợp khái niệm về địa điểm với "đặc điểm văn hoá và con người", nhắn mạnh ý nghĩa ngữ cảnh dựa trên phạm vi văn hoá hoặc. địa điểm của không gian là những gì làm cho một không gian thành một địa điểm với một "đặc điểm độc đái. Những khía cạnh ăn hoá phi vật th của địa điểm là nên tảng cho con người "phát trién ban than, c sông xã hội và văn hoá của họ” [99. Khái niệm Latin cho "cảm giác về địa điểm" là "Genius Loci", "điều này cho thấy rằng con người trải nghiệm điều gì đó vượt quá các đặc tính vật chất hoặc cảm giác của địa điểm, và có thể cảm thấy gắn bó tỉnh thần với địa điển [58, tr.

Dựa trên ý tưởng của một số học giả như Relph (1976), Punter (1991) va Montgomery (1998) đã xác định các yếu tố cảm giác về địa điểm. Các số liệu sau đây cho thấy các thành phần của "cảm giác về địa điển " (Xem hình 1.2) Car Punter và Montgomery đều đưa ra các yếu tố về địa điểm như là hoạt động và vật chất; ngoài ra, hình ảnh và ý nghĩa, nhấn mạnh vào con người, nhận thức, giá nghĩa của chúng [90, tr. Thiết lập địa điểm là ý nghĩa quan trọng nhằm tạo ra không gian công công thành công, tạo thành một môi trường đặc biệt trong đó. cuộc sống xã hội diễn ra.

Không gian công cộng Không gian đô thị là những thành phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. Những hoạt động trong cuộc sống hàng ngày diễn ra trong cả phạm vỉ công cộng và riêng tư. Theo AZadanipour [70, tr.140] sự khác biệt giữa "phạm vỉ công cộng và riêng tư của cuộc sống" là đặc điểm cơ bản của bối cảnh xã hội và chính trị bất cứ nơi nào trên thế giới, ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào. Và việc xác định không gian đô thị là công cộng hay riêng tư là cách tổ chức không gian trong đô thị.

Các địa điểm riêng biệt được tách ra từ các phần còn lại của không gian thành phó, bao trùm cả một hệ thống có ý nghĩa phức tạp (như ranh giới, hàng rào, tường, cửa, hoặc giờ làm việc đã xác định trước v.) và thuộc sở hữu của các thực thể cụ thể [70, tr. Ngược lại, những nơi công cộng mà tất cả mọi người có thê ra vào. được thì có ít hạn chế hơn. Trong các thuật ngữ nỗi tiếng của John Gehl [59, tr.15] đã chỉ ra rằng không gian công cộng là "cuộc sống giữa các tòa nhà" cùng với những tính chất cơ bản như: "sự hiện diện của người dân, hoạt động, sự kiện, cảm hứng và kích thícl Th ngữ "công cộng" có nhiều định nghĩa khác nhau liên quan đến cộng đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ