Luận án tiến sĩ thực trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng và một số yếu tố liên quan ở việt nam năm 2018 2019

Tổng hợp kiến thức Thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn thường gặp và yếu tố liên quan tại Việt Nam, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên

Trường đại học

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

194
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Kháng sinh và sự đề kháng kháng sinh

1.1.1. Lịch sử phát hiện kháng sinh và đề kháng kháng sinh

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN E.COLI VÀ KLEBSIELLA SPP.

4.1. Đặc điểm kháng kháng sinh của vi khuẩn E.

4.2. Đặc điểm kháng kháng sinh của vi khuẩn Klebsiella spp.

4.3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng mang gen KKS ở cộng đồng

4.4. Thực trạng kiến thức và sử dụng kháng sinh của người bệnh và gia đình người bệnh đến khám tại trạm y tế xã

4.5. Kiến thức về kháng sinh và kháng kháng sinh của người bệnh đến khám tại trạm y tế xã

4.6. Thực trạng sử dụng kháng sinh ở cộng đồng

4.7. Mối liên quan về kiểu gen của các chủng vi khuẩn phân lập được với các chủng đã từng phát hiện ra ở Việt Nam và trên thế giới

4.7.1. Mối liên quan về kiểu gen giữa các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được trong nghiên cứu và với các vi khuẩn E.coli phân lập được tại Việt Nam và trên thế giới

4.7.2. Mối liên quan về kiểu gen giữa các chủng vi khuẩn K.pneumonia phân lập được trong nghiên cứu và với các vi khuẩn K.pneumonia phân lập được tại Việt Nam

4.8. Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất nghiên cứu tiếp theo

4.9. Đóng góp của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thực trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam 2018 2019

Luận án tiến sĩ y tế công cộng này khảo sát thực trạng kháng kháng sinhViệt Nam trong giai đoạn 2018-2019, tập trung vào vi khuẩn cộng đồng. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ kháng kháng sinh cao ở một số loại vi khuẩn phổ biến. Kết quả nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp can thiệp để giảm sử dụng kháng sinh không hợp lý. Việt Nam, giống nhiều quốc gia đang phát triển, đối mặt thách thức lớn trong quản lý kháng kháng sinh. Dữ liệu thu thập từ các trạm y tế xã ở ba miền cho thấy sự đa dạng về mức độ kháng thuốc. Nghiên cứu đề cập đến nguyên nhân kháng kháng sinh, bao gồm cả sử dụng kháng sinh hơp lýlạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi. Thống kê kháng kháng sinh Việt Nam cần cập nhật thường xuyên để đánh giá hiệu quả các chiến lược can thiệp.

1.1. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn cộng đồng

Luận án trình bày tỷ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn cộng đồng như E. coliKlebsiella pneumoniae. Dữ liệu cho thấy mức độ kháng cao đối với nhiều loại kháng sinh, đặc biệt là kháng sinh phổ rộng. Nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật hiện đại như giải trình tự hệ gen toàn bộ (WGS) để phân tích gen kháng kháng sinh. Vi khuẩn kháng thuốc đa dạng về kiểu gen, cho thấy sự phức tạp của vấn đề. Kháng sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cơ chế kháng kháng sinh. Các kết quả nhấn mạnh sự cần thiết của giám sát thường xuyên để theo dõi sự thay đổi về tỷ lệ kháng kháng sinhvi khuẩn kháng thuốc. Thực trạng kháng kháng sinh này đòi hỏi giải pháp toàn diện để kiểm soát.

1.2. Yếu tố liên quan đến kháng kháng sinh

Nghiên cứu xác định một số yếu tố liên quan đến sự gia tăng kháng kháng sinh. Sử dụng kháng sinh không hợp lý ở người là một nguyên nhân chính. Kiến thức về kháng sinhkháng kháng sinh của người dân còn hạn chế. Lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi cũng đóng góp đáng kể. Giáo dục sức khỏe cộng đồng về sử dụng kháng sinh hợp lý là cần thiết. Quy định sử dụng kháng sinh cần được thực thi nghiêm ngặt hơn. Quản lý kháng kháng sinh hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều ngành, bao gồm y tế, nông nghiệp và chính phủ. Dịch tễ học kháng kháng sinh cần được nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ hơn về sự lây lan của vi khuẩn kháng thuốc.

1.3. Đề xuất và ứng dụng thực tiễn

Luận án đưa ra các đề xuất cụ thể để giải quyết vấn đề kháng kháng sinh. Phòng chống kháng kháng sinh cần sự đầu tư lâu dài và chiến lược. Giám sát kháng kháng sinh cần được mở rộng và thường xuyên hơn. Chính sách về sử dụng kháng sinh cần được cập nhật và thực thi nghiêm ngặt. Cơ sở dữ liệu về kháng kháng sinh cần được xây dựng và chia sẻ rộng rãi. Nghiên cứu về các kháng sinh mới và các phương pháp điều trị thay thế cần được thúc đẩy. Các kết quả của luận án có ứng dụng thực tiễn cao trong việc xây dựng chính sách và chiến lược phòng chống kháng kháng sinhViệt Nam. Báo cáo kháng kháng sinh Việt Nam cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh tình hình thực tế.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Kháng sinh và sự đề kháng kháng sinh 1. Lịch sử phát hiện kháng sinh và đề kháng kháng sinh Trước đầu thế kỷ 20, các cách điều trị nhiễm trùng chủ yếu dựa trên các phương pháp y học dân gian.

Các quan sát được thực hiện trong phòng thí nghiệm về kháng sinh giữa các vi sinh vật đã đưa đến những phát hiện về các kháng sinh tự nhiên được tạo ra từ vi sinh vật. Năm 1895, Vincenzo Tiberio, nhà vật lý học ở đại học Naples đã phát hiện rằng nấm mốc (Penicillium) trong nước có hoạt động kháng khuẩn tốt. Sau khi hợp chất hóa trị ban đầu tỏ ra có hiệu quả, những hợp chất khác cũng được theo đuổi cùng dòng điều trị, nhưng nó không được thực hiện cho đến năm 1928 khi Alexander Fleming quan sát kháng sinh chống lại vi khuẩn từ một loài nấm trong Penicillium. Đến năm 1941, kháng sinh đầu tiên là penicilin đã được sản xuất để dùng trong lâm sàng điều trị các bệnh nhiễm trùng và cho đến nay các kháng sinh vẫn là vũ khí tối ưu nhất chống lại các bệnh nhiễm trùng.

Tuy nhiên ngay sau khi phát hiện kháng sinh là sự xuất hiện sự đề kháng của vi khuẩn. Đã có một số cảnh báo đã được nhắc tới trước khi kháng sinh được sử dụng phổ biến. Bài phát biểu tại lễ nhận giải Nobel của Alexander Fleming đã được viện dẫn nhiều lần như một lời cảnh báo của ông rằng “Không khó để tạo ra một vi khuẩn kháng thuốc penicillin trong phòng thí nghiệm bằng cách cho chúng tiếp xúc với một lượng không đủ để giết chết chúng…đó là một điều nguy hiểm mà một người đã có thể sử dụng dưới liều, và vi khuẩn của người đó đã tiếp xúc với một lượng thuốc không đủ giết chết chúng và làm chúng kháng” [15]. Vài năm sau khi kháng sinh được giới thiệu, các vi khuẩn phát triển cơ chế để chống lại kháng sinh đã được sử dụng.

Vi khuẩn có một số cách chia sẻ vật liệu di truyền, đôi khi không liên quan đến loài, và dẫn đến việc càng mở rộng các chủng kháng kháng sinh. Khoảng cách thời gian là rất ngắn giữa việc giới thiệu một loại kháng sinh được sử dụng và thời điểm kháng của nó với các vi khuẩn khác nhau (Hình 1), do đó việc nghiên cứu cơ chế kháng và cơ chế di truyền của chúng là một trong những ưu tiên quan trọng trong chiến lược giảm tốc độ và tác động của kháng thuốc. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 4 Hình 1. Khoảng cách về thời gian kháng sinh được bắt đầu sử dụng và thời gian phát hiện kháng TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 5 1.1 Kháng sinh và phân loại kháng sinh [2] • Kháng sinh: kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi khuẩn.

• Phân loại kháng sinh: Cho đến nay, khoa học đã tìm ra rất nhiều các nhóm kháng sinh mà mỗi nhóm có tác dụng tốt trên những loại vi khuẩn khác nhau. Dựa theo cấu trúc hóa học, kháng sinh được phân loại thành các nhóm chính sau: Bảng 1.1: Phân loại kháng sinh STT Nhóm cấu Tên thuốc Tác dụng trúc 1 Nhóm β-lactam: Peniciline Penicilin V, penicilin G, Cầu khuẩn Gram dương, methicilin, oxacilin, Gram âm, amoxicilin, nhóm penicilin Cephalosporin Cephalosporin thế hệ Gram dương, Gram âm 1,2,3,4,5 Carbapenem Imipennem, meropenem, Tác đụng rộng trên cả vi doripenem, ertapenem khuẩn kị khí và hiếu khí, vi khuẩn gram dương Monobactam Aztreonam Vi khuẩn hiếu khi gram âm và vi khuẩn kị khí Ức chế β- Acid clavulanic, sulbactam và Ức chế các vi khuẩn tiết lactamase tazobactam men beta-lactamase như Acinetobacter. 2 Aminoglycosid Kanamycin, gentamicin, Vi khuẩn gram âm neltimicin, tobramycin, amikacin. 3 Nhóm Erythromycin, oleandomycin, Các vi khuẩn gram Macrolid roxithromycin, dương và một số vi clarithromycin, khuẩn không điển hình dirithromycin, azithromycin, spiramycin, josamycin TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 6 4 Nhóm Lincomycin và clindamycin Các vi khuẩn gram lincosamid dương và một số vi khuẩn không điển hình 5 Nhóm Cloramphenicol và Cả gram âm và gram phenicol thiamphenicol dương 6 Nhóm cyclin Chlortetracyclin, Có phổ kháng khuẩn oxytetracyclin, rộng trên cả các vikhuẩn demeclocyclin, methacyclin, Gram-âm và Gram- doxycyclin, minocyclin.

dương, cả vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí 7 Nhóm peptid Glycopeptid (vancomycin, Chủ yếu trên các chủng teicoplanin): vi khuẩn Gram-dương Polypetid (polymyxin, Trực khuẩn Gram-âm colistin Lipopeptid (daptomycin Gram-dương hiếu khí và kỵ khí 8 Nhóm 4 thế hệ quinolon Không có nguồn gốc tự quinolon nhiên, toàn bộ được sản xuất bằng tổng hợp hóa học. 9 Các nhóm Nhóm co-trimoxazon, nhóm kháng sinh 5-nitro-imidazon, nhóm khác oxazolidion 1.2 Cơ chế sự đề kháng kháng sinh [3] Sau khi vào tế bào, kháng sinh được đưa tới đích tác động sẽ phát huy tác dụng bằng cách: - Ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn - Gây rối loạn chức năng màng nguyên tương, đặc biệt là chức năng thẩm thấu chọn lọc, làm cho các thành phần (ion) bên trong tế bào bị thoát ra ngoài, ví dụ nhóm polymyxin, Daptomycin - Ức chế sinh tổng hợp protein - Ức chế sinh tổng hợp acid nucleic - Ức chế sinh tổng hợp các chất chuyển hoá cần thiết cho tế bào TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 7 Hình 1.2: Cơ chế tác dụng của kháng sinh [3] Kháng sinh có tác dụng ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn, nhưng khi trong môi trường có kháng sinh mà vi khuẩn vẫn phát triển thì được coi là sự đề kháng kháng sinh. Phân loại đề kháng kháng sinh Có 2 loại đề kháng: là đề kháng giả và đề kháng thật - Đề kháng giả: Đề kháng giả là có biểu hiện là đề kháng nhưng không phải là bản chất, tức là không do nguồn gốc di truyền. Khi vào trong cơ thể, tác dụng của kháng sinh phụ thuộc vào ba yếu tố là kháng sinh - người bệnh - vi khuẩn.

Đề kháng giả có thể do một trong ba yếu tố hoặc có thể kết hợp hai hay thậm chí cả ba yếu tố - Đề kháng thật: có 2 loại là đề kháng tự nhiên và đề kháng thu được. + Đề kháng tự nhiên do một số loài vi khuẩn không chịu tác dụng của một số kháng sinh nhất định. aeruginosa không chịu tác dụng của penicilin G, Stapylococcus aureus không chịu tác dụng của colistin. Hoặc vi khuẩn không có vách như Mycoplasma không chịu tác dụng của các kháng sinh beta-lactam ức chế sinh tổng hợp vách.

Đề kháng tự nhiên thường mang tính chất đặc trưng theo từng loại vi khuẩn. - Đề kháng thu được do một biến cố di truyền là đột biến hoặc nhận được gen đề kháng để một vi khuẩn đang từ không có gen đề kháng trở thành có gen đề TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 8 kháng, nghĩa là đang nhạy cảm trở thành có khả năng đề kháng kháng sinh. Các gen đề kháng có thể nằm trên một, một số hoặc tất cả các thành phần di truyền của vi khuẩn gồm nhiễm sắc thể, plasmid và transposon. Đề kháng thu được thường mang tính chất của từng cá thể trong loài.

Đề kháng thu được là yếu tố đóng vai trò chính trong việc gia tăng tình hình kháng kháng sinh hiện nay. Các nghiên cứu về kháng kháng sinh của vi khuẩn luôn tập trung phân tích những biến đổi về mặt di truyền của vi khuẩn do đề kháng thu được làm thay đổi tính đề kháng của vi khuẩn như thế nào. Các gen kháng kháng sinh nhóm β-lactam Gen kháng kháng sinh đã tồn tại từ rất lâu, các gen này rất phong phú và đa dạng trong các sinh vật sống cổ đại, được phát hiện trong ADN được phục hồi từ Pleistocene tiền sử (30. Cho đến nay hàng chục nghìn gen kháng kháng sinh đã được phát hiện làm tăng sự hiểu biết về các cơ chế để kháng của vi khuẩn.

Bảng tổng hợp gen kháng kháng sinh của các nhóm kháng sinh thường gặp STT Nhóm KS Các gen kháng kháng sinh quan trọng 1. β-lactam o AmpC- β-lactamase o ESBL: blaTEM-, blaSHV-, blaCTX-M- o Carbapenemase: Nhóm A (KPC, SME, IMI, NMC, GES); Nhóm B (NDM, IMP, VIM, SPM, GIM); Nhóm D (OXA-) 2. Aminoglycosid o Gen methlase: armA, npmA, rmtA, rmtB, rmtC và rmtD o Gen tạo các enzyme biến đổi: AAC (acetyltransferase), ANT (nucleotidytransferase/adenyltransferase), APH (phosphotransferase) 3. Chloramphenicol o CAT: catA và catB o cmlA và floR 4.

Glycopeptid o VanA và vanB: nằm trên plasmid hoặc chromosom TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 9 o vanC1, vanC2/3, vanD, vanE và vanG: chỉ nằm trên chromosom 5. Quinolon o GyrA và GyrB ở trực khuẩn gram âm; parC và parE ở vi khuẩn gram dương đều nằm trên chromosom o Qnr (qnr A, B, C, D, S), aac(6)-ib, qepA nằm trên plamid 6. Sulfanamid và o Kháng sulfonamid: folP, sul1, sul2 và sul3 trimethoprim o Kháng trimethroprim: folA, dfrA, dfrB, dfrK Các gen kháng kháng sinh của các nhóm kháng sinh khác nhau rất đa dạng bao gồm cả các gen nằm trên chromosom và trên plasmid. Đặc biệt các gen nằm trên plasmid đóng vai trò lớn trong việc gia tăng nhanh chóng tốc độ lan truyền các gen kháng kháng sinh trong quần thể vi khuẩn do tính chất có thể lây truyền ngang từ loài vi khuẩn này sang vi khuẩn khác.

Chính vì vậy việc xác định các gen kháng kháng sinh đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát sự lan truyền kháng kháng sinh hiện nay. Vi khuẩn đa kháng - MDR (MultiDrug Resistance): Đa kháng thuốc có nghĩa là tác nhân được phân lập đề kháng với ít nhất một kháng sinh ở ít nhất ba nhóm kháng sinh. Kháng thuốc mở rộng - XDR (Extensive Drug Resistance): Kháng thuốc mở rộng là tác nhân được phân lập đề kháng với ít nhất một kháng sinh ở tất cả các nhóm nhưng vẫn còn nhạy với một hoặc hai lớp kháng sinh hiện có. Toàn kháng thuốc - PDR (PanDrug Resistance): Toàn kháng là tác nhân được phân lập đề kháng với tất cả các kháng sinh ở tất cả các lớp kháng sinh hiện có [171].

Nhiễm trùng do cộng đồng mắc phải: được định nghĩa là nhiễm trùng bên ngoài bệnh viện, cơ sở chăm sóc dài hạn hoặc viện dưỡng lão[182]. Gánh nặng bệnh tật của vi khuẩn kháng kháng sinh và thực trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn đáng quan tâm trên thế giới 1. Gánh nặng bệnh tật do kháng kháng sinh Tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn xảy ra khi những thay đổi trong vi khuẩn khiến các loại thuốc được sử dụng để điều trị nhiễm trùng trở nên kém hiệu quả hơn. Kháng kháng sinh đã nổi lên như một trong những mối đe dọa sức khỏe TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 10 cộng đồng hàng đầu của thế kỷ 21.

Chính phủ Anh cho rằng kháng kháng sinh có thể giết chết 10 triệu người mỗi năm vào năm 2050 [202].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng Việt Nam (2018-2019)" của tác giả Trần Thị Mai Hưng, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Huy Hoàng và PGS. Dương Thị Hồng, trình bày một cái nhìn sâu sắc về tình hình kháng kháng sinh trong cộng đồng tại Việt Nam trong giai đoạn 2018-2019. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra mức độ kháng kháng sinh của các vi khuẩn phổ biến mà còn nhấn mạnh những nguyên nhân và hệ quả của vấn đề này đối với sức khỏe cộng đồng. Bài viết mang lại lợi ích cho độc giả bằng cách cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng kháng thuốc, từ đó nâng cao nhận thức và khuyến khích các biện pháp can thiệp kịp thời.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến y tế công cộng và quản lý, bạn có thể tham khảo bài viết "Quản lý tài chính tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức: Luận văn thạc sĩ", nơi đề cập đến quản lý tài chính trong lĩnh vực y tế, hoặc bài viết "Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank", giúp bạn hiểu thêm về quản lý rủi ro trong lĩnh vực tài chính. Cả hai bài viết này đều có liên quan đến các khía cạnh quản lý và y tế công cộng, mở ra nhiều góc nhìn mới cho độc giả.