Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VÙNG BẮC TRUNG BỘ VIỆT NAM 1. NHỮNG THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Những nghiên cứu xác định nguyên nhân dịch chuyển vốn ra nước ngoài Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài nhận định rằng, thu hút FDI là một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước. Điển hình là một số công trình sau: - Trong nghiên cứu lý thuyết về nguyên nhân ĐT trực tiếp ra nước ngoài của các công ty lớn, tác giả A.
Calvet trong bài: "A synthesis of foreign direct investment theories and theories of the multinational firm" (Một sự tổng hợp của các lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài và các lý thuyết của các công ty đa quốc gia) [116] đã phân loại các lý thuyết FDI theo mô hình không hoàn hảo của thị trường và cho rằng, sự khác biệt quốc tế của các hoạt động và hội nhập qua biên giới các quốc gia là một nhân tố quan trọng thúc đẩy di chuyển vốn ra nước ngoài. Sự hấp dẫn của dịch chuyển tư bản ra ngoài xuất phát từ việc tránh thuế nhập khẩu, thị trường tiêu thụ mới, nguồn lao động rẻ và sự sẵn có của tài nguyên. - Pan Long Tsai, giáo sư kinh tế của Đại học quốc gia Đài Loan - NTU, trong bài: "Determinants of foreign direct investment and its impact on economic growth" (Yếu tố quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động của nó đối với tăng trưởng kinh tế) [163], bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, đã đi đến kết luận: quy mô thị trường trong nước và cán cân thương mại là hai yếu tố quyết định FDI vào một nước nào đó, mặc dù tăng trưởng kinh tế, chi phí lao 7 động và sự khác biệt về địa lý cũng là những yếu tố tác động rất lớn đến xu hướng di chuyển dòng vốn ĐT này. - ELhanan Helpman cùng các cộng sự trong bài: "Export Versus FDI with Heterogeneous Firms" (Xuất Versus FDI với các hãng không đồng nhất) [134]; Richard Bruton trong bài viết: "Policy Statement on Foriegn Direct Investment in Ireland" [168] đã cho rằng các DN của một nước, nhận thấy lợi ích từ việc tránh chi phí thương mại khi XK sản phẩm ra nước ngoài lớn hơn chi phí của việc duy trì năng lực sản xuất của DN tại nước đó, sẽ lựa chọn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, hình thành FDI.
- Lý thuyết giải thích FDI từ chu kỳ sản phẩm: Akamatsu Kaname trong bài: "A Historical Pattern of Economic Growth in Developing Countries" (Một mẫu lịch sử của tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển) [148] đã cho rằng, sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước ĐT, sau đó được XK ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu (NK), ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước NK chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm NK này bằng cách thu hút vốn, kỹ thuật của nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu XK lại xuất hiện. Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI [148].
Cũng cùng quan điểm này, Raymond Vernon trong: "International Investment and International Trade in the Product Cycle" (Đầu tư quốc tế và thương mại quốc tế trong các chu kỳ sản phẩm) [166] đã viết: khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình, cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn. - Tiếp cận từ lợi thế của công ty đa quốc gia, Stephen H.
Hymes trong "Product life-cycle theory" (Lý thuyết vòng đời sản phẩm), "FDI and Portfolio 8 Investment Theory" (FDI và Lý thuyết Danh mục đầu tư) [173] đã cho rằng, các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài, nên họ sẵn sàng ĐT trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm ĐT, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. - Quan điểm tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại (nảy sinh từ các cuộc xung đột thương mại giữa Nhật Bản và các nước như Mỹ, Tây Âu từ sau chiến tranh thế giới thứ hai). Những người theo quan điểm này cho rằng, ĐT trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương.
Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Để đối phó, Nhật Bản đã tăng cường ĐT trực tiếp vào các thị trường đó, như sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm XK các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Nhật còn ĐT trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó XK sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu để hưởng ưu đãi NK mà các nước phát triển dành cho nước chậm phát triển [183]. - Tiếp cận tổng hợp từ nhiều nguyên nhân hình thành DN FDI.
Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu của nhóm John Dunning: "Why Do Companies Invest Overseas?" (Tại sao công ty Đầu tư nước ngoài?) [130] đã giải thích vì sao công ty lựa chọn ĐT vào các thị trường nước ngoài. Ngoài lý do mở rộng hoạt động của mình ra nước ngoài, còn có bốn lý do chính để công ty ĐT ra nước ngoài, bao gồm: i) Tìm kiếm thị trường (Sutherland 1998); ii) Chi phí thấp hơn; iii) Tìm kiếm sản phẩm chiến lược; và iv) Hiệu quả tìm kiếm. Ví dụ, biến động tỷ giá hối đoái cũng có thể thay đổi những tính toán lợi nhuận của một công ty hàng đầu để thay đổi việc phân bổ các nguồn tài nguyên của nó. trong: "Trade, location of economic activity and the MNE: a search for an eclectic approach" (Thương mại, vị trí của hoạt động 9 kinh tế và các doanh nghiệp đa quốc: tìm kiếm một phương pháp chiết trung) [128] đã nêu các khái niệm, lý thuyết và định hướng nghiên cứu thực nghiệm, phát triển các mô hình chiết trung của các các nhà nghiên cứu quốc tế nhằm giải thích lực chính thúc đẩy FDI, bao gồm quyền sở hữu (O), vị trí (L), và nhu cầu được quốc tế hóa (I).
Theo tác giả, các công ty công nghệ cao có thể có một mức độ độc quyền, và lợi nhuận độc quyền có thể là phần thưởng cho sự đổi mới. Trong điều kiện nhất định, cho dù nắm quyền kiểm soát công nghệ của mình, nhưng các công ty đa quốc gia có thể phát triển công nghệ ra các nước thông qua ĐT nước ngoài hoặc hợp tác với các DN của nước sở tại để thay thế công nghệ ở đó. Lý thuyết quốc tế hóa và mô hình chiết trung này đã được hoàn thiện trong hơn 40 năm qua để trở thành cơ cở lý thuyết nền tảng giải thích hoạt động FDI của công ty đa quốc gia. Ngoài ra, còn có những công trình khác viết về vai trò của FDI trong dòng chảy vốn quốc tế, như: "The role of foreign direct investment in international capital flows" (Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong dòng vốn quốc tế) của RE Lipsey, RC Feenstra, CH Hahn [169], "Tax policy and foreign direct investment" (Chính sách thuế và đầu tư trực tiếp nước ngoài) của David G.
Những nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của nước tiếp nhận Các nghiên cứu tiếp cận từ cách giải thích sự tồn tại của FDI bắt nguồn từ tác động của nó đối với nước tiếp nhận cũng xuất hiện khá nhiều. Có thể nêu ra một số công trình điển hình sau: - Các công trình nghiên cứu về vai trò của FDI đối với việc làm và thu nhập: Nhiều nghiên cứu cho rằng, FDI không chỉ góp phần trực tiếp tạo ra việc làm mà còn gián tiếp tạo ra các cơ hội việc làm tại các tổ chức khác như 10 nhà cung cấp hoặc người tiêu dùng sản phẩm của các DN có vốn ĐTNN. Theo UNCTAD, các công ty đa quốc gia đã tạo ra khoảng 73 triệu việc làm trên toàn thế giới, trong đó hơn 60% việc làm được tạo ra từ các công ty mẹ và 40% là từ các chi nhánh tại nước ngoài [180]. Slaughter đã sử dụng một bộ dữ liệu trong giai đoạn 1982 - 1990 của 7 ngành công nghiệp thuộc 16 nước phát triển và đang phát triển để hồi qui tìm ra mối quan hệ giữa tiền công và sự hiện diện của các DN nước ngoài.
Kết quả cho thấy sự hiện diện của các DN nước ngoài có tác động tích cực đến việc nâng cao kỹ năng của người lao động [155]. Fenstra và Hanson sử dụng mô hình trao đổi thương mại Bắc - Nam và mô hình ĐT để kiểm tra tác động của FDI đến nhu cầu lao động có tay nghề tại Mexico trong giai đoạn 1975-1988. Kết quả cho thấy, tăng trưởng FDI làm tăng nhu cầu đối với lao động có tay nghề cao. Tại các khu vực FDI tập trung nhiều, các công ty nước ngoài chiếm trên 50% nhu cầu lao động kỹ thuật của thị trường.
Tác giả cho rằng, kết quả này phản ánh một thực tế là hầu hết các công ty nước ngoài sử dụng công nghệ đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng cao [171]. - Các công trình nghiên cứu về FDI có tác động thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo ở nước tiếp nhận: Nghiên cứu của De Melo đã sử dụng hàm sản xuất Cobb Douglas mở rộng có tính đến sự tồn tại của mô hình nội sinh trong FDI, lấy mẫu ở 16 nước phát triển và 17 nước đang phát triển. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, FDI có hiệu ứng tích cực và quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế thời kỳ 1970 - 1990. Tác động này càng lớn hơn đối với các nước đang phát triển ở châu Phi trong giai đoạn 1980-2005 [125].