Mở đầu bài viết tác giả đã nhận định và trình bày những vấn đề lí luận cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm. Thông qua nghiên cứu của mình về phần lý luận, tác giả đã tập trung nghiên cứu và đưa ra các đánh giá về thực trạng pháp luật quốc cũng như pháp luật của một số quốc gia về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm. Thông qua những nghiên cứu nêu trên, tác giả đã tham chiếu và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm. Luận án đã nhận diện và đem đến cái nhìn đa chiều về thực tiễn thực hiện tại Việt Nam.
Trong phần kết luận, tác giả đã đưa ra một loạt kiến nghị và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao 12 hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế liên quan đến dược phẩm dành riêng cho Việt Nam. Sách chuyên khảo có tựa đề: “Quyền tác giả trong không gian ảo”, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về quyền tác giả cũng như mạng không gian ảo. Tác giả tập trung phân tích những đặc điểm cơ bản bao gồm: những đặc quyền và ngoại lệ của quyền tác giả trong thời đại số; vấn đề lý luận liên quản lý tập thể quyền tác giả; hợp đồng liên quan đến khai thác quyền tác giả; trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến việc khai thác tác phẩm trên Internet; các công cụ, biện pháp, và chế tài nhằm xử các hành vi vi phạm cũng như những khía cạnh của tư pháp quốc tế liên quan đến việc xâm phạm quyền tác giả trên Internet và không gian mạng. “Việt Nam với việc đàm phán về quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương” –Lê Thị Thu Hà, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 1 (233) Kỳ 1/2013, tác giả tập trung phân tích những kiến nghị và đề xuất của các quốc gia tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ như Hoa Kỳ, Chi-lê, New Zealand.
Bài viết cho rằng đề xuất của Hoa kỳ hàm chứa những đòi hỏi rất cao, và đôi khi vượt quá khả năng thực thi của một bộ phận các bên tham gia đàm phán, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Trong khi đó, đề xuất của New Zealand và Chi-lê chủ yếu hướng tới mục tiêu nhằm đạt được sự cân bằng giữa quyền lợi của tác giả, người sở hữu quyền và cộng đồng, người sử dụng, vốn là người tiêu dùng cuối cùng đối với các sản phẩm trí tuệ. Điều này sẽ giúp đạt được cân bằng về quyền và lợi ích giữa thành viên là nhóm các quốc gia phát triển và các thành viên khác thuộc nhóm các quốc gia đang phát triển khi cùng tham gia vào Hiệp định TPP. 13 “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” của Lê Mai Thanh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2016, tr.61-69 [45], bài viết giới thiệu về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và bàn về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Hiệp định này.
Có thể nói, Hiệp định này mang đến rất nhiều lợi thế cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với sự tham gia và dẫn dắt của Hoa Kỳ. Tuy vậy, những cam kết về quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TPP đem đến rất nhiều lợi thế cho Hoa Kỳ, vốn là một quốc gia xuất khẩu “trí tuệ”. Chính vì vậy, tác giả đã phân tích và nhận diện những vấn đề mà Việt Nam cần phải tháo gỡ nhằm đảm bảo thực thi những cam kết về quyền sở hữu trí tuệ của mình khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, thông qua bài viết tác giả đã cung cấp, chia sẻ một số định hướng cụ thể và những giải pháp để Việt Nam hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo các hiệp định thương mại tự do bằng tiếng Anh Ruth L. Okediji “WIPO-WTO relations and the Future of Global Intellectual Property Norms”, Netherlands Yearbook of International Law, Volume 39 December 2008, page 69-125 [95], tác giả chỉ ra sự cần thiết của việc ra đời Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization – WIPO). Trước khi WIPO được thành lập, Ủy ban quốc tế thống nhất về Bảo hộ sở hữu trí tuệ (United International Bureaux for the Protection of Intellectual Property - BIRPI) được thành lập năm 1893 để quản lý Công ước Berne về Bảo hộ các tác phẩm Văn học và Nghệ thuật và Công ước Paris về Bảo hộ Sở hữu Công nghiệp. Đồng thời, BIRPI chịu trách nhiệm xử lý các công việc hành chính liên quan đến bảo hộ quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, BIRPI chỉ có sự tham gia chủ yếu của các nước phát triển, thiếu tư cách pháp lý rõ ràng cũng như việc không được trao quyền từ Liên 14 Hiệp Quốc (United Nation – UN). Điều này dẫn tới yêu cầu phải có sự tái thiết và kết quả đó là sự ra đời của WIPO. Bài viết tập trung phân tích mối quan hệ giữa WIPO và Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization – WTO). Trainer, “Intellectual Property Enforcement: A Reality Gap (Insufficient Assistance, Ineffective Implementation)?”, 8 J.
47 (2008) [96], tác giả cho rằng có sự khác nhau giữa việc thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS) giữa nhóm các quốc gia phát triển và nhóm các quốc gia đang phát triển. Đó là, tiêu chuẩn thực thi quyền sở hữu trí tuệ thấp hơn rất nhiều tại các quốc gia đang phát triển so với những gì mà những nhà soạn thảo Hiệp định TRIPS hình dung. Điều đó dẫn đến rất nhiều xung đột liên quan đến việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ giữa nhóm các quốc gia phát triển và nhóm các quốc gia đang phát triển. Tại phần kết luận, bài viết nhận định rằng một hệ thống bảo hộ quyền SHTT đầy đủ sẽ giúp ổn định việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Bryan Christopher Mercurio, “TRIPS-Plus Provisions in Ftas: Recent Trends”, Regional Trade Agreement and the WTO Legal System, Lorand Bartels, Federico Ortino, eds.215-237, Oxford University Press, 2006 [85], bài viết tập trung phân tích những tiêu chuẩn của Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS). Các nước đang phát triển cho rằng Hiệp định TRIPS chỉ thiên về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mang tính có lợi cho các nước phát triển – vốn là những quốc gia có sự phát triển mạnh mẽ về sở hữu trí tuệ, chưa có những quy định về các vấn đề như bảo hộ tri thức truyền thống. Hơn nữa, tại vòng đàm phán Urugoay, các nước phát triển đã đưa ra hàng loạt yêu cầu về thực thi những quy định của TRIPS đối với các nước đang phát triển nhưng không thành công do vượt quá 15 khả năng của các nước đang phát triển. Điều này dẫn tới việc đàm phán về vấn đề quyền SHTT đi vào bế tắc trong thể chế mậu dịch đa phương.
Bryan Christopher Mercurio, “Beyond the Text: The Significance of the Anti-Counterfeiting Trade Agreement”, Journal of International Economic Law Vol.15 (2012) 29 [86], đánh giá về Hiệp định thương mại Chống hàng giả (ACTA), tác giả cho rằng Hiệp định này thiên về hợp tác quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hơn là đưa ra một khuôn khổ mới về quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Hiệp định ACTA không có giá trị hoặc không đem đến những giải pháp, đặc biệt là đối với nhóm các quốc gia phát triển. Theo đó, tác giả đã phân tích và nhận định rằng tầm quan trọng thực sự của Hiệp định ACTA không nằm ở nghĩa vụ văn bản của chính Hiệp định này mà còn có tác dụng như là một điểm khởi đầu trong các cuộc đàm phán thương mại đa phương và song phương. Kanaga Raja, “Concerns raised over ACTA at TRIPS Council”, TWN Info Service on WTO and Trade Issues, 2010 [90], bài viết phân tích những vấn đề liên quan đến Hiệp định thương mại chống hàng giả (Anti- Counterfeiting Trade Agreement – ACTA).
Sự ra đời của Hiệp định ACTA là nỗ lực của các nước phát triển nhằm làm chậm quá trình suy thoái kinh tế thông qua việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, lợi ích của các nước phát triển phần nào bị bó hẹp trong khuôn khổ pháp lý đa phương hiện hành. Hiệp định ACTA được ra đời đã phần nào giải quyết được thách thức trên thông qua việc áp dụng phương thức một số nước đàm phán thỏa thuận và cùng ký kết hiệp định, sau đó hiệp định này sẽ được phép mở rộng ra cho các thành viên khác nếu như trường hợp họ muốn tham gia cùng. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo các điều ước quốc tế của các tác giả nước ngoài hầu hết chia sẻ chung các quan điểm của các công trình nghiên cứu trong nước.
Bên cạnh đó, nhóm 16 công trình này đem đến những góc nhìn đa chiều hơn khi phân tích về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các quốc gia, khu vực khác trên thế giới.2 Tình hình nghiên cứu về thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định CPTPP nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu đã chỉ ra được những nội dung cơ bản của thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ các hiệp định thương mại tự do về quyền SHTT. Bên cạnh đó, các công trình đã nhận diện và phân tích những điểm chưa tương thích, còn bất cập trong quy định của pháp luật SHTT như: nội dung, hành vi xâm phạm, biện pháp thực thi,…quyền sở hữu trí tuệ. Đây là nguồn tài liệu tham khảo chất lượng cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện các đề xuất, giải pháp nhằm đáp ứng các yêu cầu của Hiệp định CPTPP nói chung, và đối với Việt Nam nói riêng.