Tổng quan về luận án

Nghiên cứu "Quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Lương Thị Hòa (Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Mã số: 9380102, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2022) được thực hiện trong bối cảnh thể chế văn hóa Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi căn bản. Quản lý nhà nước (QLNN) đối với biểu diễn nghệ thuật (BDNT) không còn đơn thuần là công cụ duy trì trật tự chính trị - tư tưởng mà đã trở thành thiết chế trọng yếu thúc đẩy công nghiệp văn hóa. Theo Quyết định số 1909/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, quan điểm chỉ đạo khẳng định rõ: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế, chính trị, xã hội; bảo đảm yếu素 văn hóa và con người trong phát triển kinh tế; thích ứng với xu thế phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư...". Mục tiêu định lượng cụ thể được đặt ra là phấn đấu giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp văn hóa, trọng tâm là điện ảnh và NTBD, đóng góp 7% GDP vào năm 2030.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi mà luận án giải quyết là sự thiếu hụt một khung lý thuyết pháp lý hành chính tiếp cận dựa trên quyền (rights-based approach) nhằm thay thế tư duy quản lý hành chính can thiệp sâu mang tính tiền kiểm cấm đoán. Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận quản lý văn hóa dưới góc độ quản lý học (Lương Hồng Quang, 2004; Bùi Hoài Sơn, 2014) hoặc góc độ sân khấu thuần túy (Võ Thị Yến, 2001), chưa giải quyết thỏa đáng xung đột giữa quyền tự do sáng tạo nghệ thuật, quyền hưởng thụ văn hóa của công chúng theo Hiến pháp năm 2013 với yêu cầu quản lý nhà nước về an ninh tư tưởng, trật tự công cộng trong kỷ nguyên số.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết được xác lập chặt chẽ:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Cơ sở lý luận và chuẩn mực pháp lý nào bảo đảm sự cân bằng giữa quyền tự do biểu đạt nghệ thuật và kiểm soát trật tự công cộng trong quản lý nhà nước đối với BDNT?
  • Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Việc chuyển đổi mô hình từ tiền kiểm hành chính sang tiếp cận dựa trên quyền sẽ tối ưu hóa không gian sáng tạo nghệ thuật mà không làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Những bất cập thể chế nào xuất hiện khi chuyển đổi cơ chế quản lý từ Nghị định số 79/2012/NĐ-CP sang Nghị định số 144/2020/NĐ-CP đối với các loại hình BDNT chuyên nghiệp, không chuyên và không gian mạng?
  • Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Sự thiếu đồng bộ giữa các quy định chấp thuận biểu diễn và năng lực hậu kiểm dẫn đến khoảng trống quản lý đối với hoạt động nghệ thuật biểu diễn xuyên biên giới và trực tuyến.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Khung giải pháp pháp lý nào mang tính khả thi để nâng cấp văn bản quản trị ngành lên cấp độ Luật Biểu diễn nghệ thuật tại Việt Nam?
  • Giả thuyết nghiên cứu 3 (H3): Việc ban hành Luật Biểu diễn nghệ thuật chuyên biệt với cơ chế phân cấp minh bạch và tự chủ tài chính sẽ tạo động lực đạt mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030.

Phạm vi nghiên cứu bao quát 118 đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng BDNT trên toàn quốc (gồm 12 đơn vị Trung ương, 17 đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, 89 đơn vị địa phương) và danh sách 55 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo Quyết định số 527/QĐ-TTg, đặt trong khung thời gian so sánh đối chiếu sâu sắc giữa hai giai đoạn 1995-2012 và 2012 đến nay.

Literature Review và Positioning

Luận án tổng quan hệ thống y văn chuyên ngành trong nước qua hai giai đoạn lịch sử rõ nét. Giai đoạn 1992-2012 tập trung vào quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường với các nghiên cứu đặt nền móng: Lương Hồng Quang và Đỗ Thị Thanh Thủy (2004) qua giáo trình dịch "Nhập môn Quản lý Văn hóa nghệ thuật", Đinh Thị Vân Chi (2005) về phát triển thị trường văn hóa, Nguyễn Duy Bắc (2001) về lãnh đạo quản lý văn học nghệ thuật thời kỳ đổi mới. Giai đoạn từ 2012 đến nay đánh dấu bước chuyển mình sang nhà nước pháp quyền và quyền con người với các công trình của Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2014) về quản lý văn hóa trong hội nhập quốc tế, Nguyễn Huy Phòng (2018) về hoàn thiện thể chế văn hóa, Trần Quốc Toản (2018) về vai trò văn hóa trong đổi mới, cùng các luận án tiến sĩ chuyên sâu của Nguyễn Thị Kim Liên (2015) về công nghiệp văn hóa và Nguyễn Hoàng Chương (2017) về xã hội hóa sân khấu kịch.

Trên bình diện quốc tế, luận án định vị dựa trên các lý thuyết quản trị và kinh tế học văn hóa kinh điển: W.J. Byrnes (2009) trong Management and the Arts với nguyên lý phân bổ nguồn lực và chu trình quản trị tổ chức nghệ thuật; Harold Koontz, Cyril O'Donnell và Heinz Weihrich (1992) trong Những vấn đề cốt yếu của quản lý; James Heilbrun và Charles M. Gray (1993) trong The Economics of Art and Culture - An American Perspective phân tích cơ chế tài chính và thị trường nghệ thuật biểu diễn; David Throsby và Glenn A. Withers (1979) trong The Economics of the Performing Arts cùng Victor A. Ginsburgh (2006) trong Handbook of the Economics of Art and Culture về lý thuyết giá trị văn hóa và hành vi tiêu dùng nghệ thuật; Harry Hillman, Joni M. Cherbo và Margaret J. Wyszomirski (2000) trong The Public Life of the Arts in America với dữ liệu chứng minh 96% người dân Mỹ tham gia vào hoạt động nghệ thuật; David M. Conte và Stephen Langley (2007) trong Theatre Management về quản trị thương mại nhà hát.

Hai luồng quan điểm đối lập nổi bật trong y văn được luận án chỉ ra:

  1. Luồng quan điểm can thiệp hành chính bảo hộ (Administrative Protectionism): Coi BDNT thuần túy là công cụ tư tưởng chính trị, nhấn mạnh cơ chế quản lý mệnh lệnh, kiểm duyệt nội dung tiền kiểm gắt gao nhằm ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa và lệch chuẩn đạo đức.
  2. Luồng quan điểm thị trường tự do hóa (Market Liberalization): Xem sản phẩm BDNT là hàng hóa giải trí thuần túy chịu sự điều tiết của quy luật cung cầu, đòi hỏi dỡ bỏ các rào cản hành chính để tối đa hóa lợi nhuận kinh tế.

Luận án định vị nghiên cứu vào khoảng giữa của hai thái cực này bằng cách đề xuất mô hình "Quản trị phát triển dựa trên quyền", vừa bảo tồn 14 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh của Việt Nam, vừa phát triển công nghiệp biểu diễn theo chuẩn mực quốc tế thông qua so sánh với 3 trường hợp: Vương quốc Anh (mô hình tài trợ độc lập qua Hội đồng Nghệ thuật - Arm's Length Principle), Trung Quốc (mô hình kiểm soát chuyển đổi kép) và Hàn Quốc (Luật Xúc tiến biểu diễn nghệ thuật tạo nền tảng cho làn sóng Hallyu).

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đóng góp quan trọng vào khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính khi mở rộng phạm trù quyền con người vào quản lý hoạt động nghệ thuật. Thay vì tiếp cận theo hướng hành chính học truyền thống vốn coi chủ thể biểu diễn là đối tượng bị quản lý và phục tùng mệnh lệnh, luận án xây dựng hệ thống lý luận dựa trên tiếp cận quyền (rights-based approach):

  1. Làm rõ nội hàm quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng và quyền liên quan theo điểm b khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ và khoản 1 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP.
  2. Xác lập ranh giới pháp lý giữa "quyền tự do sáng tạo nghệ thuật" của nghệ sĩ với "quyền hưởng thụ văn hóa lành mạnh" của công chúng theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
  3. Chuyển dịch mô hình quản lý từ "nhà nước tiền kiểm, cấp phép" sang "nhà nước kiến tạo, chấp thuận và hậu kiểm minh bạch", tạo tiền đề lý luận cho việc xây dựng đạo luật chuyên ngành điều chỉnh hành vi biểu diễn.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Management) và Lý thuyết Kinh tế học văn hóa (Cultural Economics).

                             [KHUNG PHÂN TÍCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BDNT]
[Lý thuyết Tiếp cận Quyền]            [Quản trị Công mới - NPM]             [Kinh tế học Văn hóa]
                         [Ma trận phân loại quản lý đối tượng BDNT]

Khung phân tích phân định rõ ranh giới điều chỉnh qua ma trận 3 chiều:

  • Chiều tính chất chủ thể: BDNT chuyên nghiệp (điều chỉnh theo tiêu chuẩn nghệ thuật cao, đạo đức nghề nghiệp) đối lập với BDNT không chuyên (quản lý trật tự không gian công cộng, tính tự phát).
  • Chiều mục đích hoạt động: BDNT vì mục đích công (sử dụng ngân sách, phục vụ tuyên truyền, bảo tồn) đối lập với BDNT vì mục đích thương mại (kinh doanh phòng vé, quảng cáo, chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại, thuế và cạnh tranh).
  • Chiều không gian - thời gian: Nghệ thuật dân gian truyền thống (chính sách bảo hộ, ưu đãi nghệ nhân) đối lập với Nghệ thuật đương đại trên không gian mạng (quản lý an ninh dữ liệu, kiểm soát phát sóng trực tuyến).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ hình triết học Hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp phương pháp luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa. Thiết kế nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu luật học chuẩn tắc (Doctrinal Legal Research) kết hợp nghiên cứu luật học xã hội - so sánh (Comparative Socio-Legal Study). Nghiên cứu đa cấp độ (multi-level design) được triển khai qua 3 tầng nấc: tầng lập pháp vĩ mô (Quốc hội, Chính phủ), tầng điều hành thực thi trung gian (Bộ VHTTDL, Cục Nghệ thuật biểu diễn, UBND cấp tỉnh) và tầng cơ sở thụ hưởng (118 đơn vị sự nghiệp, nghệ sĩ biểu diễn và công chúng).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu được thiết kế chặt chẽ qua các bước:

  1. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật (Legal Mapping): Hệ thống hóa toàn bộ văn bản pháp lý từ Quyết định số 47/2004/QĐ-BVHTTDL, Nghị định số 79/2012/NĐ-CP đến Nghị định số 144/2020/NĐ-CP và Luật Sở hữu trí tuệ.
  2. Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Kết hợp nguồn dữ liệu báo cáo hành chính của Cục Nghệ thuật biểu diễn, biên bản thanh tra - xử phạt vi phạm hành chính thực tế, và dữ liệu khảo sát từ các đề tài cấp Bộ (Đinh Thị Vân Chi, 2005; Nguyễn Danh Ngà và cộng sự, 2001; Trương Nhuận, 2014).
  3. So sánh luật học quốc tế (Comparative Law): Phân tích kinh nghiệm thể chế của Vương quốc Anh, Trung Quốc và Hàn Quốc để rút ra bài học thích ứng cho hệ thống pháp luật Việt Nam.

Data và phân tích

Nghiên cứu sử dụng tập dữ liệu thực chứng gồm:

  • Số liệu mạng lưới 118 đơn vị sự nghiệp công lập nghệ thuật biểu diễn toàn quốc (12 đơn vị Trung ương, 17 đơn vị lực lượng vũ trang, 89 đơn vị địa phương).
  • Dữ liệu 55 đơn vị công lập thuộc Bộ VHTTDL theo Quyết định số 527/QĐ-TTg ngày 15/5/2018.
  • Số liệu thống kê dân số và tiếp cận số: Dân số Việt Nam đạt 97,8 triệu người (tháng 1/2021), trong đó dân số thành thị là 37,17 triệu người, tỷ lệ người sử dụng Internet chiếm 70,3% dân số.
  • Dữ liệu bảo tồn: 14 di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO vinh danh (Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Hát Ca trù, Hát Xoan Phú Thọ, Đờn ca tài tử Nam Bộ, Nghệ thuật Xòe Thái...).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Khoảng trống khái niệm và xung đột định chế trong Nghị định số 144/2020/NĐ-CP: Luận án chỉ ra điểm bất cập khi Điều 2 Nghị định 144/2020/NĐ-CP mở rộng phạm vi BDNT bao gồm cả "thi người đẹp, người mẫu hoặc kết hợp giữa loại hình nghệ thuật biểu diễn với trình diễn thời trang, các hoạt động văn hoá, thể thao". Việc gộp các cuộc thi sắc đẹp vào cùng khung pháp lý với nghệ thuật biểu diễn hàn lâm gây ra sự lẫn lộn tiêu chí quản lý thẩm mỹ và thương mại hóa quá đà.
  2. Xung đột giữa cơ chế "chấp thuận biểu diễn" và kiểm soát không gian mạng: Việc bãi bỏ thủ tục cấp phép chuyển sang hình thức văn bản chấp thuận tại Nghị định số 144/2020/NĐ-CP là bước tiến về cắt giảm thủ tục hành chính, nhưng lại tạo ra khoảng trống pháp lý lớn đối với hoạt động biểu diễn trực tuyến, phát trực tiếp (livestream) trên các nền tảng xuyên biên giới (YouTube, TikTok, Facebook), nơi có hơn 70,3% dân số tiếp cận nhưng cơ chế hậu kiểm chưa theo kịp tốc độ phát tán nội dung lệch chuẩn.
  3. Nghịch lý tự chủ tài chính tại 118 đơn vị nghệ thuật công lập: Thực tiễn chuyển đổi cơ chế tự chủ tài chính đẩy các đoàn nghệ thuật truyền thống (Tuồng, Chèo, Cải lương) vào nguy cơ khủng hoảng sinh tồn do không thể cạnh tranh thị phần với nghệ thuật đại chúng, trong khi cơ chế "đặt hàng công" của Nhà nước còn mang nặng tính bình quân, thiếu định mức kinh tế - kỹ thuật đặc thù.
  4. Tác động đa chiều của nghệ thuật đương đại: Trích dẫn nhận định từ nghiên cứu thực tiễn của Nguyễn Minh Quang (2020): "Nghệ thuật Đương đại luôn đề cao những cách tân hình thức chuyển tải, phát huy sự đa dạng trong cấu trúc không gian, mở rộng phạm vi và đối tượng tham gia sáng tạo, tôn trọng tính cực đoan của nghệ sĩ... Mặt trái của nó là: nhiều tác phẩm đã gây sự khó hiểu đối với cộng đồng người xem. Như một hệ quả tất yếu, bất kỳ một tác phẩm nào trông có vẻ 'khó hiểu' thường được gắn cho cái mác 'đương đại'...". Điều này tạo thách thức lớn cho các hội đồng thẩm định nghệ thuật vốn thiếu vắng tiêu chí định lượng chuẩn xác.

Implications đa chiều

  • Đóng góp lý luận: Luận án xác lập nền tảng lý luận pháp lý hành chính chuyên biệt cho ngành biểu diễn nghệ thuật, chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa bảo đảm quyền tự do biểu đạt theo Hiến pháp và duy trì trật tự pháp luật văn hóa.
  • Đổi mới phương pháp: Chuyển đổi phương pháp nghiên cứu luật thực định thuần túy sang phân tích luật học - kinh tế - xã hội học liên ngành trong môi trường kinh tế số.
  • Ứng dụng thực tiễn và chính sách:
    1. Kiến nghị Quốc hội đưa dự án xây dựng Luật Biểu diễn nghệ thuật vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để nâng cấp hiệu lực pháp lý từ cấp Nghị định lên cấp Luật.
    2. Tái cấu trúc thẩm quyền phân cấp giữa Bộ VHTTDL và UBND cấp tỉnh theo hướng phân định rõ trách nhiệm kiểm tra hậu kiểm, thay thế cơ chế thẩm định hình thức bằng trách nhiệm tự chịu trách nhiệm của đơn vị tổ chức.
    3. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính đặc thù, phân bổ ngân sách riêng biệt cho việc bảo tồn 14 di sản phi vật thể đại diện nhân loại, tách bạch với hoạt động BDNT thương mại đại chúng.

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận một số giới hạn nghiên cứu:

  • Giới hạn dữ liệu định lượng thương mại: Nguồn dữ liệu doanh thu, bán vé thực tế từ các đơn vị biểu diễn tư nhân và nền tảng giải trí trực tuyến chưa được thống kê đầy đủ do tính phân tán và bảo mật thương mại.
  • Giới hạn bối cảnh chuyển giao: Luận án được hoàn thành năm 2022, thời điểm Nghị định số 144/2020/NĐ-CP mới đi vào thực thi chưa lâu, chưa bao quát hết các vụ việc tranh chấp bản quyền phức tạp phát sinh sau giai đoạn đại dịch COVID-19.

Chương trình nghiên cứu tương lai được đề xuất với 4 hướng cụ thể:

  1. Nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh tác phẩm biểu diễn được tạo ra bởi Trí tuệ Nhân tạo (AI) và biểu diễn trong không gian thực tế ảo (Metaverse).
  2. Xây dựng mô hình định lượng đánh giá tác động kinh tế (Econometric Impact Assessment) của các chính sách thuế đối với ngành công nghiệp biểu diễn.
  3. Nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp quyền tác giả và quyền liên quan của người biểu diễn trên nền tảng kỹ thuật số xuyên biên giới.
  4. Đánh giá hiệu quả mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong đầu tư cơ sở hạ tầng thiết chế nhà hát và không gian biểu diễn công cộng.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Công trình cung cấp tài liệu tham khảo nền tảng cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Luật Kinh tế và Quản lý văn hóa; mở ra hướng tiếp cận quyền trong nghiên cứu luật chuyên ngành.
  • Chuyển đổi ngành công nghiệp: Cung cấp giải pháp quản trị cho 118 đơn vị sự nghiệp công lập và hàng trăm doanh nghiệp tổ chức biểu diễn tư nhân trong việc chuẩn hóa hợp đồng biểu diễn, thực thi quyền tác giả và minh bạch hóa thủ tục chấp thuận biểu diễn.
  • Tác động chính sách: Đóng góp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác rà soát, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hướng tới hiện thực hóa Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030.
  • Lợi ích xã hội: Nâng cao chất lượng thụ hưởng văn hóa tinh thần của hơn 97,8 triệu người dân Việt Nam, thiết lập môi trường nghệ thuật lành mạnh, hạn chế các biểu hiện "lệch chuẩn" và bảo tồn vững chắc di sản dân tộc.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên: Thụ hưởng khung lý thuyết tiếp cận quyền con người trong luật hành chính, hệ thống hóa toàn diện tư liệu luật học so sánh giữa Việt Nam, Anh, Trung Quốc và Hàn Quốc.
  • Cơ quan lập pháp và Quản lý nhà nước: Các cơ quan chủ trì soạn thảo luật, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Thanh tra Bộ VHTTDL có được luận cứ thực chứng để thiết kế quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thanh tra, xử lý vi phạm.
  • Các đơn vị nghệ thuật và Doanh nghiệp tổ chức sự kiện: Hiểu rõ cơ chế chấp thuận biểu diễn, giới hạn trách nhiệm pháp lý khi tổ chức chương trình và phương thức bảo vệ quyền biểu diễn tác phẩm.
  • Đội ngũ nghệ sĩ biểu diễn và Công chúng: Nắm vững quyền biểu đạt nghệ thuật chính đáng được pháp luật bảo vệ, đồng thời xác lập chuẩn mực ứng xử nghề nghiệp phù hợp với các giá trị văn hóa dân tộc.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Luận án đã mở rộng Lý thuyết Luật Hành chính và Lý thuyết Quyền con người bằng việc xác lập mô hình "Quản trị phát triển dựa trên quyền" (Rights-based Administrative Governance) trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật. Luận án chỉ ra rằng quản lý nhà nước không phải là sự hạn chế quyền mà là thiết lập hành lang pháp lý để bảo đảm thực thi đồng thời ba quyền hiến định: quyền tự do sáng tạo nghệ thuật của người biểu diễn, quyền kinh doanh của nhà tổ chức và quyền hưởng thụ văn hóa của công chúng.

  2. Đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây được thể hiện như thế nào? So với các nghiên cứu quản lý văn hóa đơn ngành của Lương Hồng Quang (2004) hay Bùi Hoài Sơn (2014), luận án tạo đột phá khi kết hợp phương pháp nghiên cứu luật học chuẩn tắc (Doctrinal Legal Research) với phân tích luật học so sánh liên quốc gia (Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc) và phương pháp xã hội học pháp luật, lượng hóa phạm vi điều chỉnh qua số liệu 118 đơn vị công lập và tỷ lệ 70,3% dân số sử dụng Internet.

  3. Phát hiện bất ngờ và có ý nghĩa thực tiễn nhất từ dữ liệu nghiên cứu là gì? Đó là "Nghịch lý khoảng trống hậu kiểm số": Việc chuyển đổi từ tiền kiểm (cấp phép) sang hậu kiểm (văn bản chấp thuận) tại Nghị định số 144/2020/NĐ-CP dù giảm tải thủ tục hành chính truyền thống nhưng lại làm gia tăng nguy cơ mất kiểm soát nội dung trên không gian mạng, nơi 37,17 triệu người dùng thành thị tiếp cận hàng ngày, do thiếu chế tài kỹ thuật số và cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ VHTTDL và Bộ Thông tin và Truyền thông.

  4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (replication protocol) không? Có. Quy trình nghiên cứu được chuẩn hóa qua hệ thống tiêu chí phân loại 3 chiều (Tính chất - Mục đích - Không gian/Thời gian), khung so sánh luật học 4 tiêu chí (Thẩm quyền - Thủ tục - Chế tài - Cơ chế bảo trợ), và bộ công cụ rà soát văn bản quy phạm pháp luật minh bạch, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng để đánh giá các lĩnh vực nghệ thuật khác như điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh.

  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm (2022-2032) được phác thảo ra sao? Lộ trình 10 năm gồm 3 giai đoạn: (1) 2022-2024: Đánh giá tác động thi hành Nghị định 144/2020/NĐ-CP và xây dựng dự thảo Luật Biểu diễn nghệ thuật; (2) 2025-2028: Thể chế hóa cơ chế tự chủ tài chính đặc thù và quỹ hỗ trợ biểu diễn nghệ thuật độc lập; (3) 2029-2032: Hoàn thiện khung pháp lý quản trị nghệ thuật biểu diễn số hóa, bảo vệ bản quyền trên không gian ảo và kiểm toán đóng góp 7% GDP của ngành công nghiệp văn hóa.

Kết luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và phát triển toàn diện cơ sở lý luận, khẳng định tính tất yếu khách quan của quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật dưới góc độ tiếp cận dựa trên quyền trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  2. Xác lập ranh giới khoa học giữa hai khái niệm "Nghệ thuật biểu diễn" (loại hình, tác phẩm nghệ thuật) và "Biểu diễn nghệ thuật" (hành vi thực hành, truyền tải sáng tạo lần hai trước công chúng) nhằm xác định chính xác đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật hành chính.
  3. Chỉ rõ những điểm nghẽn thể chế và xung đột quy định pháp lý giữa cơ chế quản lý cũ (Nghị định 79/2012/NĐ-CP) và cơ chế mới (Nghị định 144/2020/NĐ-CP), đặc biệt là tình trạng lẫn lộn giữa nghệ thuật biểu diễn hàn lâm và các cuộc thi sắc đẹp, người mẫu.
  4. Đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: nghiên cứu ban hành Luật Biểu diễn nghệ thuật, đổi mới mô hình tự chủ cho 118 đơn vị nghệ thuật công lập, hoàn thiện cơ chế đặt hàng công gắn với bảo tồn 14 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
  5. Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành và giải pháp công nghệ nhằm nâng cao năng lực hậu kiểm đối với các hoạt động biểu diễn trực tuyến trên không gian mạng, phục vụ đắc lực mục tiêu đóng góp 7% GDP của công nghiệp văn hóa theo Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.
  6. Đóng góp vào sự chuyển dịch hệ hình từ "quản lý hành chính mệnh lệnh" sang "quản trị kiến tạo phát triển", đặt nền móng lý luận vững chắc cho sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.