Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến QLNN về văn hóa nói chung và BDNT nói riêng được tổng hợp và phân tích dựa trên những thay đổi của pháp luật. Do đó, các công trình nghiên cứu này được chia thành hai giai đoạn đó là: (1) giai đoạn từ 1992 đến 2012 là giai đoạn mà nhà nước ta bước đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường, đất nước ta bước vào giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa, văn hóa nói chung và biểu diễn nghệ thuật nói riêng không chỉ ảnh hưởng bởi những thay đổi của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước. (2) giai đoạn từ 2012 đến nay là giai đoạn Nhà nước khẳng định rõ mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người.
Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy định quyền con người. Do đó, luận án đánh giá tình hình nghiên cứu hoạt động QLNN đối với văn hóa nói chung và BDNT nói riêng dựa trên việc phân chia thành các giai đoạn để từ đó là tiền đề đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật QLNN đối với BDNT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các công trình nghiên cứu giai đoạn từ năm 1992 - 2012 1. Các công trình sách, tạp chí xuất bản Giai đoạn 1992 đến 2012 là giai đoạn đất nước ta đẩy mạnh hoạt động giao lưu thương mại, bình thường hóa quan hệ với các quốc gia như Mỹ và đẩy mạnh quan hệ hợp tác, thu hút đầu tư.
Tại Việt Nam, có nhiều cuốn sách thống kê, tổng hợp về lịch sử ra đời, nội dung cơ bản các học thuyết quản lý như: Năm 2001, trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, tác giả Lương Hồng Quang có bài Quản lý văn hóa nghệ thuật, tổng thuật từ cuốn “Management and the Arts của W. Trong tổng thuật này, tác giả đã giới thiệu cho người đọc nhiều vấn đề có tính nguyên lý rất quan trọng trong quản lý văn hóa như: Khái niệm quản lý, nhà quản lý, cấp độ quản lý, tiến trình quản lý, kinh tế học và nghệ thuật, marketing, gây quỹ…. Đây là các vấn đề lý luận mới, quan trọng và cần thiết đối với hoạt động quản lý văn hóa nghệ thuật của nước ta trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay. Cũng nhằm mục đích cung cấp 8 Byrnes, W.J (2009), Management anh the Arts (Quản lý và nghệ thuật), 4th edition), Focal Press, London.
10 những kiến thức vấn đề cơ quan quản lý văn hóa nghệ thuật theo thực tiễn của các nước Âu - Mỹ, tập tài liệu Nhập môn Quản lý Văn hóa nghệ thuật do Lương Hồng Quang và Đỗ Thị Thanh Thủy dịch năm 20049. Nội dung gồm 7 chương, trong đó có những phần đề cập đến lịch sử quản lý, các trường phái khác nhau theo các thời kỳ lịch sử, các vấn đề như người lãnh đạo, nhân lực trong quản lý, kinh tế và nghệ thuật, quản lý tài chính…. Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận quản lý văn hóa trong thời kỳ đổi mới” (1996)10 đã bàn di sản văn hóa. Công trình lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới của tác giả Nguyễn Duy Bắc11 đã tuyển chọn các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo chính trị và bài viết của nhiều nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước (Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu…) xây dựng, phát triển văn học nghệ thuật, cùng các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu như Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Duy Bắc, Phạm Duy Đức, Phan Cự Đệ, Trần Văn Bính, Từ Sơn, Trần Đình Sử đưa đến nhiều góc độ, nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh chủ đề lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới.
Cuốn sách: “Văn học, nghệ thuật trong cơ chế thị trường và hội nhập” của Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (2008) đã đề cập đến những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách trong đời sống văn học, nghệ thuật nước ta hiện nay, cho thấy rõ những bước tiến, những thành tựu đã đạt được, những thách thức, trăn trở, những việc cần phải làm, phải rút kinh nghiệm. để văn học, nghệ thuật phát triển xứng đáng với dân tộc và thời đại. Trong cuốn này có một số bài viết của những nhà lý luận cũng như những nhà hoạt động thực tiễn lĩnh vực NTBD. Trong đó phải kể đến bài viết của nghệ sĩ nhân dân Chu Thúy Quỳnh (Chủ tịch Hội nghệ sĩ Múa Việt Nam): “Nghệ thuật biểu diễn trong cơ chế thị trường và hội nhập”.
Ở bài viết này, tác giả đã đề cập đến yêu cầu văn hóa nghệ thuật phục vụ xã hội, nhu cầu hưởng thụ ngày càng nhiều, làm thế nào để NTBD đi vào nền kinh tế thị trường được phát huy. Theo tác giả, cần phải XHH các bộ môn nghệ thuật lâu dài trong kinh tế thị trường, đây là điều rất nên và có tính khả thi. Ngoài ra, tác giả còn lưu ý đến vấn đề hội nhập và cho rằng đây là sách lược đúng đắn để học tập, tự khẳng định nghệ thuật nước nhà trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập mạnh mẽ. Một số bài viết khác như: “Sân khấu Việt Nam đương đại - bức tranh nhiều màu 9 Lương Hồng Quang, Đỗ Thị Thanh Thủy (2004), Nhập môn Quản lý Văn hóa nghệ thuật, Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam.
10 Nhà xuất bản chính trị quôc gia, 2006. 11 Nguyễn Duy Bắc (T.c) (2001), Về lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 11 nhưng không đậm nét” của NSƯT Lê Chức (Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam), “ tình hình âm nhạc hiện nay và những vấn đề bức xúc đang tồn tại” của Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân (Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam).
đã góp phần vẽ lên bức tranh thực trạng NTBD ở nước ta hiện nay. Cuốn “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Nguyễn Chí Bền làm chủ biên (2010)12 đã phác họa bức tranh toàn cảnh nền văn hóa Việt Nam theo dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại với mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội; đề cập đến hiện trạng và những tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với các thành tố của nền văn hóa dân tộc. Tác giả cho thấy trong bối cảnh đa dạng văn hóa như hiện nay, sự đối thoại giữa các nền văn hóa nhiều khi đóng vai trò quan trọng. Quá trình giao lưu văn hóa cần tính đến những giá trị chung, giá trị nhân loại, đồng thời thừa nhận cái khác biệt của quốc gia khác để các dân tộc khác thừa nhận cái khác biệt của Việt Nam.
Bài viết “Tổ chức nghệ thuật và vấn đề quản lý tài chính” (2004) của tác giả Lương Hồng Quang hay bài “ngành quản lý văn hóa” (2009) của tác giả Phạm Bích Huyền, cũng đề cập quản lý tài chính là nhiệm vụ quan trọng đối với nhà quản lý trong tổ chức nghệ thuật, đồng thời phân tích điểm giống và khác nhau trong quản lý tài chính của tổ chức lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận trong các tổ chức nói chung và tổ chức nghệ thuật nói riêng. Bài viết “Quản lý văn hóa ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Bùi Hoài Sơn, Phan Hồng Giang (2011).13 Bài viết đã tập trung phân tích kinh nghiệm quản lý văn hóa ở một số quốc gia như Vương Quốc Anh, Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc qua đó đề xuất một số kiến nghị cho Việt Nam như cần phải định hướng hoạt động văn hóa đi vào chiều sâu, tránh tình trạng phân tán không hiệu quả, cần tăng cường chính sách bảo hộ và chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa, cần nâng cao công tác đào tạo nhân lực QLVH. Các công trình nghiên cứu khác Ngoài các hình thức được xuất bản, thì còn có một sô công trình nghiên cứu liên quan đến BDNT và QLNN đối với BDNT được thực hiện các hình thức hội thảo, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Liên quan trực tiếp đến nội dung của đề tài này, có một số công trình nghiên cứu cụ thể sau đây: Đề tài nghiên cứu cấp bộ Các giải pháp quản lý nhà nước nhằm phát triển thị trường văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế (2005) do Đinh Thị Vân Chi 12 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành tháng 9-2010.
13 Tạp chí Cộng sản, số 819 (1-2011), Tạp chí Cộng sản, số 819 (1-2011). 12 làm chủ nhiệm. Với mục tiêu chính là đánh giá hiện trạng QLNN đối với thị trường văn hóa, phân tích nguyên nhân của những mặt hạn chế yếu kém, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp QLNN nhằm phát triển thị trường văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đề tài khoa học cấp bộ “Cơ chế tự chủ tài chính cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật và xã hội hóa hoạt động biểu diễn nghệ thuật nhìn từ góc độ tài chính” (2001) của nhóm tác giả Nguyễn Danh Ngà, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Linh của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch đã tìm hiểu những kinh nghiệm đầu tư ngân sách vào quản lý tài chính ở một số nước trên thế giới: Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc… để phân tích đặc điểm của hoạt động BDNT trong nền kinh tế thị trường, trong đó nhấn mạnh việc đầu tư ngân sách nhà nước và quản lý tài chính đối với hoạt động BDNT là khách quan và tất yếu.
Hội thảo khoa học do Cục nghệ thuật biểu diễn tổ chức bao gồm rất nhiều chủ đề như: Hội thảo khoa học năm 2006 của Cục nghệ thuật biểu diễn: “Thực trạng và giải pháp phát triển Nghệ thuật biểu diễn”; Hội thảo “Hoạt động xã hội hóa sân khấu trong giai đoạn hiện nay tại Tp. Hồ Chí Minh”; Hội thảo khoa học năm 2012 của Cục nghệ thuật biểu diễn “Thực trạng và giải pháp phát triển Nghệ thuật biểu diễn”; Hội thảo khoa học “Hoạt động XHH sân khấu trong giai đoạn hiện nay”. Hội thảo khoa học “giải pháp phát triển nghệ thuật biểu diễn” do Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) tổ chức đã khai mạc tại Hà Nội năm 2006. Các tham luận của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và nghệ sĩ biểu diễn đã tập trung vào việc phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động XHH nghệ thuật trong những năm qua, những tồn tại và đòi hỏi trong nhiều mặt của NTBD: đào tạo, nghệ sĩ biểu diễn, tác phẩm, công chúng và vai trò cuả các nhà quản lý.