Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong gần 30 năm đổi mới (từ năm 1986), những thành tựu quan trọng đã được thể hiện khá rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có đóng góp không thể thiếu của những đổi mới về cơ chế quản lý, trong đó, có QLNN về báo chí. Những thành tựu của báo chí thời gian này có sự đóng góp của một số nhà báo lớn. Không chỉ là những cây bút sắc bén từ thực tiễn, các tác giả như Phan Quang, Hữu Thọ, Hà Đăng, Tạ Ngọc Tấn… còn là những người đã tạo nền móng cho một nền lý luận báo chí thời kỳ đổi mới. Tháng 12-1986, Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra và thực hiện đường lối đổi mới.
Đây không chỉ là cơ sở lý luận quan trọng của sự đổi mới mà đối với lĩnh vực báo chí còn là mốc lịch sử kế thừa và phát triển các quan điểm của Đảng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của báo chí, đánh dấu một thời kỳ hoạt động lãnh đạo, quản lý chuyển sang một giai đoạn mới. QLNN đối với báo chí đã thực sự chuyển từ quản lý đến đâu phát triển đến đó sang quản lý phục vụ và đáp ứng nhu cầu phát triển, rồi quản lý tạo điều kiện cho phát triển. Từ năm 1997, internet chính thức vào Việt Nam, tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng của loại hình báo chí điện tử. Nhiều CQBC từ chỗ chỉ có một loại hình báo chí đã trở thành các cơ quan truyền thông đa phương tiện khi cùng lúc sở hữu và quản lý nhiều hình thức thông tin.
Trong khi các nhà báo nhanh chóng tiếp thu những thành tựu của công nghệ thông tin áp dụng vào hoạt động báo chí thì các nhà quản lý lại chậm hơn một nhịp. Một số văn bản ra đời khá kịp thời nhưng thực tế triển khai còn hạn chế. Nguyên nhân không chỉ do thiếu máy móc, thiết bị công nghệ mà một phần quan trọng là do năng lực quản lý, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ QLNN về 15 báo chí. Đây là mảng còn nhiều thiếu hụt mà nghiên cứu sinh muốn tiếp tục nghiên cứu.
Nhìn chung, thời kỳ này không chỉ thiếu một nền tảng lý luận về báo chí điện tử, truyền thông đa phương tiện mà trong thực tiễn, công tác QLNN cũng còn những hạn chế, bất cập, những quy định, những chế tài cho hoạt động của loại hình báo chí điện tử và truyền thông đa phương tiện chưa đầy đủ và chưa kịp thời. Báo chí điện tử và truyền thông đa phương tiện xuất hiện trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ đòi hỏi không chỉ một cách nhìn mới, một tư duy mới, mà còn đặt ra yêu cầu về một năng lực mới. Do vậy, khảo sát lại để kế thừa thành tựu của các nghiên cứu đi trước, tìm ra khoảng trống chưa được nghiên cứu để tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn, hoàn thiện hơn những vấn đề trong lý luận báo chí và QLNN về báo chí là cần thiết.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 1.1 Nhóm nghiên cứu lý luận chung về báo chí Nhóm sách đã xuất bản: - “Lịch sử báo chí Việt Nam” (1985), của Hồng Chương, Nxb. Sự thật đã khái quát lịch sử báo chí từ khi xuất hiện ấn phẩm báo chí đầu tiên ở Việt Nam năm 1865, dưới sự quản lý của chính quyền thực dân Pháp, báo chí chủ yếu là công cụ tuyên truyền của chế độ thực dân.
Thực dân Pháp đã ban hành những đạo luật, sắc lệnh về báo chí cho Đông Dương. Sắc lệnh ngày 30-12- 1898 đã đình chỉ việc thi hành luật TDBC, ngày 29-7-1881, của Chính phủ Pháp ở Đông Dương. Theo Sắc lệnh này, việc thành lập một tờ báo hay xuất bản phẩm định kì bằng bất cứ thứ tiếng nào đều có thể bị đình chỉ bởi nghị định của quan Toàn quyền và không một tờ báo tiếng Việt nào có thể xuất bản nếu không được phép của quan Toàn quyền. Báo chí từ sau Cách mạng Tháng Tám được hoạt động tự do để bảo vệ chính quyền Cách mạng non trẻ, phục vụ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; báo chí từ sau năm 1975 nặng về thông tin một chiều.
16 - Cũng tác giả Hồng Chương trong nghiên cứu “124 năm báo chí Việt Nam” (1985), Nxb. Bộ Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh đã giới thiệu tóm tắt lịch sử báo chí Việt Nam, nhất là báo chí cách mạng qua các thời kỳ. Qua đó, nói lên chức năng và vai trò của báo chí, hình thức và mức độ quản lý của Nhà nước đối với báo chí qua từng thời kỳ. - “Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình phát triển và hội nhập” của Đinh Văn Hường, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (http://www.vn/c/document library đã điểm lại tiến trình lịch sử báo chí Việt Nam từ khi có tờ Gia Định báo (năm 1865) đến nay, trong đó có 90 năm báo chí cách mạng Việt Nam (dấu mốc ra đời nền báo chí cách mạng Việt Nam là ngày 21-6-1925, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập báo Thanh niên.
Cuốn sách cũng khẳng định báo chí truyền thông đã có những đóng góp lớn cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. - “Tổng quan lịch sử báo chí Cách mạng Việt Nam (1925 - 2010)” (2010), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, của nhóm tác giả Đào Duy Quát, Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông đã khái lược lại hoạt động báo chí cách mạng từ khi ra đời. Trong số 6 chương, cuốn sách đã dành 2 chương cuối khái lược về “Báo chí Cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (1986 - 2000)” và “Báo chí Cách mạng Việt Nam trong thời kỳ tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2001 - 2010)”.
Đây cũng là thời kỳ hoạt động QLNN về báo chí được tăng cường một bước. Bộ Văn hóa - Thông tin nay là BTTVTT được xác định là cơ quan chịu trách nhiệm QLNN về báo chí. Trong khuôn khổ gần 500 trang, cuốn sách đã khái lược được những điểm mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam, tuy nhiên chưa đề cập một cách kỹ lưỡng và sâu sắc đến báo chí từ thời kỳ đổi mới năm 1986. 17 - “Cơ sở lý luận báo chí” (2005) của nhóm tác giả Tạ Ngọc Tấn, Trịnh Đình Thắng, Đinh Thế Huynh, Lê Mạnh Bỉnh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Nxb.
Lý luận chính trị; “Truyền thông đại chúng” (2001), Nxb. Chính trị quốc gia, của Tạ Ngọc Tấn; “Cơ sở lý luận báo chí” (2012), Nxb. Lao động, của Nguyễn Văn Dững; “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông”, các kỳ xuất bản năm 1995, 2004, 2005, do các Nxb. Văn hóa - thông tin, Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản, của Dương Xuân Sơn; “Cơ sở lý luận báo chí”, các kỳ xuất bản 2011, 2012, do Nxb.
Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, của Nguyễn Văn Hà;… đã cho rằng báo chí là một hình thức hoạt động truyền thông đại chúng, là loại hình thông tin chính trị - xã hội. Đồng thời, xác định các chức năng của báo chí, các nguyên tắc hoạt động báo chí; nêu những khái niệm cơ bản về báo chí, các loại hình báo chí truyền thống như báo in, phát thanh, truyền hình (không có báo chí điện tử). Đồng thời, đề cập đến một số vấn đề cơ bản về báo chí, như vị trí, vai trò của báo chí trong đời sống xã hội; đưa ra quan niệm chung về báo chí dưới góc độ phân tích, từ mong muốn đưa ra cái nhìn chung về một số vấn đề liên quan đến báo chí đã phân tích tính giai cấp của báo chí, TDBC, luật pháp và báo chí. - “Từ lý luận đến thực tiễn báo chí” (2000), do Nxb.
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội của Tạ Ngọc Tấn; “Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn” các kỳ xuất bản năm 1994, 1996, 1997, 2001, 2010 do các Nxb. Giáo dục, Nxb. Đại học quốc gia xuất bản; “Cơ sở lý luận báo chí - Đặc tính chung và phong cách” (2000), Nxb. Đại học quốc gia của Hà Minh Đức; “Báo chí: Những điểm nhìn từ thực tiễn” (2000), của nhóm tác giả Nguyễn Văn Dững, Hồ Bất Khuất, Nxb.
Văn hóa - Thông tin đã làm sáng rõ một số phạm trù, khái niệm cơ bản; tìm ra mối quan hệ bên trong, các sự liên hệ trong quá trình vận hành với các tiến trình xã hội; đưa ra các quy luật, phương pháp nguyên tắc, con đường nhằm tăng cường chất lượng hoạt động của báo chí và các cơ quan quản lý báo chí. 18 - “Báo in Việt Nam thời kỳ đổi mới: tiếp cận dưới góc độ báo chí học và khoa học chính trị” (2013); “Báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới: từ năm 1986 đến nay” (2013), đều do Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản, của Dương Xuân Sơn, đã tiếp cận sâu vào loại hình báo in, vốn là loại hình báo chí chủ đạo trong thời kỳ đầu thực hiện công cuộc đổi mới; khẳng định những đóng góp của báo chí trong thời kỳ đổi mới. - “Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí, xuất bản” (2011) của BTTVTT, do Nxb.
Thông tin và Truyền thông xuất bản mặc dù đưa ra những khái niệm cơ bản về Internet,… thì vẫn thiếu hụt những khái niệm về báo chí điện tử. Tài liệu cũng khẳng định tính tranh cãi ngay cả từ tên gọi của loại hình báo chí này. Tài liệu sử dụng tên Báo mạng điện tử cũng là trên cơ sở lý giải tên gọi này đã được Học viện Báo chí và Tuyên truyền dùng theo mã số đăng ký tuyển sinh chuyên ngành từ năm 2003 với Bộ Giáo dục và Đào tạo. - “Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản” (2011), của Nguyễn Thị Trường Giang, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Nxb.
Chính trị - Hành chính, Hà Nội, cung cấp một số thông tin về tình hình phát triển mạng internet ở Việt Nam, hoạt động của các trang báo điện tử, tuy nhiên đề cập đến hoạt động quản lý báo mạng điện tử thì tác giả mới chỉ liệt kê một số văn bản chỉ thị của Đảng, Chính phủ liên quan đến hoạt động quản lý tức là mới đề cập ở khía cạnh quản lý bằng pháp luật mà chưa có sự phân tích sâu về hiệu quả thực tế của các văn bản này cũng như những khía cạnh khác của họat động QLNN đối với lĩnh vực báo chí.