Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 62 34 04 03) với đề tài "Quản lý nhà nước về báo chí ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Mai Anh thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hữu Khiển và TS. Tạ Ngọc Tấn, bảo vệ năm 2016 tại Hà Nội.
Về tính cấp thiết, báo chí Việt Nam được xác định là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu, chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân. Từ Đại hội VI năm 1986, công cuộc đổi mới tạo điều kiện cho báo chí phát triển mạnh mẽ về quy mô, số lượng cơ quan báo chí, ấn phẩm, loại hình, công nghệ truyền dẫn và đội ngũ người làm báo. Tuy nhiên, thực tiễn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã làm nảy sinh nhiều hạn chế: xu hướng thương mại hóa, khuynh hướng tư nhân hóa báo chí, tình trạng xa rời tôn chỉ mục đích, thông tin sai sự thật, vi phạm bản quyền và suy thoái đạo đức nghề nghiệp ở một bộ phận người làm báo. Cùng với đó, sự phát triển của internet, công nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện đã tạo ra phương thức lan truyền thông tin tức thì, đa chiều, đặt công tác quản lý trước những thách thức phức tạp. Mặt khác, các thế lực thù địch lợi dụng báo chí thúc đẩy diễn biến hòa bình; kinh nghiệm từ các cuộc biến động chính trị ở Trung Đông cho thấy tác động trực tiếp của truyền thông đối với an ninh quốc gia. Trong khi đó, hoạt động quản lý nhà nước chưa theo kịp thực tiễn, cơ chế chính sách còn thiếu linh hoạt, tổ chức bộ máy và nhân lực quản lý còn nhiều bất cập.
Về mục tiêu nghiên cứu, luận án hướng tới:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học về báo chí và quản lý nhà nước về báo chí.
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về báo chí từ khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986 đến năm 2016.
- Đề xuất bổ sung điểm mới cho một số khái niệm liên quan đến báo chí và quản lý nhà nước về báo chí.
- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về báo chí ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản cụ thể hóa thành 4 nội dung:
- Nghiên cứu các công trình đã công bố liên quan đến báo chí và quản lý nhà nước về báo chí, nhận diện các khoảng trống khoa học để nghiên cứu sâu.
- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở khoa học về báo chí và quản lý nhà nước về báo chí.
- Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về báo chí trên các phương diện: tổ chức bộ máy, cơ chế điều hành, nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính và hệ thống pháp luật; phân tích nguyên nhân của hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về báo chí ở nước ta.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý nhà nước về báo chí.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào kiến thức lý luận chung về báo chí, quản lý nhà nước về báo chí; hệ thống pháp luật quản lý; tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức quản lý; cơ chế phối hợp liên ngành; công tác thanh tra, kiểm tra; nguồn lực tài chính; nhận thức về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong bối cảnh thực thi Hiến pháp năm 2013.
- Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung khảo sát thực tiễn tại các trung tâm báo chí lớn gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát từ mốc khởi đầu công cuộc đổi mới năm 1986 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2016).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành các nhóm chuyên biệt:
Nhóm nghiên cứu lý luận chung về báo chí trong nước:
- Công trình lịch sử báo chí: Hồng Chương với "Lịch sử báo chí Việt Nam" (1985, Nxb. Sự thật) và "124 năm báo chí Việt Nam" (1985, Nxb. Bộ Tư pháp TP. Hồ Chí Minh) phân tích lịch sử báo chí từ năm 1865, chỉ rõ các đạo luật của thực dân Pháp và sự chuyển biến sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945; Đào Duy Quát, Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông với "Tổng quan lịch sử báo chí Cách mạng Việt Nam (1925 - 2010)" (2010, Nxb. Chính trị Quốc gia) phân tích chặng đường phát triển gắn với vai trò cơ quan quản lý nhà nước; Đinh Văn Hường nghiên cứu "Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình phát triển và hội nhập" xác định mốc ra đời báo chí cách mạng ngày 21-6-1925.
- Giáo trình và lý luận báo chí: Tạ Ngọc Tấn cùng nhóm tác giả Trịnh Đình Thắng, Đinh Thế Huynh, Lê Mạnh Bỉnh với "Cơ sở lý luận báo chí" (2005, Nxb. Lý luận chính trị); Tạ Ngọc Tấn với "Truyền thông đại chúng" (2001, Nxb. Chính trị quốc gia) và "Từ lý luận đến thực tiễn báo chí" (2000, Nxb. Văn hóa - Thông tin); Nguyễn Văn Dững với "Cơ sở lý luận báo chí" (2012, Nxb. Lao động) và "Báo chí: Những điểm nhìn từ thực tiễn" (2000, đồng tác giả Hồ Bất Khuất); Dương Xuân Sơn với "Cơ sở lý luận báo chí truyền thông" (1995, 2004, 2005) và "Báo in Việt Nam thời kỳ đổi mới..." (2013, Nxb. ĐHQG Hà Nội); Nguyễn Văn Hà với "Cơ sở lý luận báo chí" (2011, 2012, Nxb. ĐHQG TP. Hồ Chí Minh); Hà Minh Đức với "Cơ sở lý luận báo chí - Đặc tính chung và phong cách" (2000). Các công trình này phân tích chức năng, nguyên tắc, tính giai cấp của báo chí nhưng chủ yếu tập trung vào báo in truyền thống, thiếu vắng cơ sở lý luận về báo điện tử và truyền thông đa phương tiện.
- Nghiên cứu về báo mạng điện tử: Bộ Thông tin và Truyền thông với "Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí, xuất bản" (2011); Nguyễn Thị Trường Giang với "Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản" (2011, Nxb. Chính trị - Hành chính); luận án tiến sĩ của Nguyễn Vũ Tiến (2003) nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí.
Nhóm nghiên cứu quản lý nhà nước về báo chí trong nước:
- Đậu Ngọc Đản với "Báo chí với sự nghiệp đổi mới" (1995, Nxb. Lao động); Vũ Hiền với "Báo chí trong đấu tranh chống diễn biến hòa bình" (2000, Nxb. Chính trị Quốc gia); Vụ Báo chí - Bộ Thông tin và Truyền thông với "Báo chí trong kinh tế thị trường" (2003, Nxb. Thông tấn); Nguyễn Thế Kỷ với "Công tác lãnh đạo quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới" (2012, Nxb. Chính trị quốc gia); Hoàng Quốc Bảo chủ biên "Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay" (2010, Nxb. Chính trị - Hành chính); Lê Thanh Bình với "Quản lý và phát triển báo chí xuất bản" (2004) và "QLNN và pháp luật về báo chí" (2009, đồng tác giả Phí Thị Thanh Tâm); Trần Quang Nhiếp với "Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay" (2002); Vũ Ngọc Thanh (2009) và Nguyễn Văn Dững (2009) về công tác đào tạo cán bộ quản lý.
- Luận văn, đề tài chuyên ngành: Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Quỳnh Hoa (2001) về thông tin đối ngoại; Chử Thị Kim Hoa (2002) khảo sát văn bản quy phạm pháp luật 1986 - 2001; đề tài nghiên cứu cấp cơ sở của Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2007) và luận văn của Vũ Thị Huệ (2004) về quản lý báo mạng điện tử; các bài báo khoa học của Bùi Đình Khôi (1997), Nguyễn Đức Bình (1995), Đỗ Quý Doãn (2003), Tô Huy Rứa (2007), Phạm Quang Nghị (2007), Tạ Ngọc Tấn (2007), Hồng Vinh (2007, 2013) và Nguyễn Bắc Son (2014).
Nhóm nghiên cứu ngoài nước:
- Lý luận báo chí thế giới: Tác phẩm "Bốn học thuyết truyền thông" (Four theories of the press, 1956; bản dịch tiếng Việt năm 2013, Nxb. Tri thức) của Fred Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm phân loại 4 mô hình: độc đoán, tự do, trách nhiệm xã hội và toàn trị Xô-Viết; Hachten (1981) phát triển thành 5 mô hình; Denis McQuail (1983) bổ sung mô hình báo chí phát triển và báo chí tham gia dân chủ; E. Prokhorop với giáo trình "Cơ sở lý luận báo chí" (2001); Đinh Thị Thúy Hằng với "Báo chí thế giới và xu hướng phát triển" (2008); Christopher H. Sterling chủ biên "Encyclopedia of Journalism" (2009).
- Quản lý báo chí thế giới: X. Mikhailốp với "Báo chí hiện đại nước ngoài: Những quy tắc và nghịch lý" (2004); Claudia Mast với "Truyền thông đại chúng - Những kiến thức cơ bản"; Philippe Breton và Serge Proulx (2000) về bùng nổ truyền thông tại Mỹ.
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Trọng tâm phân tích trong văn bản |
| Lý luận báo chí trong nước |
Hồng Chương (1985), Tạ Ngọc Tấn (2000, 2001, 2005), Đào Duy Quát và cộng sự (2010), Dương Xuân Sơn (2013). |
Lịch sử báo chí cách mạng, chức năng thông tin, tư tưởng, bản chất giai cấp; chủ yếu phân tích báo in truyền thống. |
| Quản lý nhà nước về báo chí trong nước |
Lê Thanh Bình (2004, 2009), Nguyễn Thế Kỷ (2012), Hoàng Quốc Bảo (2010), Đỗ Quý Doãn (2003), Nguyễn Bắc Son (2014). |
Thực trạng quản lý bằng pháp luật, mặt trái kinh tế thị trường, hạn chế trong tổ chức bộ máy và thanh tra kiểm tra. |
| Lý thuyết truyền thông thế giới |
Fred Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm (1956); Denis McQuail (1983); Christopher H. Sterling (2009). |
Bốn học thuyết báo chí, sự chi phối của thể chế chính trị và cấu trúc xã hội đối với mô hình truyền thông. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định giải quyết gồm hai khía cạnh:
- Về lý luận: Bổ sung định nghĩa mới cho các khái niệm báo chí, truyền hình, báo điện tử, truyền thông đa phương tiện phù hợp với kỷ nguyên số; làm rõ cơ sở lý luận về tự do báo chí, tự do ngôn luận trong điều kiện một Đảng cầm quyền; hoàn thiện lý luận quản lý nhà nước theo hướng kiến tạo và phục vụ phát triển trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Về thực tiễn: Khảo sát đồng bộ 30 năm đổi mới (1986 - 2016); tích hợp khung pháp lý mới theo Hiến pháp năm 2013 (Điều 25 về quyền con người, quyền công dân); đánh giá toàn diện 4 trụ cột thực thi (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức bộ máy cơ quan quản lý, đội ngũ công chức thực thi, công tác thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ khoa học Quản lý công, kết hợp lý luận báo chí học và khoa học pháp lý. Các khái niệm, khung lý thuyết và nội dung quy phạm được xác lập như sau:
Hệ thống khái niệm và khung phân tích:
- Khái niệm báo chí: Văn bản so sánh hai luồng quan điểm: quan điểm tư sản coi báo chí là "quyền lực thứ tư" giám sát tam quyền phân lập; quan điểm vô sản coi báo chí là công cụ tư tưởng, cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng. Phê phán các định nghĩa trong Đại Từ điển tiếng Việt, Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) và Luật Báo chí sửa đổi năm 1999 là chưa phản ánh đầy đủ tính tương tác tức thì và tính đa phương tiện, tác giả đề xuất định nghĩa: "Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyền đạt thông tin về các vấn đề diễn ra trong đời sống xã hội một cách nhanh chóng, chính xác, và trung thực đến đông đảo công chúng. Một số loại hình báo chí có tính tương tác đa chiều nhanh chóng, tức thì với công chúng bạn đọc; là một hoạt động chính trị - xã hội, là công cụ tuyên truyền của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; là diễn đàn của nhân dân".
- Các loại hình báo chí: Báo in (xuất hiện từ tờ Gia Định báo năm 1865, có ưu thế phân tích sâu nhưng phát tán chậm); Phát thanh (truyền tải âm thanh bằng sóng điện từ, có tính cơ động cao); Truyền hình (kết hợp hình ảnh, âm thanh, tương tác trực tiếp qua môi trường internet); Báo điện tử (sử dụng mạng internet cung cấp nội dung bằng văn bản, ảnh, âm thanh, video, tương tác trực tuyến tức thì).
- Thuật ngữ liên quan: Truyền thông (trích dẫn định nghĩa của Frank Dance, Từ điển xã hội học của G. Tromnsdorff, Viện Ngôn ngữ học); Truyền thông đại chúng (dẫn chiếu Trần Hữu Quang, Tạ Ngọc Tấn); Truyền thông đa phương tiện (Multimedia - truyền tải thông tin đồng thời qua chữ viết, âm thanh, hình ảnh trên nền tảng internet); Mạng xã hội (hệ thống giao lưu chia sẻ thông tin; lược sử từ Classmate 1995, SixDegrees 1997, Friendster 2002, MySpace 2004 đến Facebook 2006; khẳng định mạng xã hội không phải là báo chí và không chịu sự điều chỉnh của Luật Báo chí); Trang thông tin điện tử (phân loại theo Nghị định số 97/2008/NĐ-CP và Nghị định số 72/2013/NĐ-CP thành trang tổng hợp, trang nội bộ và trang cá nhân).
- Tự do báo chí và tự do ngôn luận: Đối chiếu quan điểm của Carl Becker, John Stuart Mill, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp năm 1789, Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR - quy định quyền tự do ngôn luận kèm theo trách nhiệm và có thể bị giới hạn bởi luật để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội); phân tích quy định pháp luật hạn chế lạm dụng tự do báo chí tại Anh (Điều 1053 Chương 2 Bộ luật về tội phạm chống Chính phủ và xã hội) và Mỹ (Đạo luật Phản loạn năm 1798, Điều 2385 Chương 115 Bộ luật Hình sự Mỹ). Khảo cứu lịch sử thể chế tại Việt Nam qua các văn bản thời kỳ Pháp thuộc (Sắc lệnh năm 1898, Luật Báo chí năm 1927, 1935, 1939), văn bản của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Sắc lệnh ngày 10/10/1945, Sắc lệnh 282-SL năm 1956, Luật số 100/SL-L-02 năm 1957 không kiểm duyệt trước khi in), các sắc lệnh của chính quyền Sài Gòn (Sắc lệnh 23/TTP năm 1956, Sắc lệnh 18/64, Quy chế Báo chí 1969, Sắc lệnh 007 năm 1972) và giai đoạn thống nhất (Luật Báo chí năm 1989, sửa đổi năm 1999, Điều 25 Hiến pháp năm 2013).
- Quản lý nhà nước về báo chí: Xác định quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển và kiểm soát; QLNN về báo chí là việc thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật để điều chỉnh hoạt động báo chí. Nêu rõ đặc thù thể chế chính trị một Đảng cầm quyền lãnh đạo trực tiếp Nhà nước và xã hội (dẫn chiếu Đặng Đình Tân; Chỉ thị số 63-CT/TW ngày 25-7-1990 của Ban Bí thư; Kết luận của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương 10 khóa XI về Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025).
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp tiếp cận hệ thống.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tổng hợp và phân tích tài liệu; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh; tổng kết thực tiễn; quan sát trực tiếp; nghiên cứu chuyên gia; phương pháp kế thừa khoa học.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Văn kiện Đảng, văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử.
- Báo cáo nghiệp vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Ngoại giao, Hội Nhà báo Việt Nam.
- Dữ liệu thứ cấp về thái độ, mục đích và tỷ lệ sử dụng internet, số liệu thu hồi thẻ nhà báo từ năm 1998 đến năm 2014.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1 - Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương này dành 20 trang (từ trang 11 đến trang 30) để hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài. Luận điểm trọng tâm của chương khẳng định rằng sau Đại hội VI (1986), hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí tại Việt Nam đã có sự chuyển dịch mang tính bản chất: chuyển từ phương thức "quản lý đến đâu phát triển đến đó" sang "quản lý phục vụ và đáp ứng nhu cầu phát triển", và từng bước tiến tới "quản lý tạo điều kiện cho phát triển". Khi internet xuất hiện tại Việt Nam từ năm 1997, sự bùng nổ của báo điện tử và mô hình truyền thông đa phương tiện đã bộc lộ độ trễ của công tác quản lý do thiếu hụt khung lý thuyết và năng lực ứng dụng công nghệ của cán bộ quản lý. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng, hoặc khảo sát từng lát cắt hẹp (từng loại hình báo chí đơn lẻ, từng giai đoạn ngắn), chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, có hệ thống về quản lý nhà nước đối với báo chí trong suốt 30 năm đổi mới.
Chương 2 - Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về báo chí
Chương 2 (từ trang 31 đến trang 75) tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng. Tác giả phân tích cấu trúc 5 chức năng cơ bản của báo chí trong đời sống xã hội: chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức năng phản biện xã hội, chức năng giải trí và tính chất hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thị trường. Về tự do báo chí, luận án luận giải quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí không phải là sự thoát ly vô hạn độ mà luôn vận hành trong khuôn khổ pháp luật quốc gia và phù hợp với các cam kết quốc tế. Về lý luận quản lý nhà nước, tác giả xây dựng định nghĩa khoa học về quản lý nhà nước đối với báo chí, xác định rõ đặc thù của thể chế chính trị Việt Nam là sự gắn kết hữu cơ giữa sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và hiệu lực quản lý bằng pháp luật của Nhà nước. Chương này cũng phân tích kinh nghiệm quản lý báo chí của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra các bài học tham chiếu cho Việt Nam trong việc xác lập giới hạn can thiệp hành chính, lộ trình xem xét vấn đề kinh tế báo chí và các điều kiện cần thiết để hội nhập quốc tế.
Chương 3 - Thực trạng quản lý nhà nước về báo chí thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
Chương 3 (từ trang 76 đến trang 130) phân tích bức tranh thực tiễn quản lý qua 4 nhóm nội dung cụ thể:
- Hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về báo chí: Đánh giá quá trình thi hành Luật Báo chí năm 1989, Luật Báo chí sửa đổi năm 1999 và các văn bản hướng dẫn; nhận định hệ thống pháp luật đã tạo hành lang pháp lý cơ bản nhưng bộc lộ nhiều điểm chồng chéo, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp ở một số chế định như cải chính thông tin, quyền tiếp cận thông tin, quảng cáo và quy định nộp lưu chiểu. Đặc biệt, việc cụ thể hóa Điều 25 Hiến pháp năm 2013 vào pháp luật chuyên ngành còn chậm.
- Tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý: Đánh giá sự chuyển đổi từ Bộ Văn hóa - Thông tin sang Bộ Thông tin và Truyền thông, hệ thống Sở Thông tin và Truyền thông tại các địa phương; chỉ ra sự thiếu ổn định trong bộ máy và mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với Ban Tuyên giáo các cấp còn thiếu tính thường xuyên, liên tục.
- Đội ngũ cán bộ, công chức quản lý: Nhận diện khoảng trống trong công tác đào tạo và bố trí sử dụng; đội ngũ cán bộ còn hạn chế về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ báo chí, kỹ năng quản lý hành chính và khả năng làm chủ công nghệ thông tin.
- Công tác thanh tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật: Phân tích hoạt động xử lý sai phạm, khẳng định công tác thanh tra chưa bao quát, biện pháp xử lý chưa đủ tính răn đe.
Để minh chứng cho các luận điểm, tác giả sử dụng hệ thống biểu đồ và số liệu thực tế được tổng hợp trong danh mục hình:
| Ký hiệu |
Tên hình trong văn bản |
Trang |
Nội dung thể hiện |
| Hình 3.1 |
Tổng quan thái độ với internet |
72 |
Tỷ lệ nhận thức và mức độ quan tâm của xã hội đối với mạng internet |
| Hình 3.2 |
Mục đích sử dụng internet |
72 |
Cơ cấu các mục đích sử dụng internet của người dùng trong nước |
| Hình 3.3 |
Biểu đồ dân số sử dụng các loại hình báo chí ở Việt Nam |
73 |
So sánh tỷ lệ dân số tiếp cận báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử |
| Hình 3.4 |
Số người sử dụng internet và tỷ lệ trên tổng số dân ở Việt Nam |
74 |
Quy mô người dùng internet và tốc độ gia tăng tỷ lệ tiếp cận toàn quốc |
| Hình 3.5 |
Số nhà báo bị thu thẻ từ năm 1998 đến năm 2014 |
108 |
Thống kê số lượng thẻ nhà báo bị thu hồi do vi phạm quy định nghiệp vụ và pháp luật |
Từ thực trạng trên, chương 3 đúc kết các nguyên nhân chủ quan, khách quan và rút ra các bài học kinh nghiệm về sự nhạy bén chính trị, sự phối hợp đồng bộ và tính nghiêm minh trong xử lý sai phạm.
Chương 4 - Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về báo chí
Chương 4 (từ trang 131 đến trang 157) đưa ra các định hướng và giải pháp dựa trên bối cảnh tác động của mạng xã hội, đa phương tiện và hội nhập quốc tế (thể hiện qua Hình 4.1: Tỷ lệ người sử dụng internet theo mục đích và độ tuổi, trang 126). Tác giả quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Kết luận của Bộ Chính trị về Đề án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, đề xuất 6 nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về báo chí (đồng bộ hóa với Hiến pháp năm 2013, sửa đổi Luật Báo chí, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do báo chí gắn liền với trách nhiệm pháp lý).
- Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí (tinh gọn tổ chức, phân định rành mạch thẩm quyền giữa các bộ ngành và địa phương).
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về báo chí (chuẩn hóa ngạch bậc, đào tạo chuyên sâu về kỹ năng báo chí hiện đại, công nghệ thông tin và bản lĩnh chính trị).
- Tăng cường các nguồn lực tài chính (đầu tư phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác giám sát thông tin, lưu chiểu điện tử).
- Tăng cường hợp tác quốc tế (chia sẻ kinh nghiệm xử lý tranh chấp truyền thông xuyên biên giới, bản quyền và quản trị mạng).
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra (kiểm tra định kỳ, hậu kiểm thông tin điện tử, xử lý nghiêm minh các vi phạm nhằm thiết lập kỷ cương).
Kết quả và những đóng góp mới
Theo tuyên bố tự thân của tác giả trong văn bản, luận án đạt được các kết quả và đóng góp mới sau:
Về lý luận:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về báo chí trong kỷ nguyên truyền thông đa phương tiện; đề xuất bổ sung tiêu chí khoa học và định nghĩa mới cho các khái niệm cốt lõi: báo chí, truyền hình, báo chí điện tử, truyền thông, truyền thông đại chúng, truyền thông đa phương tiện và tự do báo chí.
- Bổ sung hệ thống cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với báo chí: làm rõ nội hàm, đặc điểm, phương thức quản lý trong bối cảnh truyền thông số; luận giải mức độ điều tiết của Nhà nước, điều kiện và thời điểm xem xét vấn đề tư nhân hóa báo chí; khẳng định quản lý nhà nước phải bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đồng thời tạo môi trường pháp lý cho báo chí phát triển và hội nhập quốc tế.
Về thực tiễn:
- Cung cấp công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về thực trạng quản lý nhà nước đối với báo chí tại Việt Nam trong suốt giai đoạn từ khi bắt đầu đổi mới năm 1986 đến năm 2016.
- Nhận diện toàn diện các mặt ưu điểm và những điểm nghẽn, yếu kém trong hệ thống pháp luật, cơ cấu tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ công chức và công tác thanh tra, xử lý vi phạm.
- Đúc kết các bài học kinh nghiệm thực tiễn và xây dựng hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về báo chí, đáp ứng các yêu cầu đặt ra từ Hiến pháp năm 2013.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được văn bản ghi nhận:
- Về phạm vi không gian: Luận án tập trung khảo sát chủ yếu tại ba trung tâm đô thị lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng), do đó mức độ bao quát thực tiễn hoạt động báo chí và quản lý báo chí tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa – nơi hệ thống truyền thanh và phát thanh cơ sở chiếm vai trò chủ đạo – chưa được đào sâu tương xứng.
- Về phạm vi dữ liệu: Chuỗi số liệu thống kê thực tế về công tác thanh tra, xử lý vi phạm và thu hồi thẻ nhà báo dừng lại ở mốc năm 2014 (Hình 3.5), chưa cập nhật toàn diện giai đoạn 2015 - 2016.
- Về phạm vi đối tượng: Luận án phân định ranh giới và xác định mạng xã hội không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Báo chí, do đó công trình chưa đi sâu giải quyết cơ chế phối hợp kỹ thuật - công nghệ trong việc xử lý thông tin trên mạng xã hội có tác động tương hỗ với cơ quan báo chí.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá tác động thực thi của Luật Báo chí mới sau khi được Quốc hội thông qua năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin đối với hoạt động quản lý công.
- Nghiên cứu mô hình tự chủ tài chính và quản trị kinh tế báo chí đối với các cơ quan báo chí chủ lực, đa phương tiện theo lộ trình Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.
- Nghiên cứu các giải pháp công nghệ chuyên sâu phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm soát thông tin báo chí trên môi trường số xuyên biên giới.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Các phân tích về bất cập trong văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế cải chính thông tin, quản lý báo điện tử và 6 nhóm giải pháp tại Chương 4 là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, các Sở Thông tin và Truyền thông trong việc hoàn thiện thể chế và triển khai Quy hoạch báo chí.
- Đối với các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo: Cung cấp khung khổ pháp lý, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đúng quy định pháp luật.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Giáo trình, tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Báo chí học, Truyền thông đại chúng và Chính sách công tại Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; đặc biệt là khung lý luận về tự do báo chí và hệ thống định nghĩa mới ở Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Định nghĩa "Báo chí" do tác giả luận án đề xuất có điểm gì mới so với quy định trong Luật Báo chí năm 1999?
Luật Báo chí sửa đổi năm 1999 không đưa ra định nghĩa báo chí cụ thể mà chỉ liệt kê vai trò, chức năng và các loại hình. Tác giả luận án đề xuất bổ sung các thuộc tính khoa học mới: nhấn mạnh báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyền đạt thông tin nhanh chóng, chính xác, trung thực; chỉ rõ đặc tính "tương tác đa chiều nhanh chóng, tức thì với công chúng bạn đọc" của một số loại hình báo chí hiện đại; đồng thời khẳng định bản chất hoạt động chính trị - xã hội, là công cụ tuyên truyền của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và là diễn đàn của nhân dân.
2. Mối quan hệ giữa quyền tự do báo chí và quản lý nhà nước được luận giải như thế nào?
Luận án chỉ rõ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận là nhu cầu tất yếu, được pháp luật bảo vệ (Điều 25 Hiến pháp năm 2013 và Điều 19 Công ước ICCPR 1966). Tự do báo chí là định hướng nền tảng để xây dựng pháp luật quản lý; ngược lại, quản lý nhà nước là công cụ bắt buộc nhằm ngăn chặn việc lợi dụng tự do báo chí để xâm phạm lợi ích quốc gia hoặc quyền lợi của cá nhân, tổ chức, bảo đảm quyền tự do được thực thi đúng đắn trong khuôn khổ pháp luật.
3. Tại sao luận án khẳng định mạng xã hội không nằm trong nội dung quản lý nhà nước về báo chí?
Văn bản luận giải mạng xã hội (từ Classmate, MySpace đến Facebook) là hệ thống cho phép người dùng tự đưa thông tin cá nhân lên mà không qua kiểm duyệt, độ tin cậy thấp, phục vụ nhu cầu cá nhân. Mạng xã hội không phải là kênh thông tin chính thức và không phải là một loại hình báo chí. Do đó, Luật Báo chí không điều chỉnh mạng xã hội. Các vi phạm trên mạng xã hội (nếu có) được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác (như Nghị định số 72/2013/NĐ-CP hoặc Bộ luật Hình sự/Dân sự) chứ không thuộc phạm vi Luật Báo chí.
4. Dữ liệu thực chứng nào được sử dụng để phản ánh thực trạng xử lý vi phạm báo chí tại Chương 3?
Luận án sử dụng dữ liệu thống kê tại Hình 3.5 (trang 108) về "Số nhà báo bị thu thẻ từ năm 1998 đến năm 2014" để chứng minh công tác kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật đối với các cá nhân vi phạm đạo đức nghề nghiệp và pháp luật báo chí trong thời kỳ đổi mới.
5. Sáu nhóm giải pháp cơ bản được luận án đề xuất gồm những nội dung nào?
Sáu nhóm giải pháp gồm: (1) Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về báo chí; (2) Nâng cao chất lượng hoạt động các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí; (3) Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về báo chí; (4) Tăng cường các nguồn lực tài chính; (5) Tăng cường hợp tác quốc tế; (6) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước về báo chí ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Mai Anh là công trình nghiên cứu chuyên ngành Quản lý công, giải quyết một vấn đề vừa có tính thời sự vừa có ý nghĩa chiến lược đối với công tác tư tưởng và quản trị quốc gia. Thông qua phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp định tính kết hợp phân tích thể chế, luận án đã làm sáng tỏ cơ sở khoa học, chuẩn hóa hệ thống khái niệm báo chí đa phương tiện và làm rõ mối quan hệ giữa tự do báo chí với trách nhiệm quản lý nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công trình đã phản ánh trung thực thực trạng quản lý báo chí trong 30 năm đổi mới (1986 - 2016), đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ có giá trị tham khảo phục vụ quá trình hoàn thiện thể chế quản lý báo chí tại Việt Nam.