Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9319042) của nghiên cứu sinh Đỗ Linh Giang, được thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Thị Thu Hương (năm 2022), tập trung vào đề tài: "Quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng (qua trường hợp Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong Khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội, Địa đạo Củ Chi)".
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tế di tích lịch sử quân sự cách mạng (DTLSQSCM) là một bộ phận cấu thành quan trọng của di tích lịch sử - văn hóa, ghi dấu các mốc lịch sử chống ngoại xâm thời đại Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, công tác quản lý hiện nay bộc lộ nhiều bất cập: nhiều hạng mục bị biến dạng sau trùng tu thiếu cơ sở khoa học; yếu tố gốc bị mai một do thiên nhiên và con người; cấu kiện công trình xây dựng bằng vật liệu kém bền vững (gỗ, tre nứa, tranh, bao tải, đất tự nhiên) bị xuống cấp nghiêm trọng. Đặc biệt, công tác phối hợp quản lý giữa các bên liên quan chưa đạt hiệu quả do sự phân cấp, phân quyền thiếu thống nhất. Dù cùng thuộc nhóm di tích quốc gia đặc biệt hoặc di sản thế giới, chủ thể quản lý tại ba điểm di tích lại khác nhau: Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội do Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội (trực thuộc UBND thành phố Hà Nội) quản lý; Chiến trường Điện Biên Phủ do Ban Quản lý Di tích tỉnh Điện Biên (trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Điện Biên) quản lý; Địa đạo Củ Chi do Bộ Tư lệnh Quân khu 7 phối hợp với UBND huyện Củ Chi quản lý (Ban quản lý trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 7).
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống về quản lý DTLSQSCM dưới góc độ lý thuyết các bên liên quan, làm rõ chức năng, thẩm quyền và cơ chế phối hợp giữa bên trực tiếp quản lý, cơ quan chỉ đạo và cơ quan phối hợp.
Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các bên liên quan trong quản lý DTLSQSCM ở Việt Nam qua ba trường hợp cụ thể: Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Địa đạo Củ Chi.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan để tìm ra hướng đi cho luận án, nghiên cứu cơ sở lý luận, lựa chọn lý thuyết để vận dụng triển khai luận án và xây dựng khung phân tích.
- Nghiên cứu hiện trạng, đặc điểm và giá trị tiêu biểu của các DTLSQSCM trong diện khảo sát.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý các DTLSQSCM từ các trường hợp nghiên cứu điển hình.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý DTLSQSCM trong bối cảnh hiện nay.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Có những tổ chức, cá nhân nào cùng tham gia quản lý DTLSQSCM? Công việc cụ thể của mỗi tổ chức, cá nhân là gì?
- Sự phối hợp của các tổ chức, cá nhân này trong quản lý DTLSQSCM có chặt chẽ và hiệu quả không?
- Vấn đề gì còn tồn tại hoặc phát sinh trong quá trình quản lý DTLSQSCM và cần làm gì để tháo gỡ vấn đề đó?
Giả thuyết khoa học: DTLSQSCM đang chịu sự quản lý của nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân. Tuy nhiên, do sự chồng chéo trong nhiệm vụ, cơ chế phối hợp thiếu chặt chẽ nên hiệu quả quản lý chưa cao, các giá trị di tích chưa được bảo vệ và phát huy hiệu quả. Do đó, cần có mô hình quản lý phù hợp và giải pháp vận hành mô hình đó nhằm đổi mới phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả phối hợp.
Đối tượng nghiên cứu: Sự phối hợp và hoạt động quản lý của các bên liên quan tại các DTLSQSCM (qua ba trường hợp: Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Địa đạo Củ Chi).
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Ba địa bàn di tích tại tỉnh Điện Biên, thành phố Hà Nội (tập trung vào di tích lịch sử Nhà D67 - trung tâm Tổng hành dinh) và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian: Tiếp cận theo hai mốc:
- Mốc 1: Quá trình hình thành và các giá trị lưu giữ từ thời điểm di tích xuất hiện (Chiến trường Điện Biên Phủ sau năm 1954; Tổng hành dinh xây dựng năm 1967; Địa đạo Củ Chi từ thời kháng chiến chống Pháp, hoàn chỉnh hệ thống đa tầng năm 1966).
- Mốc 2: Nghiên cứu công tác quản lý (thu thập số liệu, minh chứng, phỏng vấn) từ năm 2014 đến năm 2022 (giai đoạn giữa hai kỳ Đại hội Đảng lần thứ XI và XII, gắn với việc thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 ban hành năm 2009).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các nhóm tài liệu trong nước và quốc tế theo ba mảng nội dung chính:
1. Nhóm nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa:
- Tài liệu quốc tế: Brian Garrod và Alan Fyall (2000) trong Managing heritage tourism bàn về sự cân bằng giữa bảo tồn và khai thác du lịch; Arthur Perdesen trong Managing Tourism at World Heritage Sites đưa ra các phương án quản lý di sản trước áp lực du lịch như khoanh vùng, điều tiết lượng khách; Peter Howard trong Heritage: Management, Interpretation, Identity phân tích lịch sử quản lý di sản từ thế kỷ XIX; Hilary du Cros và Yok-Shiu F. Lee trong Cultural heritage management in China đúc kết kinh nghiệm bảo tồn đô thị vùng đồng bằng sông Châu; Zhan Chang Yuan trong Culture Industrial management tiếp cận quản lý di sản như một ngành công nghiệp văn hóa.
- Tài liệu trong nước: Lê Hồng Lý trong giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch (2010); Nguyễn Chí Bền trong công trình nhánh thuộc Chương trình KX.09 Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội; Nguyễn Thị Kim Loan và Nguyễn Trường Tân trong Quản lý di sản văn hóa; Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn trong Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế; Trương Quốc Bình trong Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam. Các luận án tiến sĩ liên quan gồm: Trần Đức Nguyên (Bắc Ninh), Trịnh Ngọc Chung (Huế và Hội An), Phạm Văn Triệu (kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long), Nguyễn Thị Hằng (Địa đạo Củ Chi). Các bài viết của Đặng Văn Bài, Nguyễn Quốc Hùng, Bùi Hoài Sơn, Quang Minh và Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Viết Cường.
2. Nhóm nghiên cứu về di tích lịch sử quân sự và di tích cách mạng:
- Kỷ yếu Hội nghị Bảo tồn - bảo tàng truyền thống toàn quân, sách 40 năm Viện Bảo tàng Quân đội ghi chép tư liệu lịch sử hiện vật; luận văn của Phạm Vũ Sơn về quản lý di tích lịch sử quân sự tại Hà Nội; ấn phẩm của Phạm Hồng Châu, Vũ Thiên Bình (Di tích lịch sử cách mạng Việt Nam, Những chiến thắng lịch sử từ Điện Biên Phủ đến Dinh Độc Lập); các bài viết của Nguyễn Quốc Hùng, Lưu Trần Tiêu, Nguyễn Phạm Xanh, Nguyễn Đức Nguyên.
3. Nhóm nghiên cứu chuyên biệt về ba địa bàn khảo sát:
- Chiến trường Điện Biên Phủ: Công trình Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học, đề tài xác định vị trí khoanh vùng cắm mốc của Vũ Nam Hải, các hội thảo khoa học phối hợp giữa Bộ Quốc phòng và tỉnh Điện Biên năm 2014.
- Tổng hành dinh Hoàng thành Thăng Long: Sách của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Vũ Văn Quân, Nguyễn Vinh Phúc; đề tài khảo sát tu bổ kiến trúc năm 2020 của Viện Bảo tồn di tích; các hội thảo khoa học năm 2015 và 2020 của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội.
- Địa đạo Củ Chi: Các công trình của Trần Đình Dũng, Hồ Sĩ Thành (100 câu hỏi và đáp về Địa đạo Củ Chi), Diệp Hồng Phương, Võ Tấn Tạo, Trần Văn Tâm; các tác phẩm của tác giả nước ngoài như John Penycate và Tom Mangold Ham, S. Mydans, L. Riddle, A. Krishna.
Khoảng trống nghiên cứu được giải quyết: Đa phần các công trình trước đây chỉ nhìn nhận ba địa danh trên dưới góc độ di tích lịch sử - văn hóa nói chung hoặc thuần túy lịch sử - du lịch, chưa đánh giá sâu giá trị khoa học quân sự của di tích. Chưa có nghiên cứu nào phân tích công cụ và phương thức quản lý dựa trên khung lý thuyết các bên liên quan, chưa đánh giá sự phối hợp quản lý liên ngành giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng và chính quyền địa phương tại các DTLSQSCM.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm công cụ
- Di tích lịch sử - văn hóa (DTLSVH): Khái niệm căn cứ theo Điều 1 Hiến chương Venice 1964, Từ điển Bách khoa Việt Nam và Điều 28 Luật Di sản văn hóa.
- Di tích lịch sử quân sự cách mạng (DTLSQSCM): Tổng hợp từ khái niệm DTLSQS (Phạm Vũ Sơn) và di tích cách mạng (Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Phạm Xanh). Luận án định nghĩa DTLSQSCM là các DTLSVH gắn với lĩnh vực quân sự trong thời đại Hồ Chí Minh; là những địa điểm, công trình quân sự gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Tổng hành dinh: Cơ quan đầu não lãnh đạo tối cao về quân sự của quốc gia trong thời chiến, nơi làm việc của Tổng tư lệnh tối cao cùng bộ tham mưu.
- Quản lý nhà nước đối với DTLSQSCM: Hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý thông qua nguyên tắc, hình thức, phương pháp thích hợp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tiêu biểu của DTLSQSCM.
- Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Khung phân tích phân định hệ thống chủ thể quản lý thành:
- Bên trực tiếp quản lý: Ban Quản lý Di tích tỉnh Điện Biên, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, Ban Quản lý khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi (thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 7).
- Bên gián tiếp quản lý: Cơ quan chỉ đạo (Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng, UBND cấp tỉnh/thành phố); Cơ quan phối hợp (Bộ Quốc phòng, các Bộ Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư, Công an, Thông tin và Truyền thông, các Sở VHTTDL/Sở VHTT, UBND quận/huyện sở tại, tổ chức UNESCO).
- Nội dung quản lý: Khảo sát dựa trên 8 nội dung quản lý nhà nước quy định tại Luật Di sản văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức chuyên ngành Quản lý văn hóa với Xã hội học, Nhân học, Sử học, Khảo cổ học, Tâm lý học.
- Khảo sát, điền dã thực địa: Khảo sát trực tiếp tại 3 quần thể di tích.
- Điều tra xã hội học: Tiến hành phát bảng hỏi khảo sát với tổng số 910 phiếu, thu về 861 phiếu hợp lệ.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn chuyên gia với 10 nhà khoa học, nhà quản lý đầu ngành (Phụ lục 2).
- Phương pháp mô hình hóa và so sánh: Khái quát hóa bộ máy quản lý, so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa 3 mô hình quản lý thực tế để tìm ra bất cập và đề xuất điều chỉnh.
Bảng tổng hợp mẫu khảo sát xã hội học của luận án
| Điểm di tích khảo sát |
Nhóm đối tượng điều tra |
Số phiếu phát ra |
Số phiếu hợp lệ thu về |
Thời gian thực hiện |
| Chiến trường Điện Biên Phủ |
- Cán bộ, công chức, nhân viên Bảo tàng Lịch sử chiến thắng ĐBP - Khách du lịch |
100 200 |
99 186 |
Tháng 5/2019 |
| Tổng hành dinh (Hoàng thành Thăng Long) |
- Cán bộ, sĩ quan Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam - Học viên ĐH Văn hóa Nghệ thuật Quân đội - Cán bộ, nhân viên TT Bảo tồn Di sản Thăng Long - HN - Khách tham quan |
25 60 75 150 |
24 56 71 146 |
Tháng 6/2019 |
| Địa đạo Củ Chi |
- Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh - Ban Quản lý Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi - Khách du lịch |
50 50 200 |
49 47 183 |
Tháng 7/2019 |
| Tổng cộng |
Toàn bộ 3 điểm di tích |
910 |
861 |
2019 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý di sản, làm rõ sự thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu về DTLSQSCM. Tác giả xây dựng hệ thống khái niệm công cụ (DTLSVH, DTLSQS, DTLSQSCM, Tổng hành dinh, Quản lý nhà nước về DTLSQSCM). Chương này xác lập khung phân tích của luận án dựa trên lý thuyết các bên liên quan, phân chia chủ thể quản lý thành bên trực tiếp, bên gián tiếp (chỉ đạo và phối hợp), đồng thời xác định 8 nội dung quản lý nhà nước theo Luật Di sản văn hóa làm khung tham chiếu đánh giá thực trạng.
Chương 2: Khái quát về các di tích lịch sử quân sự cách mạng: Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh trong khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Địa đạo Củ Chi
Chương 2 trình bày lịch sử hình thành, hiện trạng và giá trị tiêu biểu của 3 di tích khảo sát:
- Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ: Xếp hạng di tích quốc gia năm 1962 (Quyết định 313/VH-VP với 62 di tích đợt đầu). Năm 2009 được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt với 22 điểm, đến năm 2015 bổ sung 23 điểm, hiện có tổng cộng 45 điểm di tích phân bổ trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Cấu trúc gồm 2 hệ thống: Hệ thống cứ điểm phòng ngự của Pháp (23 điểm: Mường Thanh, hầm Đờ Cát, hầm Pi Rốt, Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, Hồng Cúm, C1, C2, D1-D2-D3, E1, A1...) và Hệ thống di tích gắn với QĐND Việt Nam (22 điểm: Sở chỉ huy Mường Phăng với đường hầm xuyên sơn 97m, lán Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái; Đèo Pha Đin, hang Thấm Púa, đường kéo pháo, trận địa pháo 105mm Đại đội 806, trận địa pháo H6 Tiểu đoàn 224...).
- Hiện trạng kỹ thuật Điện Biên Phủ: Toàn bộ 45/45 điểm xác định được khu vực bảo vệ I; 30/45 điểm có khu vực bảo vệ II; 28/45 điểm được cắm mốc thực địa; 23/45 điểm có hồ sơ khoa học; 9/45 điểm được đầu tư tôn tạo; 6/45 điểm có bán vé tham quan. Tỉnh Điện Biên lưu giữ khoảng 4.000 hiện vật chiến trường. Di tích chịu tác động tiêu cực do vật liệu kém bền vững (gỗ, tre nứa, tranh, bao tải, đất tự nhiên) và áp lực đô thị hóa của thành phố Điện Biên Phủ.
- Tổng hành dinh trong Hoàng thành Thăng Long: Gắn với di tích Nhà D67 và hệ thống hầm ngầm xây dựng năm 1967, cơ quan đầu não của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong kháng chiến chống Mỹ. Đang trong quá trình bàn giao đất đai từ Bộ Quốc phòng sang UBND Thành phố Hà Nội quản lý.
- Địa đạo Củ Chi: Hệ thống địa đạo chiến đấu nhiều tầng trong lòng đất được phát triển mạnh từ năm 1966, trực thuộc quản lý của Bộ Tư lệnh Quân khu 7 phối hợp địa phương.
Chương 3: Thực trạng quản lý các di tích lịch sử quân sự cách mạng nhìn từ các bên liên quan
Chương 3 đi sâu khảo sát thực trạng quản lý tại 3 di tích dựa trên 8 nội dung quản lý và sự tham gia của các bên liên quan:
- Phân tích cơ chế phân cấp và thẩm quyền quản lý: Sự khác biệt về mô hình tổ chức dẫn đến thiếu thống nhất trong chỉ đạo và thực thi.
- Đánh giá hoạt động phối hợp: Khảo sát việc phối hợp giữa ngành văn hóa, quốc phòng và chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống, nghiên cứu khoa học, quản lý nguồn lực tài chính, đầu tư tu bổ tôn tạo và thanh tra, kiểm tra.
- Phân tích số liệu điều tra xã hội học và số liệu khách tham quan: Minh chứng qua các bảng thống kê lượng khách giai đoạn 2015-2020/2021 tại Hoàng thành Thăng Long, Điện Biên Phủ và Củ Chi; phản ánh thực trạng trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tại các Ban/Trung tâm quản lý di tích.
- Đánh giá chung: Chỉ ra sự chồng chéo về chức năng giữa các đơn vị; tình trạng lấn chiếm đất đai di tích; khó khăn trong việc bảo tồn các cấu kiện vật liệu gốc ngoài trời; nguồn thu từ dịch vụ chưa được tái đầu tư thỏa đáng cho hoạt động bảo quản khoa học.
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng trong điều kiện hiện nay
Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ các căn cứ pháp lý, chiến lược phát triển văn hóa và thực tiễn khảo sát:
- Hoàn thiện thể chế, chính sách và cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng và Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố.
- Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy quản lý di tích theo hướng xác định rõ một đầu mối chịu trách nhiệm chính, phân định rõ thẩm quyền quản lý trực tiếp và phối hợp gián tiếp.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý và chuyên môn kỹ thuật bảo tồn di tích quân sự.
- Tăng cường huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính (ngân sách nhà nước, xã hội hóa, nguồn thu từ dịch vụ tham quan).
- Ứng dụng khoa học kỹ thuật và vật liệu mới trong việc bảo quản, tu bổ các công trình hầm hào, công sự làm bằng vật liệu kém bền vững.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, đa dạng hóa sản phẩm du lịch trải nghiệm gắn với phát huy giá trị giáo dục truyền thống.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về quản lý DTLSQSCM tại Việt Nam.
- Luận giải và xác lập các khái niệm: di tích lịch sử quân sự cách mạng, quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử quân sự cách mạng; làm rõ đặc trưng và giá trị khoa học quân sự của loại hình di tích này.
- Vận dụng lý thuyết các bên liên quan để xây dựng khung phân tích, nhận diện đầy đủ vai trò, chức năng của bên trực tiếp quản lý, cơ quan chỉ đạo và cơ quan phối hợp trong hoạt động quản lý DTLSQSCM.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng quản lý tại 3 DTLSQSCM tiêu biểu đại diện cho ba miền và các loại hình quản lý khác nhau: Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh (Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội) và Địa đạo Củ Chi.
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng gồm kết quả điều tra xã hội học từ 861 phiếu khảo sát và 10 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia.
- Phác thảo mô hình quản lý phù hợp và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành, giải quyết tình trạng chồng chéo phân cấp quản lý giữa ngành quốc phòng, văn hóa và chính quyền địa phương.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Về quản lý nhà nước: Hoàn thiện quy hoạch tổng thể di tích, đẩy nhanh tiến độ cắm mốc giới, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm chấm dứt tình trạng lấn chiếm.
- Về phối hợp liên ngành: Xây dựng quy chế phối hợp bằng văn bản cụ thể giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng chính quyền địa phương trong việc quản lý, khai thác và chuyển giao hiện vật, đất đai di tích.
- Về kỹ thuật bảo tồn: Xây dựng quy trình chuẩn về bảo quản vật liệu không bền (đất, tre, gỗ, sắt rỉ) trong môi trường khí hậu nhiệt đới ẩm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát sâu tại 3 trường hợp nghiên cứu điển hình; chưa thể bao quát toàn bộ hệ thống hàng trăm điểm DTLSQSCM trên phạm vi toàn quốc. Tại địa bàn Chiến trường Điện Biên Phủ, tài liệu lịch sử ghi nhận phía Pháp có 49 cứ điểm nhưng hồ sơ quản lý hiện nay mới chỉ nhận diện và xếp hạng được 23 điểm, nhiều điểm di tích chiến trường và trận địa pháo của Quân đội nhân dân Việt Nam đã bị mai một hoặc chỉ xác định được vị trí tương đối. Hệ thống hiện vật gốc còn phân tán tại nhiều bảo tàng quân đội ngoài địa bàn tỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu mô hình quản lý cho các hệ thống DTLSQSCM khác (như Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh, Di tích Thành Cổ Quảng Trị...); đi sâu nghiên cứu kỹ thuật bảo quản thực nghiệm đối với các vật liệu đất tự nhiên và hầm hào công sự chiến trường; nghiên cứu phát triển các sản phẩm du lịch chuyên đề quân sự ứng dụng công nghệ số.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền và ban hành quy chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Quốc phòng và UBND cấp tỉnh.
- Đối với các Ban Quản lý/Trung tâm quản lý di tích: Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp về phương thức xây dựng hồ sơ khoa học, cắm mốc giới, kiểm kê hiện vật, giải quyết xung đột lợi ích giữa bảo tồn và phát triển du lịch.
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học: Là tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận liên ngành và ứng dụng lý thuyết các bên liên quan trong nghiên cứu quản lý di sản văn hóa vật thể.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thế nào về "Di tích lịch sử quân sự cách mạng"?
Theo luận án, DTLSQSCM là những di tích lịch sử - văn hóa gắn với lĩnh vực quân sự trong thời đại Hồ Chí Minh; là những địa điểm, công trình, di tích quân sự gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Sự khác biệt về chủ thể quản lý trực tiếp tại ba di tích khảo sát là gì?
- Khu di tích Chiến trường Điện Biên Phủ: Do Ban Quản lý Di tích tỉnh Điện Biên (trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Điện Biên) quản lý trực tiếp.
- Tổng hành dinh: Thuộc Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, do Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội (trực thuộc UBND thành phố Hà Nội) quản lý trực tiếp.
- Địa đạo Củ Chi: Do Ban Quản lý Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi (trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 7) phối hợp cùng UBND huyện Củ Chi quản lý trực tiếp.
3. Quy mô xếp hạng và hiện trạng điểm di tích Chiến trường Điện Biên Phủ được văn bản nêu ra sao?
Năm 1962, di tích được xếp hạng cấp quốc gia. Năm 2009, được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt với 22 điểm; năm 2015 bổ sung 23 điểm, nâng tổng số lên 45 điểm di tích (gồm 23 điểm thuộc trận địa phòng ngự của Pháp và 22 điểm gắn với QĐND Việt Nam). Trong 45 điểm: 45/45 có khu vực bảo vệ I; 30/45 có khu vực bảo vệ II; 28/45 được cắm mốc thực địa; 23/45 có hồ sơ khoa học; 9/45 đã đầu tư tôn tạo; 6/45 điểm có tổ chức bán vé tham quan. Tỉnh Điện Biên lưu giữ khoảng 4.000 hiện vật liên quan.
4. Luận án sử dụng cỡ mẫu điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia như thế nào?
Nghiên cứu sinh đã phát ra tổng cộng 910 phiếu hỏi tại 3 điểm di tích vào các tháng 5, 6, 7 năm 2019 và thu về 861 phiếu hợp lệ (Điện Biên Phủ: 285 phiếu; Hoàng thành Thăng Long: 297 phiếu; Củ Chi: 279 phiếu). Đối tượng khảo sát bao gồm cán bộ quản lý di tích, sĩ quan quân đội, học viên chuyên ngành văn hóa và khách tham quan. Đồng thời, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 10 chuyên gia trong các lĩnh vực quản lý di sản, bảo tàng, khảo cổ học và du lịch.
5. Khung lý thuyết các bên liên quan được luận án ứng dụng để phân tích những nội dung nào?
Khung lý thuyết phân chia chủ thể thành: bên trực tiếp quản lý, cơ quan chỉ đạo (Chính phủ, Bộ VHTTDL, Bộ Quốc phòng, UBND cấp tỉnh) và cơ quan phối hợp (các Bộ liên quan, Sở VHTTDL, UBND quận/huyện, UNESCO). Các bên cùng tham gia thực hiện và phối hợp dựa trên 8 nội dung quản lý nhà nước theo Luật Di sản văn hóa: lập quy hoạch; ban hành văn bản; tổ chức hoạt động bảo vệ/tuyên truyền; nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực; huy động quản lý nguồn lực; khen thưởng; hợp tác quốc tế; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đỗ Linh Giang là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản lý di tích lịch sử quân sự cách mạng tại Việt Nam thông qua ba trường hợp điển hình: Chiến trường Điện Biên Phủ, Tổng hành dinh (Hoàng thành Thăng Long) và Địa đạo Củ Chi. Bằng cách tiếp cận liên ngành và ứng dụng lý thuyết các bên liên quan, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phân cấp, phân quyền và cơ chế phối hợp quản lý nhà nước giữa các bộ, ngành và địa phương. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có giá trị nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, góp phần bảo tồn yếu tố gốc và phát huy giá trị của loại hình di tích lịch sử quân sự cách mạng trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.