Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ. Chương 3: Thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội Chương 4: Quan điểm và giải pháp hài hòa quan hệ lợi ích trong phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến 2030. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.
NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU CỦA CÁC TÁC GIẢ NƢỚC NGOÀI 1. lý thuyết và nghiên cứu về phát triển nông nghiệp hữu cơ - Nadia Scialabba, Caroline Hattam (2002), Organic Agriculture, Environment and Food Security (Tạm dịch: Nông nghiệp hữu cơ, môi trường và an ninh lương thực) [73]. Trong tác phẩm này tác giả đã xem xét nhiều khía cạnh của NNHC, đặc biệt tác giả đã nghiên cứu sự đóng góp của NNHC cho sức khỏe con người, tạo lập môi trường sinh thái, nghiên cứu những tác động của NNHC tới thị trường quốc tế và sự ổn định an ninh lương thực của mỗi quốc gia. Thông qua việc phân tích kinh nghiệm thực tế trên thế giới, tác giả đã chỉ ra khuynh hướng và triển vọng cho việc áp dụng rộng rãi hơn trong thực tế.
Những vấn đề đặt ra trong tác phẩm này đại diện cho nhiều nền kinh tế đã áp dụng thành công các mô hình canh tác nông nghiệp theo hướng hữu cơ. Thông qua việc phân tích sự thâm nhập của công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp đầu những năm 1920 và sự phản đối của một số chủ thể trong sản xuất nông nghiệp về việc sử dụng các sản phẩm hóa học cho sản xuất nông nghiệp, tác giả khẳng định: sản xuất NNHC hữu cơ vừa đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng công nghiệp, vừa hướng tới tương lai trên cơ sở hệ giá trị sinh thái bắt nguồn từ truyền thống. Cuốn sách khẳng định sinh thái là nền tảng để duy trì hệ thống thực phẩm bền vững và đa dạng sinh học. Đồng thời tác giả đề cập đến hệ thống vật nuôi, cây trồng như: thức ăn 9 thô, hạt ngũ cốc, hạt cung cấp dầu thực vật và cây trồng đặc sản; ngoài ra tác giả còn đề cập tới mối quan hệ giữa canh tác hữu cơ với nhu cầu dinh dưỡng của đất; và thảm thực vật và quản lý dịch bệnh.
Tác phẩm còn đề cập đến những nghiên cứu về mối quan hệ giữa thực phẩm hữu cơ và an ninh lương thực và trình bày kết quả cuộc khảo sát về tương lai của canh tác hữu cơ để chỉ ra tương lai của ngành nông nghiệp và khu vực nông thôn. Các nhà nghiên cứu đã làm rõ thực tế sản xuất nông nghiệp tại Kenya, Tanzania, Uganda bao gồm sản xuất nông nghiệp truyền thống và canh tác hữu cơ. Đồng thời các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những cơ hội lớn về thị trường tiêu thụ, tiềm năng canh tác nông nghiệp xanh của các quốc gia Đông Phi và những quốc gia đang phát triển khác trên thế giới nhằm thúc đẩy các cơ hội sản xuất và kinh doanh NNHC. Đồng thời đưa ra những khuyến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách trong khu vực nhà nước, các chủ thể sản xuất tư nhân chuyển đổi cách thức sản xuất truyền thống, sang sản xuất nông nghiệp xanh với những định hướng rất chi tiết như: xây dựng chính sách chung cho phát triển nông nghiệp xanh, hình thành tiêu chuẩn và các quy định sản xuất nông nghiệp xanh, chính sách phát triển thị trường tiêu thụ nội địa và hỗ trợ xúc tiến hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài các sản phẩm nông nghiệp xanh, định hướng phát triển sản phẩm nông nghiệp xanh và các chính sách hỗ trợ khác.
Với nghiên cứu này, FAO ước tính rằng các khoản đầu tư ròng lên tới hơn 80 tỷ USD một năm là cần thiết để sản 10 xuất lương thực theo kịp nhu cầu tăng lên về dân số khi thu nhập tăng và dân số thế giới vượt quá 9 tỷ người vào năm 2050. Hiện nay, các nhà đầu tư đang muốn tận dụng xu hướng quốc tế hóa về giá lương thực để tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các nước đang phát triển nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào nhưng chưa được khai thác hết tiềm năng. Tuy nhiên, thị phần của các nước này trên thị trường nông nghiệp và thực phẩm thế giới còn rất khiêm tốn - dưới 5% tổng FDI. Phần lớn các khoản đầu tư này là cho chế biến và phân phối, do đó không tạo ra được sự phát triển cho ngành nông nghiệp và chưa tương xứng với tiềm năng.
Trên cơ sở đó, các chuyên gia nhận định, mặc dù không có giải pháp tối ưu nhất cho các khoản đầu tư “win - win”, nhưng nếu các dự án đầu tư nước ngoài nếu kết hợp tốt thế mạnh của nhà đầu tư (vốn, quản lý và tiếp thị chuyên môn và công nghệ) với nông dân và địa bàn (lao động, đất đai…) sẽ có tỷ lệ thành công cao hơn; ngược lại nếu đầu tư theo hướng thu mua đất quy mô lớn thường ít mang lại lợi ích tích cực cho nông nghiệp và nông thôn, trường hợp này chủ yếu chỉ là mang lại việc làm cho nông dân với những mô hình cần nhiều lao động. Asian Development Bank (2015), Organic Agriculture and Post-2015 Development Goals: Building on the Comparative Advantage of Poor Farmers (Tạm dịch: Nông nghiệp hữu cơ và các mục tiêu phát triển sau năm 2015: Xây dựng trên lợi thế so sánh của những người nông dân nghèo) [63]. Đây là công trình nghiên cứu đánh giá khá toàn diện về NNHC của Ngân hàng phát triển châu Á, trong đó bao gồm các chủ đề so sánh và đánh giá về năng suất tương đương với các phương thức canh tác thông thường trong NNHC đã cải thiện đáng kể thu nhập và tạo điều kiện tốt hơn cho nông dân thông qua canh tác sạch, không có hóa chất, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, xây dựng hệ thống sản xuất lương thực bền vững. Kết quả thực nghiệm được tổng hợp cho thấy những đóng góp quan trọng của NNHC đối với việc đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hiệp quốc 11 (MDGs) và dự kiến sẽ tiếp tục sau năm 2015.
Điều này mang lại cho nông nghiệp sự phát triển toàn diện cho cộng đồng nông thôn, đặc biệt là nông dân ở các nước đang phát triển. Tác giả chỉ rõ vào những năm 1980, những người đi đầu trong nghiên cứu phát triển ngành nông nghiệp của Israel đã bắt đầu có những hoạt động đầu tiên nghiên cứu về NNHC và đã nhận thấy sản xuất NNHC đã hạn chế những tác động tiêu cực của sản xuất nông nghiệp truyền thống đến môi trường, đặc biệt là tài nguyên nước và đất. Tác giả đã giới thiệu về một mô hình sản xuất nông nghiệp tiết kiệm tài nguyên, an toàn với con người và bảo vệ môi trường. Theo đó, thị trường NNHC của Israel đã được định hình theo hai cách đối lập: trước tiên xuất khẩu rộng rãi các sản phẩm hữu cơ và sự xuất hiện của các siêu thị thực phẩm hữu cơ tại các thị trường cao cấp; thứ hai, chính sách hỗ trợ của nhà nước được tăng cường để phát triển nền nông nghiệp hỗ trợ cộng đồng.
Beria Leimona, Sacha Amaruzaman, Bustanul Arifin, Fitria Yasmin, Fadhil Hasan, Herdhata Agusta, Peter Sprang, Steven Jaffee and Jaime Frias (2015), Indonesia‟s „Green Agriculture‟ Strategies and Policies: Closing the Gap between Aspirations and Application (Tạm dịch: Các chiến lược và chính sách “Nông nghiệp xanh” của Indonesia: Rút ngắn khoảng cách giữa những khát vọng và ứng dụng), Published by the World Agroforestry Centre [66]. Nghiên cứu của nhóm các tác giả này đã phân tích về tình trạng sản xuất nông nghiệp xanh ở Indonesia và nêu bật các chính sách, chiến lược, các công cụ được áp dụng phổ biến và tình hình sản xuất nông nghiệp xanh tại Indonesia. Nhóm tác giả đã xem xét bốn khía cạnh trong việc thiết lập và thực hiện chính sách nông nghiệp xanh gồm: (1) những thách thức đối với nông nghiệp thương mại; (2) khát vọng nông nghiệp xanh; (3) ứng dụng nông nghiệp xanh; 12 (4) năng lực nông nghiệp xanh và tiến triển để đáp ứng mục tiêu nông nghiệp xanh. Từ việc đánh giá năm sản phẩm nông nghiệp Indonesia gồm bốn sản phẩm nông nghiệp định hướng xuất khẩu như: cacao, cà phê, dầu cọ, cao su và gạo - sản phẩm lương thực hàng đầu của đất nước, các tác giả đã đưa ra những khuyến nghị chính sách đối với Chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu sản xuất nông nghiệp xanh.
Tác giả đã làm rõ sự phát triển của NNHC từ một phong trào nhỏ bé, phi tổ chức đã trở thành mô hình sản xuất lý tưởng và ngày càng phổ biến trên thế giới. Theo tác giả, hiện nay chúng ta có thể tìm thấy sản phẩm hữu cơ ở hầu hết các cửa hàng thực phẩm và đó là ngành phát triển nhanh nhất trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm. Các doanh nghiệp lớn trong ngành chế biến thực phẩm và kinh doanh bán lẻ như: General Mills, Wal-Mart … đều có tham vọng thâm nhập vào thị trường thực phẩm hữu cơ. Thông qua bài viết, tác giả đã phân tích các lĩnh vực NNHC và nông nghiệp phát triển khác, bao gồm: sự phát triển và lợi ích của canh tác hữu cơ đối với nông nghiệp truyền thống; sự liên kết NNHC với chuỗi cung ứng thực phẩm xanh và chuỗi giá trị thực phẩm; sự bền vững lâu dài và chất lượng môi trường, dán nhãn sinh thái và tiếp thị xanh cho các sản phẩm NNHC, triển vọng trong tương lai.
Từ đó, tác giả đưa ra những khuyến nghị về các chính sách, về đầu tư cho sản xuất NNHC, đăng ký quy trình sản xuất NNHC đối với người sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ và xây dựng chuỗi giá trị nông sản hữu cơ. Các tác giả cho rằng: có rất nhiều ý kiến khác nhau về lợi ích của NNHC, trong đó một số nhà nghiên cứu coi sự phát triển NNHC là một cách 13 tiếp cận không hiệu quả đối với an ninh lương thực và là nguyên nhân làm suy giảm diện tích canh tác trong tương lai. Việc áp dụng sản xuất NNHC ở quy mô quá lớn có thể đe dọa đến các khu rừng, vùng đất ngập nước và đồng cỏ thế giới.