CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận về phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững 1. Các khái niệm cơ bản 1. Lâm nghiệp a, Khái niệm về lâm nghiệp Từ xa xưa, rừng đã luôn gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của con người.
Qua thời gian, con người sử dụng nhiều cách thức khai thác và duy trì, phát triển các nguồn lợi từ rừng để phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của mình. Sự tương tác giữa con người với rừng trong quá trình phát triển dần hình thành một ngành sản xuất được gọi chung là ngành lâm nghiệp (LN). Thuật ngữ LN và ngành LN chính thức được sử dụng tại châu Âu từ cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỳ 17. Đến thế kỷ 18 và 19, khi nhu cầu phát triển công nghiệp và đô thị tăng lên cao, phát triển lâm nghiệp (PTLN) trở thành một yêu cầu tất yếu khách quan để quản lý, khai thác, sử dụng và phát triển rừng, đồng thời, LN đã đóng góp vào phát triển xã hội nông thôn.
Mặc dù ngành LN có một lịch sử phát triển khá lâu đời, nhưng cho đến nay vẫn tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm LN. Quan điểm thứ nhất cho rằng “LN là một ngành sản xuất vật chất nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng và quản lý bảo vệ rừng” [2]. Quan điểm thứ 2 cho rằng “LN là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt không chỉ có chức năng xây dựng, quản lý, bảo vệ rừng mà còn có chức năng khai thác sử dụng rừng” [2]. Quan điểm thứ 3 cho rằng “LN là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và phát huy chức năng phòng hộ của rừng” [2].
Luật Lâm nghiệp (2017) của Việt Nam sử dụng khái niệm: LN là ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản [30]. Tuy còn một vài điểm khác biệt, nhưng nhìn chung các quan điểm đều thống nhất LN là ngành kinh tế - kỹ thuật có chức năng quản lý, bảo vệ, phát triển, khai thác, lợi dụng rừng, đất LN, chế biến và thương mại lâm sản. 8 b, Vai trò của lâm nghiệp trong nền kinh tế LN là một ngành sản xuất đặc biệt, có vai trò hết sức quan trọng trên nhiều mặt đối với nền kinh tế [21], được thể hiện trên các khía cạnh sau đây: - Vai trò cung cấp Vai trò của ngành là cung cấp lâm sản và các sản phẩm khác từ rừng phục vụ cho nhu cầu của xã hội, như: cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ cho tiêu dùng của xã hội; cung cấp gỗ cho đầu vào các ngành công nghiệp chế biến, cho xây dựng cơ bản; cung cấp các lâm sản ngoài gỗ và các sản phẩm khác từ rừng làm dược liệu [2]. Không những vậy, rừng còn cung cấp nơi trú ẩn, hệ sinh thái cho các loài động thực vật.
- Vai trò phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái Vai trò phòng hộ của ngành LN được nhìn nhận trên các lĩnh vực: 1) Phòng hộ rừng đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi, thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ nguồn thủy năng cho các nhà máy thủy điện; 2) Phòng hộ ven biển, chắn sóng, chắn cát bay, chắn gió, chống xâm thực mặn bảo vệ dân cư và rộng đồng ven biển. Rừng, đối tượng quản lý và tác động của ngành LN, là một thành tố quan trọng trong điều hòa và bảo vệ môi trường sinh thái (MTST). Trước bối cảnh biến đối khí hậu diễn ra ồ ạt, rừng được coi là một yếu tố trung tâm giúp giảm thiểu biến đổi khí hậu và bảo vệ MTST. Rừng giúp làm sạch không khí, điều hòa khí hậu, tích lũy các bon, giảm bụi, giảm tiếng ồn.
Bảo vệ, phát triển rừng giúp đảm bảo thực hiện vai trò bảo vệ MTST của rừng [2, 10]. - Vai trò văn hóa, xã hội LN tạo ra công ăn việc cho người lao động, cung cấp sinh kế cho người dân sống gần rừng, đặc biệt là các vùng nông thôn, miền núi. Ngành LN không chỉ cung cấp công ăn việc làm mà còn đóng góp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn, miền núi. Bên cạnh đó, các khu rừng có chứa đựng các giá trị văn hóa, tín ngưỡng đa dạng và có giá trị to lớn.
Các giá trị này có thể được hiện hữu hoặc ẩn dấu trong các khía cạnh của văn hóa như: ngôn ngữ, lịch sử, nghệ thuật, tôn giáo, y học, chính trị, và thậm chí là cấu trúc xã hội [2, 10]. - Vai trò an ninh quốc phòng Đối với các khu rừng ở vị trí trọng yếu trong an ninh quốc phòng như: rừng biên giới trên đất liền, rừng trên hải đảo, rừng ven biển. Rừng tại các vị trí then chốt đã phát huy được vai trò an ninh quốc phòng như một thành lũy tự nhiên, kiên cố. Bên 9 cạnh đó, rừng còn là nơi chứa đựng, bảo vệ các căn cứ quân sự quan trọng trong an ninh quốc phòng [10].
- Vai trò bảo tồn đa dạng sinh học Rừng là nơi trú ẩn của nhiều loài động thực vật, là nơi cung cấp môi trường sống quan trọng, không chỉ mang lại nhiều giá trị cho con người mà còn cho thiên nhiên. Bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên chính là thực hiện vai trò bảo tồn đa dạng sinh học của ngành LN [50]. c, Đặc điểm ngành lâm nghiệp Ngành LN được coi là một ngành kinh tế kỹ thuật có những đặc điểm riêng biệt ảnh hưởng đến phát triển cũng như đòi hỏi nhất định cho phát triển của ngành. Những đặc điểm này bao gồm: - Chu kỳ sản xuất kinh doanh trong lâm nghiệp rất dài Chu kỳ sản xuất là khoảng thời gian kể từ khi đưa các đối tượng lao động vào sản xuất đến khi tạo ra sản phẩm sẵn sàng tiêu thụ.
Trong sản xuất LN đối tượng lao động chủ yếu là cây rừng. Cây rừng là thực thể sinh học có thời gian sinh trưởng, phát triển rất dài, hàng chục năm thậm chí hàng trăm năm. Với đặc điểm chu kỳ sản xuất kinh doanh (SXKD) dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến tổ chức sản xuất, quản lý và sử dụng các yếu tố nguồn lực trong LN. Điển hình là vốn đầu tư lớn, bị ứ đọng, rủi ro lớn, hiệu quả đầu tư thấp.
Đặc biệt là sản xuất LN diễn ra trong cơ chế thị trường, giá cả luôn luôn bị tác động bởi yếu tố thời gian, chi phí cơ hội lớn, do vậy sức hút của đầu tư kinh tế vào LN thường rất thấp. - Đối tượng sản xuất của lâm nghiệp là các thực thể sinh học Đối tượng sản xuất của ngành LN là tài nguyên rừng (TNR), là thực thể sinh học. Do vậy, trong sản xuất LN luôn luôn diễn ra hai quá trình xen kẽ, đó là quá trình tái sản xuất tự nhiên và quá trình tái sản xuất kinh tế. Tái sản xuất tự nhiên là quá trình cây rừng tự sinh trưởng, phát triển dưới tác động của các yếu tố tự nhiên như: ánh sáng, nhiệt độ, nước, không khí v.
Tái sản xuất kinh tế chính là những hoạt động của con người trực tiếp tác động vào cây rừng như: gieo ươm, trồng, chăm sóc v. Điều này đặt ra cho công tác quản lý và kỹ thuật phải tôn trọng tự nhiên, phải hiểu biết quy luật tự nhiên khi quyết định các phương án sản xuất để lợi dụng tối đa những ưu thế của tự nhiên đồng thời cũng cần né tránh những bất lợi gây cản trở cho sản xuất kinh doanh v. - Tái sinh rừng và khai thác rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong sản xuất LN tái sinh rừng và khai thác rừng là hai hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu tái sinh rừng đạt được hiệu quả tốt sẽ tạo điều kiện cho khai 10 thác, đạt hiệu quả cao.
Đồng thời, nếu khai thác lợi dụng hợp lý phù hợp với quy luật sinh trưởng phát triển của rừng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bản thân công tác tái sinh rừng. Từ đặc điểm này đòi hỏi các nhà quản lý và các nhà kỹ thuật LN phải có giải pháp đúng đắn trong việc xây dựng cân đối giữa khai thác và tái sinh để tránh lạm dụng vào vốn rừng. - Sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sâu sắc Rừng, đất rừng là nơi sinh sống của các cộng đồng cư dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số, nên mọi hoạt động của cư dân địa phương đều ảnh hưởng trực tiếp đến PTLN và ngược lại các hoạt động sản xuất LN đều ảnh hưởng lớn đến đời sống của cư dân địa phương. Sản xuất LN phải tôn trọng các phong tục và kiến thức bản địa, cần tính đến lợi ích và bảo vệ lợi ích của cộng đồng địa phương.
Sự phát triển của ngành LN không thể tách rời sự PT tổng thể về kinh tế văn hoá xã hội và an ninh quốc phòng của vùng trung du, miền núi. - Ngành lâm nghiệp có nhiều vai trò, chức năng khác nhau đối với kinh tế, xã hội và môi trường Ngành LN đã đóng góp cho PT nói chung: 1) Phát triển kinh tế (cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dựng cơ bản, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội); 2) Phát triển xã hội (tạo công ăn việc làm, bảo vệ, duy trì các giá trị văn hóa, cảnh quản, lịch sử, an ninh quốc phòng); 3) Bảo vệ MTST (cung cấp ôxy, lọc sạch không khí, giảm thiểu biến đổi khí hậu, điều tiết nguồn nước). Từ đó, người quản lý cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ về giá trị, vài trò của ngành LN, quan tâm nhiều hơn cho PTLN, nhằm duy trì và PT các vai trò của LN. Phát triển Phát triển là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, khái niệm PT đã được các nhà nghiên cứu về triết học cũng như kinh tế học nghiên cứu và có một quá trình lâu dài, từ đơn giản đến phức tạp.
Theo quan điểm của triết học, khái niệm PT được hiểu là quá trình vận động theo khuynh hướng đi từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật hiện tượng [3]. Từ điển Oxford (2020) sử dụng khái niệm: “Phát triển là sự gia tăng dần dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn” [48].