Luận án tiến sĩ về phát triển kinh tế biển bền vững tại tỉnh Bình Định

Luận án tiến sĩ phân tích phát triển kinh tế biển bền vững tại tỉnh Bình Định, đề xuất giải pháp và chiến lược hiệu quả cho tương lai.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

192
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về luận án tiến sĩ phát triển kinh tế biển bền vững tại Bình Định

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc nghiên cứu phát triển kinh tế biển bền vững tại tỉnh Bình Định, một địa phương có tiềm năng lớn về kinh tế biển. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý và phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường. Phát triển kinh tế biển bền vững không chỉ đảm bảo tăng trưởng kinh tế mà còn bảo vệ môi trường và tài nguyên biển. Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu chính về cách thức quản lý và phát triển kinh tế biển tại Bình Định, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể để đạt được mục tiêu bền vững.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có bờ biển dài và giàu tài nguyên, nhưng việc khai thác kinh tế biển chưa bền vững. Bình Định là một tỉnh ven biển với tiềm năng lớn về kinh tế biển, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức như ô nhiễm môi trường, khai thác quá mức tài nguyên biển. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để phát triển kinh tế biển tại Bình Định một cách bền vững, đảm bảo cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận án là đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển tại Bình Định và đề xuất các giải pháp để phát triển bền vững. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý kinh tế biển, đánh giá hiệu quả của các chính sách hiện hành, và đề xuất các chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững. Luận án cũng nhằm cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách kinh tế biển tại địa phương.

II. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế biển bền vững

Luận án trình bày các khái niệm cơ bản về kinh tế biểnphát triển bền vững, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý kinh tế biển tại địa phương cấp tỉnh. Các khái niệm như quản lý tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển, và chiến lược phát triển kinh tế biển được làm rõ. Luận án cũng đề cập đến các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý kinh tế biển, bao gồm việc xây dựng chiến lược, ban hành chính sách, và tổ chức bộ máy quản lý.

2.1. Khái niệm và đặc điểm kinh tế biển

Kinh tế biển bao gồm các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển như đánh bắt hải sản, du lịch biển, và vận tải biển. Luận án nhấn mạnh rằng phát triển kinh tế biển cần đảm bảo sự cân bằng giữa khai thác và bảo tồn tài nguyên. Các đặc điểm của kinh tế biển bao gồm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, tính chất đa dạng của các ngành kinh tế biển, và tác động mạnh mẽ đến môi trường.

2.2. Quản lý phát triển kinh tế biển bền vững

Quản lý phát triển kinh tế biển bền vững đòi hỏi sự kết hợp giữa các chính sách kinh tế, môi trường, và xã hội. Luận án đề cập đến các công cụ quản lý như quy hoạch, chính sách hỗ trợ, và kiểm tra, giám sát. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý kinh tế biển bao gồm điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực, và sự tham gia của cộng đồng. Luận án cũng phân tích kinh nghiệm quản lý kinh tế biển của một số địa phương trong và ngoài nước để rút ra bài học cho Bình Định.

III. Thực trạng phát triển kinh tế biển tại Bình Định

Luận án đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển tại Bình Định giai đoạn 2013-2017, bao gồm các ngành kinh tế chính như đánh bắt hải sản, du lịch biển, và vận tải biển. Kết quả cho thấy, mặc dù kinh tế biển tại Bình Định đã có những bước phát triển đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như khai thác quá mức tài nguyên, ô nhiễm môi trường, và thiếu sự đồng bộ trong quy hoạch. Luận án cũng chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này, bao gồm sự thiếu hiệu quả trong quản lý và thiếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

3.1. Kết quả đạt được

Trong giai đoạn 2013-2017, Bình Định đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế biển, đặc biệt là trong ngành đánh bắt hải sản và du lịch biển. Sản lượng khai thác thủy sản tăng đáng kể, và du lịch biển đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Các chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế biển.

3.2. Hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù có những kết quả tích cực, phát triển kinh tế biển tại Bình Định vẫn còn nhiều hạn chế. Tình trạng khai thác quá mức tài nguyên biển, ô nhiễm môi trường, và thiếu sự đồng bộ trong quy hoạch là những vấn đề nổi cộm. Nguyên nhân chính bao gồm sự thiếu hiệu quả trong quản lý, thiếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng, và sự thiếu nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường biển.

IV. Giải pháp và kiến nghị

Luận án đề xuất các giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế biển bền vững tại Bình Định, bao gồm hoàn thiện chiến lược và quy hoạch, tăng cường quản lý tài nguyên biển, và nâng cao nhận thức cộng đồng. Các giải pháp này nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế biển một cách bền vững, đồng thời bảo vệ môi trường và tài nguyên biển. Luận án cũng đưa ra các kiến nghị với Chính phủ và các bộ liên quan để hỗ trợ thực hiện các giải pháp này.

4.1. Hoàn thiện chiến lược và quy hoạch

Một trong những giải pháp quan trọng là hoàn thiện chiến lược phát triển kinh tế biển tại Bình Định. Luận án đề xuất việc xây dựng một chiến lược tổng thể, bao gồm các mục tiêu cụ thể và lộ trình thực hiện. Quy hoạch phát triển kinh tế biển cần được thực hiện một cách đồng bộ, đảm bảo sự kết hợp giữa các ngành kinh tế biển và bảo vệ môi trường.

4.2. Tăng cường quản lý tài nguyên biển

Để đảm bảo phát triển kinh tế biển bền vững, luận án đề xuất tăng cường quản lý tài nguyên biển thông qua các biện pháp như kiểm soát khai thác, bảo vệ môi trường biển, và phát triển các khu bảo tồn biển. Các chính sách hỗ trợ cần được thực hiện một cách hiệu quả, đảm bảo sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững tại tỉnh bình định

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Ngày nay, phát triển kinh tế biển (PTKTB) được các quốc gia cũng như các địa phương có biển trên thế giới đặc biệt quan tâm. Biển ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế (PTKT), đảm bảo an ninh - quốc phòng (AN-QP) và chủ quyền lãnh thổ của các địa phương, các quốc gia có biển. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự cạnh tranh và hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng diễn biến phức tạp.

Việt Nam nằm phía Tây Biển Đông, có bờ biển dài khoảng 3620 km, nằm trên đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới, con đường chiến lược về giao lưu, thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, là nơi tập trung nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN), chiếm tới một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới. Với tiềm năng to lớn đó, biển đã và đang tạo nền tảng, cơ hội cho Việt Nam từng bước trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đồng thời Việt Nam cũng là một trong các quốc gia chịu hậu quả nặng nề nhất do tác động của môi trường như bão, lụt, ngập mặn,. Bình Định là tỉnh ven biển có nhiều TNTN phong phú, có nguồn nhân lực (NNL) dồi dào chưa khai thác hết, có tiềm năng phát triển các ngành kinh tế đang vươn lên mạnh như: kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển), hải sản (khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản), du lịch biển (DLB),. Việc khai thác tiềm năng lợi thế của biển có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của Tỉnh.

Trong thời gian qua, tỉnh Bình Định đã tập trung đầu tư phát triển mạnh kinh tế biển (KTB) và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đưa KTB trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Ngành kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển) đã góp phần tích cực vào nguồn thu ngân sách thông qua hệ thống thuế, phí và lệ phí cảng, vận chuyển hàng hóa, tạo một lượng lớn về công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần ổn định an sinh xã hội; Ngành hải sản (khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản) đã có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế (PTKT), trở thành ngành mũi nhọn, đóng góp lớn vào ngân sách, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động của Tỉnh. Đáng chú ý là từ năm 2013 đến nay, các chính sách hỗ trợ vay vốn, hỗ trợ nhiên liệu, thiết bị máy móc,… được thực hiện tốt đã góp phần cho ngư dân có điều kiện đóng mới, nâng công suất tàu cá, mua sắm 2 trang thiết bị và ngư lưới cụ, mở rộng ngư trường, bám biển dài ngày khai thác thủy sản (KTTS) hiệu quả hơn. Từ năm 2013-2017, bình quân mỗi năm ngư dân trong Tỉnh đã đóng mới 189 tàu cá công suất lớn; công suất bình quân 156 CV trở lên/tàu.112 tàu, tổng công suất 1.469 tàu công suất từ 90 CV trở lên, thành lập 204 tổ đoàn kết và 1 hợp tác xã KTTS để hỗ trợ nhau trong việc tìm ngư trường, giúp đỡ nhau khi gặp hoạn nạn, thay phiên vận chuyển sản phẩm vào bờ,… mang lại hiệu quả thiết thực [16], [17], [18], [19], [20].

Cơ sở hạ tầng (CSHT) và dịch vụ hậu cần nghề cá được đầu tư phát triển. Khu neo đậu tàu thuyền đã được Nhà nước đầu tư khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân neo đậu và bán sản phẩm. Trên địa bàn Tỉnh có 3 doanh nghiệp (DN) và 6 cơ sở dịch vụ thu mua, chế biến hải sản và 30 cơ sở chuyên cung cấp nước đá cho ngư dân. Những năm qua, giá trị sản xuất (GTSX) ngư nghiệp của Tỉnh tăng bình quân trên 9,1%/năm.

Hàng năm nghề KTTS đã giải quyết việc làm cho trên 15.000 lao động trực tiếp và trên 3.000 lao động làm dịch vụ hậu cần nghề cá [20]. Đời sống vật chất và tinh thần người dân ở các xã ven biển ngày càng được cải thiện. Sự lớn mạnh của các đội tàu đánh bắt cá đã góp phần thiết thực vào PTKT, đồng thời góp phần bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển đảo của tổ quốc; Ngành DLB đóng góp lớn vào nền kinh tế, doanh thu ngành du lịch và thu nhập xã hội từ du lịch không ngừng tăng lên qua các năm; với tốc độ tăng trưởng về doanh thu ngành du lịch thì mức độ đóng góp của ngành du lịch Bình Định cho ngân sách nhà nước (NSNN) cũng tăng lên nhanh chóng, cả về quy mô lẫn tốc độ theo chiều hướng năm sau tăng hơn năm trước. Tuy nhiên, PTKTB của Tỉnh chưa theo hướng bền vững (BV) và đang gặp nhiều khó khăn.

Đối với ngành kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển), việc đầu tư dàn trải, thiếu quy hoạch đồng bộ, hệ thống cảng chưa được kết nối tối ưu giữa các cảng, bên cạnh đó chưa kết nối đồng bộ với hệ thống giao thông đường bộ, đường không, đường sắt, đường thủy, đặc biệt là kết nối với các đầu mối quan trọng đó là các cửa khẩu, sân bay, ga tàu để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, khu vực kinh tế trọng điểm Miền Trung (KVKTTĐMT) và tỉnh Bình Định; Ngành hải sản còn tình trạng khai thác mang tính hủy diệt, khai thác trái phép trên vùng biển nước ngoài. Hải sản khai thác trên biển chưa được bảo quản kịp thời và đúng quy trình công nghệ nên làm cho chất lượng hải sản bị giảm sút. Các mặt hàng hải sản của Tỉnh chủ yếu phát triển theo chiều rộng, nghiêng về số lượng hơn chất lượng, dẫn tới hiệu quả kinh tế thấp; việc đánh bắt và khai thác vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán, ít 3 có DN lớn có thương hiệu nổi trội; sự cạnh tranh quyết liệt giữa các DN dẫn tới hiệu quả đánh bắt không cao. Đội tàu biển mới chủ yếu đảm nhận các tuyến nội địa và quanh khu vực Đông Nam Á; trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm tham gia thị trường vận tải quốc tế.

Năng suất khai thác thuỷ sản giảm, hiệu quả khai thác xa bờ thấp. Môi trường sinh thái và nguồn lợi thủy sản (NLTS) vẫn tiếp tục giảm. Bên cạnh đó công tác tìm kiếm thị trường, dự báo ngư trường, công tác thống kê còn bất cập; Ngành DLB thiếu sự quy hoạch tổng thể (QHTT), đồng bộ và tổng hòa từ nhiều khía cạnh của nền kinh tế trong Tỉnh nói riêng và KVKTTĐMT nói chung; hiệu quả trong quản lý du lịch chưa cao, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước (QLNN) chưa ngang tầm với nhiệm vụ trước mắt và lâu dài; v. Những hạn chế này đặt ra cho chính quyền tỉnh Bình Định bài toán lớn trong việc quản lý phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững (PTKTBTHBV).

Với cách tiếp cận theo góc độ QLNN về PTKTBTHBV, trong những năm qua, có thể thấy chính quyền tỉnh Bình Định đã có chủ trương, chiến lược, quy hoạch, chính sách nhằm PTKTBTHBV. Tuy nhiên những chủ trương, chiến lược, quy hoạch, chính sách này mới là bước đầu, chưa đồng bộ, nhất quán, chưa tạo môi trường thuận lợi để PTKTBTHBV; tổ chức bộ máy quản lý và công tác kiểm tra, giám sát cũng còn nhiều thiếu sót, thực hiện chưa nghiêm. Do đó, việc khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý PTKTB tại tỉnh Bình Định, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp nhằm quản lý PTKTBTHBV tại tỉnh Bình Định là cấp thiết, có tính thời sự cao, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn. Từ những phân tích, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững tại tỉnh Bình Định” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan 2. Các công trình nghiên cứu về quản lý phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững của Việt Nam và nước ngoài 2. Các công trình nghiên cứu về quản lý phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững của Việt Nam Nguyễn Thị Tú (2000), Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái biển Việt Nam trong xu thế hội nhập, đề tài cấp Bộ [55]. Đề tài đã làm rõ thực trạng về PTDL sinh thái biển Việt Nam trong xu thế hội nhập.

Qua đó, đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những thành công, hạn chế của quá trình PTDL sinh thái biển Việt Nam để làm cơ sở đề xuất những định hướng, giải pháp cho quá trình PTDL sinh thái biển Việt Nam. Đề tài mới chỉ nghiên cứu về du lịch 4 sinh thái biển mà chưa nghiên cứu đến các hoạt động, lĩnh vực khác trong nội dung PTKTB và nghiên cứu ở Việt Nam nói chung chứ chưa nghiên cứu cụ thể tại một địa phương nào. Trần Quốc Quỳnh (2003), Bàn về phát triển kinh tế xã hội bền vững ở Việt Nam, truy cập từ http://tailieuso.vn/handle/TTHL_125/268 [48]. Bài báo đã đề cập đến quan điểm PTBV từ ngày xưa đến hôm nay, trãi qua kinh nghiệm cuộc sống lâu đời, ngày nay xã hội loài người đã nhận thức đầy đủ về khái niệm PTBV tại nhiều quốc gia trên khắp hành tinh.

Tuy vậy, Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều thách thức và những vấn đề nóng bỏng về PTBV. Bài báo đã đưa ra một số nội dung cần được quan tâm đầy đủ và ưu tiên hơn trong quá trình PTBV. Những vấn đề này nếu không được triển khai thực hiện kịp thời, khi đã quá muộn sẽ rất tốn kém và hậu quả khó lường trước. Tuy nhiên bài báo chỉ mới dừng lại ở việc bàn về phát triển KT-XH nói chung mà chưa đề cập đến vấn đề quản lý PTKTBTHBV.

Trần Nguyễn Tuyên (2006), Phát triển bền vững - kinh nghiệm quốc tế và định hướng giải pháp đối với Việt Nam, truy cập từ http://tailieuso.vn/handle/ TTHL_125/267 [56]. Bài báo này phân tích kinh nghiệm quốc tế về PTBV, một số vấn đề rút ra đối với việc thực hiện chiến lược PTBV ở Việt Nam và đưa ra những kiến nghị đối với Việt Nam trong việc thực hiện chiến lược PTBV. Tuy nhiên bài báo chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu kinh nghiệm một số nước trên thế giới về PTBV và một số giải pháp đối với Việt Nam mà chưa đề cập đến PTBV về KTB và chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể cho một địa phương nào. Vũ Thị Minh Loan (2007), Quản lý nhà nước trong việc nâng cao thị phần vận tải của đội tàu biển Việt Nam, luận án tiến sĩ kinh tế, Viện nghiên cứu kinh tế và phát triển, Hà Nội [40].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Phát triển kinh tế biển bền vững tại Bình Định" là một nghiên cứu chuyên sâu về chiến lược phát triển kinh tế biển, tập trung vào việc khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên biển tại tỉnh Bình Định. Tài liệu này cung cấp những giải pháp bền vững nhằm cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển, đồng thời đề xuất các chính sách hỗ trợ để thúc đẩy ngành kinh tế biển địa phương. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến phát triển kinh tế biển bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện vĩnh thạch tỉnh bình định, nghiên cứu về phát triển kinh tế địa phương tại Bình Định. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên các dạng lập địa chính vùng cát ven biển các tỉnh hà tĩnh quảng bình và quảng trị cung cấp thêm góc nhìn về bảo vệ môi trường ven biển. Cuối cùng, Luận án ts phân tích chuỗi giá trị và hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi cá tra ở đồng bằng sông cửu long là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về phát triển bền vững trong lĩnh vực thủy sản.