CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG LẠM PHÁT CƠ BẢN CHO VIỆT NAM Lạm phát là một trong những chỉ số kinh tế quan trọng nhất, được chờ đợi nhất và được phổ biến rộng rãi nhất. Lạm phát thấp và ổn định được xem như là một mục tiêu quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô. Trong đó, lạm phát cơ bản là chỉ tiêu được sử dụng để điều hành chính sách tiền tệ và ngày càng được phổ cập rộng rãi ở các nước trên thế giới. Do đó, trong chương này, phần đầu tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về lạm phát, đặc biệt là lạm phát cơ bản.
Tiếp theo, tác giả xây dựng lạm phát cơ bản phù hợp với nền kinh tế Việt Nam và hệ thống hóa các mô hình được sử dụng trong phân tích và dự báo lạm phát cơ bản. Cơ sở lý luận về lạm phát cơ bản 1. Cơ sở lý luận về lạm phát 1. Khái niệm Theo từ điển Oxford English Dictionary (1989), thuật ngữ lạm phát được lần đầu sử dụng với nghĩa: sự mất giá của tiền tệ từ năm 1838.
Đến năm 1874, thuật ngữ lạm phát còn mang thêm nghĩa là sự tăng lên của giá cả (Bernholz 2003). Lạm phát là một hiện tượng kinh tế được nhìn nhận dưới nhiều góc độ bởi những tác động của nó đối với đời sống kinh tế xã hội, vì thế mà có rất nhiều nhà khoa học đã đưa ra quan điểm của mình về lạm phát, trong đó, nổi bật lên là ba quan điểm: Theo quan điểm Mác – Lênin cho rằng “lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế, nó xuất hiện khi các yêu cầu của luật kinh tế hàng hóa không còn được tôn trọng, đặc biệt là quy luật lưu thông tiền tệ”. Theo Milton Friedman (1963) chỉ ra rằng “lạm phát luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Nhà kinh tế học Robert J.
Samuelson (2008) cho rằng “lạm phát thể hiện sự gia tăng mức giá chung trong một nền kinh tế”. Phương pháp đo lường lạm phát Để đo lường lạm phát đã có nhiều phương pháp được sử dụng, trong đó phổ biến nhất là sử dụng chỉ số: chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giảm phát GDP (DGDP), chỉ số lạm phát cơ bản (CPI core), chỉ số giá sản xuất (PPI) hay chỉ số giá 8 sinh hoạt (CLI). Trong đó, CPI là chỉ số đo lường tốt nhất và được sử dụng để đo lường lạm phát hiện nay (ILO 2014). Theo Tổng cục thống kê (GSO 2011) chỉ số CPI là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả chung qua thời gian của một số lượng các loại hàng hóa và dịch vụ đại diện cho tiêu dùng cuối cùng của người dân.
Để tính CPI, cơ quan thống kê xác định hai yếu tố: (1) Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện; (2) Quyền số của mỗi hàng hóa. Công thức tính CPI được xác định như sau: k ∑P Q i t i 0 CPI = ik=1 ×100 ∑P Q i =1 i 0 i 0 Trong đó: Pi 0 , Qi0 là giá và sản lượng của sản phẩm i trong năm cơ sở; Pi t là giá cả của hàng hóa i trong năm t; k là số mặt hàng tiêu dùng; Quyền số của CPI là lượng ở năm gốc Qi0. CPI được xác định dựa trên kỳ gốc và thông thường kỳ gốc này được xác định với giá trị 100. Sự thay đổi của CPI năm khảo sát so với kỳ gốc phản ánh sự thay đổi của mức giá chung trong nền kinh tế.
Cấu trúc giỏ CPI hiện nay bao gồm 11 nhóm hàng cấp một, 32 nhóm hàng cấp hai, 86 nhóm hàng cấp 3 và 256 nhóm hàng cấp 4. Phân loại lạm phát Firsch (1990) đã chia lạm phát theo tiêu chí tốc độ tăng giá thành ba loại chính: Lạm phát vừa phát (lạm phát một con số): lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng chậm và tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm. Cụ thể hơn, Akerlof (1996) cho rằng mức lạm phát vừa phải từ 3-5% có ích cho tăng trưởng ổn định của nền kinh tế. Theo đó, lạm phát tăng lên ở mức vừa phải khi giá cả biến động tương đối ổn định.
Lạm phát phi mã (lạm phát hai con số): ở mức lạm phát hai con số thấp như 11, 12, 13% thì tác động của nó có thể không lớn, nhưng lạm phát ở mức hai con số cao thì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế. Chẳng hạn như tỷ lệ lạm phát của Việt Nam trong các năm 2008 là 19. Tổng quát hơn, lạm phát phi mã là lạm phát có mức độ tăng cao bất thường, từ đó làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng gây biến động lớn về kinh tế. Khi xảy ra lạm phát phi mã, hành 9 vi của người tiêu dùng thay đổi khiến tâm lý tích trữ hàng hóa, đầu tư vào vàng bạc, bất động sản tăng lên và người gửi tiền tiết kiệm không chấp nhận gửi tiền ở lãi suất bình thường.
Lạm phát phi mã làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập đồng thời là mối đe dọa đối với sự ổn định của nền kinh tế. Siêu lạm phát (lạm phát từ ba con số trở lên): Đây là loại lạm phát có thể gây ra những tiêu cực lớn đối với nền kinh tế. Điển hình là tỷ lệ lạm phát ở Zimbabwe có những thời điểm lên tới 2. Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát theo năm ở mức ba con số trong đó giá cả hàng hóa vượt ngoài tầm kiểm soát khi đồng tiền của quốc gia mất giá mạnh.
Các nguyên nhân gây ra lạm phát Có thể giải thích các nguyên nhân của lạm phát theo hai quan điểm chính như sau: 1) Quan điểm của trường phái Keynes Theo lý thuyết Keynes, có hai nguyên nhân chính có thể gây ra lạm phát là lạm phát do cầu kéo và lạm phát do chi phí đẩy. Lạm phát do cầu kéo: Lạm phát này xảy do tổng cầu về một mặt hàng bất kỳ tăng nhanh, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt quá mức tự nhiên, khi đó tổng cầu tăng vượt mức cung hàng hóa, điều này sẽ làm cho giá cả của mặt hàng đó cũng tăng nhanh.1: Lạm phát do cầu kéo Giả sử một nền kinh tế được biểu diễn như hình trên, với AD là đường tổng cầu, LAS là đường tổng cung dài hạn, SAS là đường tổng cung ngắn hạn, Q là sản 10 lượng và P là mức giá. Trong đó, P0 và Q0 thể hiện mức giá và sản lượng ở trạng thái cân bằng của nền kinh tế. Giả sử, tổng cầu trong nền kinh tế tăng sẽ làm cho đường AD dịch chuyển sang phải, chẳng hạn từ AD0 dịch chuyển đến AD1, điều này sẽ làm tăng sản lượng trong nền kinh tế từ mức Q0 thành Q1.
Do đó, nền kinh tế sẽ đạt trạng thái cân bằng mới và ở mức giá P1. Trong ngắn hạn, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, thất nghiệp thấp hơn nhưng đồng thời lại phải đối mặt với lạm phát cao hơn. Tuy nhiên, đối với mỗi nền kinh tế, đường tổng cung dài hạn chính là đường thể hiện sự cân bằng về sản lượng của nền kinh tế. Sự gia tăng sản lượng cũng đồng thời làm tăng lương trong nền kinh tế, sẽ làm đường tổng cung ngắn hạn (SAS) dịch chuyển sang trái, chẳng hạn AS0 dịch chuyển đến AS1.
Do vậy, nền kinh tế sẽ đạt được trạng thái cân bằng mới ở mức sản lượng cân bằng trong dài hạn và ở một mức giá cao hơn là P2. Tương tự như vậy, nếu cầu tiếp tục tăng, sẽ làm dịch chuyển từ AD1 sang AD2 thì đường cung ngắn hạn cũng sẽ dịch chuyển từ SAS1 sang SAS2 để nền kinh tế trở về trạng thái cân bằng sản lượng trong dài hạn. Như vậy, nền kinh tế sẽ đạt trạng thái cân bằng ở mức giá P4. H (1990) đường AD dịch chuyển sang phải là do các nguyên nhân sau: - Sự gia tăng của tiêu dùng tư nhân: có thể được gây ra bởi nhiều nguyên nhân, những nguyên nhân chính là do tổng lương trong nền kinh tế tăng sẽ làm nhu cầu chi tiêu của các hộ gia đình tăng.
- Sự gia tăng đầu tư của khu vực tư nhân: là do sự lạc quan vào nền kinh tế, các hộ gia đình và các doanh nghiệp sẽ đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh. - Sự gia tăng của chi tiêu Chính phủ: khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng như việc mua sắm trang thiết bị và chi an ninh quốc phòng. - Sự gia tăng của xuất khẩu: xuất khẩu tăng sẽ làm giảm lượng hàng hóa lưu thông trong nước, điều này sẽ làm tăng mức giá đối với các mặt hàng này. Đồng thời xuất khẩu tăng làm tăng lượng ngoại tệ lưu hành trong nền kinh tế.
Lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra khi đường tổng cung dịch chuyển sang trái do chí phí đầu vào của các doanh nghiệp tăng nhanh hơn năng suất lao động làm cho giá cả của các mặt hàng do doanh nghiệp sản xuất ra tăng cao. Các mặt hàng của doanh nghiệp sản xuất không tăng hoặc tăng ít trong khi chi phí đầu vào tăng sẽ tạo áp lực đẩy giá bán sản phẩm tăng lên làm giảm mức cung hàng hóa của xã hội.2: Lạm phát do chi phí đẩy Trong đó, AD, LAS, SAS, Q và P được định nghĩa như ở trên. Giả sử, tổng cung ngắn hạn trong nền kinh tế tăng sẽ làm cho đường SAS dịch chuyển sang trái, chẳng hạn từ SAS0 dịch chuyển đến SAS1, điều này sẽ làm giảm sản lượng trong nền kinh tế từ mức Q0 thành Q1. Do đó, nền kinh tế sẽ đạt trạng thái cân bằng mới và ở mức giá P1.
Trong ngắn hạn, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng thấp hơn, thất nghiệp cao hơn và lạm phát cao hơn. Sự giảm sản lượng của nền kinh tế sẽ làm tăng đường tổng cầu, chẳng hạn AD0 dịch chuyển đến AD1. Do vậy, nền kinh tế sẽ đạt được trạng thái cân bằng mới ở mức sản lượng cân bằng trong dài hạn và ở một mức giá cao hơn là P2. Tương tự như vậy, nếu cung ngắn hạn tiếp tục giảm, sẽ làm dịch chuyển từ SAS1 sang SAS2 thì đường cầu cũng sẽ dịch chuyển từ AD1 sang AD2 để nền kinh tế trở về trạng thái cân bằng sản lượng trong dài hạn.
Như vậy, nền kinh tế sẽ đạt trạng thái cân bằng ở mức giá P3.