Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn Thơ du tiên đời Đường được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyết dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Lê Bảo, bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên ngành Văn học nước ngoài (mã số 62.45).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng cùng với các bộ phận thơ biên tái, thơ vịnh sử, thơ khuê phụ, thơ điền viên và thơ sơn thủy, mảng thơ du tiên đóng góp vào diện mạo đa dạng của Đường thi. Tuy nhiên, trong khi các dòng thơ khác đã được khai thác sâu sắc, thơ du tiên đời Đường lại chưa được quan tâm đúng mức. Tại Trung Quốc, phải đến những năm 80 của thế kỷ XX mảng thơ này mới bắt đầu được khảo sát nhiều. Tại Việt Nam, trước thời điểm luận án hoàn thành, chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu quy mô về thơ du tiên đời Đường như một đề tài lớn mang tính hệ thống. Mặt khác, thơ Đường có ảnh hưởng sâu rộng đến văn học Việt Nam từ trung đại đến phong trào Thơ mới (1900-1945), đồng thời giữ vị trí quan trọng trong chương trình giảng dạy đại học. Nhu cầu tư liệu nghiên cứu và giảng dạy về mảng đề tài này đòi hỏi một công trình khảo cứu chuyên biệt.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Khám phá thơ du tiên đời Đường từ cội nguồn văn hóa Trung Hoa (tín ngưỡng dân gian, lịch sử - xã hội, triết học Đạo gia, tôn giáo Đạo giáo, thần thoại và tiên thoại), khẳng định đây là hiện tượng nổi bật trong dòng chảy thơ du tiên Trung Quốc.
  2. Khảo sát các đặc trưng thẩm mĩ cơ bản gồm tiên hóa, diễm tình hóa, thế tục hóa gắn liền với các phương thức sáng tạo chủ yếu là lấy đại làm mĩ, lấy mộng làm mĩ, tự sự kết hợp trữ tình, nhằm định hình diện mạo riêng của thơ du tiên đời Đường.
  3. Nghiên cứu âm hưởng của thơ du tiên đời Đường trong thơ Việt Nam giai đoạn 1900-1945 qua góc nhìn so sánh, làm rõ sức lan tỏa của thể tài và bản lĩnh tiếp nhận của các nhà thơ Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là thơ du tiên đời Đường. Về phạm vi ngữ liệu, tác giả khảo sát toàn bộ 223 bài thơ du tiên đời Đường in trong bộ Toàn Đường thi (Trung Hoa thư cục, 1960). Ngoài ra, luận án tham khảo các bản dịch tiếng Việt có đối chiếu chữ Hán trong các tài liệu: Đường thi tuyển dịch (Lê Nguyễn Lưu dịch, 1997), Thơ Đường tập 1 (Nam Trân giới thiệu và tuyển chọn, 1987), Đường thi trích dịch (Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản dịch, 2006), cùng các thi phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn 1900-1945.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tại Trung Quốc, lịch sử nghiên cứu thơ du tiên đời Đường được tác giả điểm lại qua hai mảng lớn: tuyển thơ và nghiên cứu phê bình.

  • Về tuyển thơ: Xuất hiện từ thời Đường với Thi nhân chủ khách đồ của Trương Vị (tuyển 5 bài của Lý Bạch, 8 bài của Tào Đường), Hựu huyền tập của Vi Trang (8 bài của Tào Đường). Sang thời Ngũ đại có Tài điệu tập của Vi Cô (19 bài của Tào Đường). Thời Tống có Vạn thủ Đường nhân tuyệt cú của Hồng Mại (tuyển trọn 98 bài Tiểu du tiên thi của Tào Đường). Thời Nguyên có Đường âm của Dương Sĩ Hoằng (2 bài của Tào Đường, 5 bài của Lý Bạch). Thời Minh có Đường thi phẩm vựng của Cao Bỉnh (10 bài của Tào Đường). Thời Thanh có Đường thi biệt tài tập của Thẩm Đức Tiềm (20 bài thơ du tiên đời Đường). Thời cận hiện đại có Đường thi đại hệ của Văn Nhất Đa (chọn 22 bài của Tào Đường). Các tuyển tập khác như Đường thi giám thưởng từ điển (Tiêu Điều Phi, Trình Thiên Phàm chủ biên) chọn 25 bài; Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường chọn 10 bài; Đường thi tam bách thủ (Hoành Đường Thoái Sĩ tuyển, Trần Uyển Tuấn bổ chú) chọn 12 bài; Đường thi tam bách thủ của Lưu Thủ Thuận chọn 11 bài; Trung cổ tiên đạo thơ tinh hoa của Chung Lai Ngân tuyển gần 400 bài của 109 nhà thơ nhưng chỉ dừng lại trước đời Đường.
  • Về nghiên cứu phê bình nội dung và nghệ thuật: Trước thế kỷ XX, các nhận định chủ yếu xuất hiện rải rác trong lời tựa và lời bình của Đỗ Mục (tựa tập Lý Trường Cát ca thi), Phạm Truyền (tựa bia mộ Lý Bạch), Trương Vị (xếp Tào Đường vào phái khôi kì mĩ lệ), Kim Thánh Thán (bình các bài Hán Vũ của Tiết Phùng, Đề Tiên du quán của Hàn Hoằng, Thánh nữ từ của Lý Thương Ẩn). Từ giữa thế kỷ XX, có bài viết của Trình Thiên Phàm (1949) so sánh thơ Tào Đường và Quách Phác; sách Đường hí lộng của Nhiệm Bán Đường bàn về Đại du tiên thi; sách Lịch sử văn học Trung Quốc (Dư Quan Anh, Tiền Chung Thư, Phạm Ninh chủ biên) phân tích tư tưởng du tiên của Lý Bạch, Lý Hạ, Lý Thương Ẩn. Từ thập niên 1980 đến nay, các luận văn thạc sĩ tại Trung Quốc (Lỗ Hoa Phong, Trần Yên Tường, Lí Dĩnh Lợi, La Giai Ni) đã phân kỳ thơ du tiên đời Đường qua bốn giai đoạn Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường, Vãn Đường. Sách Khái luận về thơ du tiên Trung Quốc của Hùng Hiểu Yên khảo sát thêm thơ du tiên của phái biên tái (Sầm Tham) và phái điền viên (Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên). Các chuyên luận đi sâu vào ảnh hưởng Đạo giáo (Vương Hữu Thắng, Lí Vĩnh Bình, Đông Lâm); quan hệ với truyện truyền kì (Lỗ Hoa Phong, Nghiêm Xuân Hoa); khuynh hướng thế tục hóa (Lưu Khiết, Đa Lạc Khẳng, Lí Vĩnh Bình); tâm thái sáng tác và thái độ đối với thần tiên (Từ Lạc Quân, Lật Xuân Na); ý nghĩa mĩ học và văn hóa (Miêu Hà, Lâm Hải); nghệ thuật thể loại và ý tượng (Lí Nãi Long, Dung Hải Đào). Tác giả tiêu biểu được nghiên cứu sâu gồm Lý Bạch, Lý Hạ, Lý Thương Ẩn, Tào Đường và một số tên tuổi như Vương Tích, Vương Bột, Lư Chiếu Lân, Ngô Quân, Bạch Cư Dị.

Tại Việt Nam, các công trình dịch thuật và giới thiệu thơ Đường chủ yếu chọn lọc các chủ đề quen thuộc, chưa hình thành chuyên luận độc lập khảo sát riêng thơ du tiên đời Đường và dấu ấn tiếp nhận trong văn học Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là: Xây dựng một công trình chuyên khảo có quy mô đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận thơ du tiên đời Đường một cách toàn diện từ cội nguồn văn hóa, xác định các nguyên tắc thẩm mĩ cùng phương thức sáng tạo đặc thù, đồng thời đối chiếu làm rõ âm hưởng của mảng thơ này trong phong trào Thơ mới Việt Nam 1900-1945.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp ba cách tiếp cận và bốn phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

Các cách tiếp cận lý thuyết:

  • Tiếp cận văn hóa học: Luận án giải mã thơ du tiên đời Đường dựa trên hệ thống các mã văn hóa truyền thống Trung Hoa, xem xét tác phẩm trong mối liên hệ với tín ngưỡng nguyên thủy, triết học Lão - Trang, tôn giáo Đạo giáo và thế giới thần thoại, tiên thoại.
  • Tiếp cận thi pháp học: Tác giả xuất phát từ việc tìm hiểu các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật, hệ thống ý tượng và các đặc trưng thẩm mĩ để nắm bắt hình tượng nghệ thuật và nội dung tư tưởng của tác phẩm.
  • Tiếp cận nghiên cứu ảnh hưởng và tiếp nhận: Đặt trong trường nghiên cứu văn học so sánh nhằm chỉ ra các phương diện mà thơ du tiên đời Đường đã lan tỏa và tác động vào thơ ca Việt Nam giai đoạn 1900-1945.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để làm sáng tỏ các luận điểm nghệ thuật từ các thi phẩm cụ thể, từ đó nâng lên thành các kết luận khái quát.
  • Phương pháp so sánh: Được vận dụng ở hai trục; trục lịch đại nhằm so sánh thơ du tiên đời Đường với thơ du tiên các thời kỳ trước và sau Đường; trục đồng đại nhằm so sánh thơ du tiên đời Đường với thơ Việt Nam giai đoạn 1900-1945.
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp kiến thức văn học với văn hóa học, tôn giáo học, triết học và lịch sử.
  • Thao tác thống kê, phân loại: Thu thập, phân loại toàn bộ 223 bài thơ du tiên đời Đường từ văn bản Toàn Đường thi, thống kê các nhóm ý tượng, điển cố, tần suất xuất hiện của hình tượng nhân vật và địa danh.

Nguồn tư liệu thực tế: 223 bài thơ du tiên đời Đường in trong Toàn Đường thi (Trung Hoa thư cục, 1960), các công trình dịch thuật Đường thi của Lê Nguyễn Lưu, Nam Trân, Đỗ Bằng Đoàn, Bùi Khánh Đản, các văn bản Thơ mới Việt Nam giai đoạn 1900-1945 của Tản Đà, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương, cùng hệ thống thư tịch, luận văn tiếng Trung và tiếng Việt liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương Tiêu đề chương trong văn bản Dung lượng trang Luận điểm và phát hiện trọng tâm
Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Tr. 5 - 29 Hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thơ du tiên tại Trung Quốc và Việt Nam; chỉ ra các khoảng trống về tuyển tập chuyên đề, thi pháp và nghiên cứu tiếp nhận so sánh.
Chương 2 Thơ du tiên đời Đường nhìn từ cội nguồn văn hóa Trung Hoa Tr. 30 - 58 Xác lập khái niệm thơ du tiên và hiện tượng dung hợp sơn thủy; phân tích 4 cội nguồn văn hóa; xác định tiến trình vận động qua các thời kỳ lịch sử.
Chương 3 Đặc trưng thẩm mĩ của thơ du tiên đời Đường Tr. 59 - 109 Khái quát 3 đặc trưng thẩm mĩ: tiên hóa, diễm tình hóa, thế tục hóa gắn liền 3 phương thức sáng tạo: lấy đại làm mĩ, lấy mộng làm mĩ, tự sự kết hợp trữ tình.
Chương 4 Âm hưởng của thơ du tiên đời Đường trong thơ Việt Nam giai đoạn 1900-1945 Tr. 110 - 147 Khảo sát tư thế trữ tình trích tiên, phương tiện, mục đích, xu hướng thế tục hóa, hệ thống điển cố và cấu tứ nghệ thuật trong Thơ mới 1900-1945.

Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này phân tích lịch sử tiếp cận thơ du tiên đời Đường theo hai không gian học thuật. Tại Trung Quốc, tác giả tổng thuật chi tiết từ việc tuyển thơ thời cổ trung đại đến các công trình phê bình thế kỷ XX và các luận văn chuyên đề từ thập niên 1980 trở lại đây. Giới nghiên cứu Trung Quốc tập trung vào các vấn đề: ảnh hưởng của Đạo giáo đối với thi nhân, mối quan hệ giữa thơ du tiên và truyện truyền kì đời Đường, khuynh hướng thế tục hóa, tâm thái sáng tác của thi nhân, ý nghĩa văn hóa - mĩ học, sự vận động của thể loại (tuyệt cú, trường thiên cổ thể) và hệ thống ý tượng tiên nhân. Về tác giả, Lý Bạch, Lý Hạ, Lý Thương Ẩn và Tào Đường nhận được nhiều sự chú ý nhất. Tại Việt Nam, nghiên cứu về thơ Đường diễn ra sớm nhưng thơ du tiên chưa được khảo sát tách biệt như một chỉnh thể độc lập; các công trình chủ yếu đề cập gián tiếp khi giảng dạy tác gia Lý Bạch. Tiểu kết chương 1 khẳng định sự cần thiết của việc xây dựng một công trình chuyên khảo có hệ thống về mảng thơ này.

Chương 2. Thơ du tiên đời Đường nhìn từ cội nguồn văn hóa Trung Hoa

Chương 2 giới thuyết khái niệm thơ du tiên: là loại thơ lấy đề tài thần tiên, tiên cảnh, tiên thuật, hoạt động du ngoạn cõi tiên làm nội dung phản ánh. Luận án nêu rõ hiện tượng giao thoa giữa thơ du tiên và thơ sơn thủy đời Đường thông qua nhận định của Trần Trung Hỷ, chỉ ra cảnh thực được hư hóa, ảo hóa và tiên hóa trong các tác phẩm của Lý Bạch như Tây nhạc Vân Đài ca tống Đơn Cân Tử, Lư sơn dao kí Lư Thị Ngự Hư Chu, Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt, Sơn trung vấn đáp. Tiếp đó, tác giả phân tích bốn cội nguồn văn hóa:

  1. Tín ngưỡng dân gian và cơ sở lịch sử xã hội: Bắt nguồn từ nỗi sợ cái chết và khát vọng trường sinh bất tử (quan niệm ngũ phúc coi thọ là đầu, sáu hình phạt coi đoản mệnh là nặng nhất). Người Trung Hoa coi trọng thân xác bất tử ở hiện thế thay vì chỉ cứu rỗi linh hồn. Hoàn cảnh chiến loạn thời Xuân Thu - Chiến Quốc thức tỉnh ý thức sinh mệnh cá thể, thúc đẩy phong trào tìm thuốc trường sinh thời Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Đế.
  2. Cội nguồn triết học: Triết học Đạo gia của Lão Tử đề cao sự vô vi để bảo toàn thân thể ("Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân"). Trang Tử trong Tiêu dao du kiến tạo hình tượng thần nhân trên núi Cô Dịch ("da thịt như băng tuyết... không ăn ngũ cốc, hút gió uống sương..."), xác lập tinh thần tự do tuyệt đối của chim Bằng, cá Côn làm nền tảng tinh thần cho thơ du tiên.
  3. Cội nguồn tôn giáo: Đạo giáo bản địa hóa tư tưởng thần tiên, thiết lập phương thức tu luyện ngoại đan và nội đan, cụ thể hóa không gian tiên giới thành 36 động thiên, 72 phúc địa gắn liền với danh sơn, tạo ra tính thế tục rõ rệt (đường đến núi Chung Nam, thuật phòng trung).
  4. Cội nguồn thần thoại, tiên thoại: Các ghi chép từ Sơn Hải Kinh (núi bất tử, cây bất tử, Hậu Nghệ, Thường Nga, Tây Vương Mẫu) chuyển hóa thành tiên thoại từ thời Chiến Quốc sang Đông Hán với ba chủ đề: tu tiên, luyến ái và cứu thế.

Về tiến trình phát triển, tác giả phân kỳ: thời Tiên Tần khởi nguồn với Khuất Nguyên (Li tao, Viễn du) đặt ra mô thức "khảm lãm vịnh hoài"; thời Tần Hán định hình diện mạo; thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều phát triển mạnh với Tào Tháo, Tào Thực, Nguyễn Tịch, Kê Khang, Quách Phác; đời Đường trở thành hiện tượng nổi bật (Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường, Vãn Đường); từ đời Tống đến đời Thanh dần suy thoái.

Chương 3. Đặc trưng thẩm mĩ của thơ du tiên đời Đường

Chương 3 triển khai ba đặc trưng thẩm mĩ gắn với ba phương thức sáng tạo:

  1. Tiên hóa cảnh vật và con người trần thế: Hình thành trên nền tảng kinh tế, chính trị hưng thịnh của thời Sơ - Thịnh Đường, sự phát triển của Đạo giáo và quan niệm địa tiên (đồng nhất danh sơn với tiên cảnh). Phương thức sáng tạo chủ yếu là "lấy đại làm mĩ". Biểu hiện qua các hình tượng kì vĩ, khoáng đạt, phi phàm của thiên nhiên và việc chủ thể thi nhân tự nâng mình lên hàng tiên phong đạo cốt (tiêu biểu ở Lý Bạch).
  2. Diễm tình hóa: Hình thành do sự bùng nổ của lối sống hưởng lạc, sự lưu hành thuật phòng trung, sự xuất hiện của tầng lớp nữ quan (nữ đạo sĩ) và ảnh hưởng từ tiên thoại Lục Triều. Phương thức sáng tạo chủ yếu là "lấy mộng làm mĩ". Biểu hiện qua ba mối quan hệ tình ái: giữa tiên nhân với tiên nhân, giữa phàm nhân với phàm nhân, giữa tiên nhân với phàm nhân (đặc biệt trong thơ Tào Đường và Lý Thương Ẩn).
  3. Thế tục hóa tiên cảnh, tiên nhân và giấc mộng cầu tiên của con người: Hình thành từ những biến động xã hội dữ dội thời Trung - Vãn Đường sau loạn An Sử, sự suy giảm vị thế thần quyền, sự chuyển dịch tư tưởng Nho - Phật - Đạo và sự lớn mạnh của tầng lớp thị dân. Phương thức sáng tạo chủ yếu là "tự sự kết hợp trữ tình". Biểu hiện gồm: tục hóa tiên cảnh (kéo cõi tiên về gần cõi trần, thậm chí miêu tả cảnh tiên xấu, ác), phàm hóa tiên nhân (tiên nhân cũng chịu sinh tử, bi hoan, già nua, phiền muộn), và phê phán thái độ học đạo cầu tiên hoang đường của vua chúa, quý tộc (thể hiện rõ trong thơ Lý Hạ, Lý Thương Ẩn, Tiết Phùng, Lư Đồng, Thi Kiên Ngô).

Chương 4. Âm hưởng của thơ du tiên đời Đường trong thơ Việt Nam giai đoạn 1900-1945

Chương 4 khảo sát dấu ấn của thơ du tiên đời Đường trong phong trào Thơ mới Việt Nam:

  • Tư thế trữ tình và đề tài: Thể hiện qua ý thức về thân phận "trích tiên" lưu lạc nơi trần thế (rõ nét ở Tản Đà, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử) và hành trình du tiên như một sự tìm về cội nguồn tâm linh, thoát ly thực tại ngột ngạt.
  • Phương tiện và mục đích: Phương tiện du tiên không còn dừng lại ở việc tu luyện đan dược mà chuyển thành giấc mộng, hồn bướm, men rượu, làn khói thuốc hoặc đôi cánh tưởng tượng lãng mạn. Mục đích du tiên nhằm giải tỏa bế tắc nhân sinh, khẳng định cái tôi cá nhân tự do và xu hướng thế tục hóa cõi tiên thành không gian tình ái trần thế.
  • Nghệ thuật biểu hiện: Kế thừa hệ thống từ ngữ tượng trưng ước lệ của Đường thi; vận dụng phong phú điển tích điển cố gắn với địa danh tiên cảnh (Côn Luân, Dao Trì, Vu Sơn, Thiên Thai) và nhân vật truyền thuyết (Tây Vương Mẫu, Lưu Thần, Nguyễn Triệu, Chức Nữ, Hằng Nga). Cấu tứ bài thơ được tổ chức dựa trên các cặp quan hệ nghệ thuật: tiên - tục, thực - hư / còn - mất, và động - tĩnh (tiêu biểu qua sáng tác của Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Vũ Hoàng Chương).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án góp phần xác lập khái niệm thơ du tiên đời Đường, phân định ranh giới và chỉ ra mối quan hệ giao thoa giữa thể tài du tiên và thơ sơn thủy trong văn học cổ trung đại.
  • Qua việc khảo sát âm hưởng của thơ du tiên đời Đường trong thơ Việt Nam giai đoạn 1900-1945, công trình góp phần làm sáng tỏ quy luật lan tỏa, chuyển dịch của một hiện tượng văn học ra ngoài biên giới quốc gia, khẳng định vai trò của việc tiếp thu tinh hoa văn học nước ngoài đối với sự phát triển của văn học dân tộc.

Về mặt văn học sử:

  • Luận án giải mã thơ du tiên đời Đường từ góc nhìn mã văn hóa truyền thống Trung Hoa, kết nối văn bản văn học với tín ngưỡng nguyên thủy, triết học Lão - Trang, Đạo giáo và thần thoại, tiên thoại.
  • Luận án phát hiện và hệ thống hóa ba nguyên tắc thẩm mĩ cơ bản gắn liền với ba đặc trưng tiêu biểu của thơ du tiên đời Đường:
    1. Nguyên tắc "lấy đại làm mĩ" tương ứng với đặc trưng tiên hóa cảnh vật và con người trần thế.
    2. Nguyên tắc "lấy mộng làm mĩ" tương ứng với đặc trưng diễm tình hóa các mối quan hệ thần tiên.
    3. Nguyên tắc "tự sự kết hợp trữ tình" tương ứng với đặc trưng thế tục hóa cõi tiên, phàm hóa tiên nhân và phê phán hành vi cầu tiên.
  • Khẳng định vị trí của dòng thơ du tiên trong cấu trúc tổng thể của Đường thi và làm rõ bản lĩnh cách tân của các nhà thơ Việt Nam trong việc tiếp biến đề tài này giai đoạn 1900-1945.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế: Do khuôn khổ của một luận án tiến sĩ và khả năng bao quát tư liệu, tác giả giới hạn phạm vi khảo sát ở 223 bài thơ du tiên trong Toàn Đường thi và tập trung so sánh với thơ ca Việt Nam giai đoạn 1900-1945. Luận án chưa thể bao quát toàn bộ các biểu hiện của đề tài du tiên trong toàn bộ tiến trình văn học trung đại Việt Nam hoặc mở rộng so sánh với các nền văn học Đông Á khác thuộc khu vực văn hóa chữ Hán.

Về hướng nghiên cứu tiếp: Theo phần kết luận của luận án (trang 150), tác giả xác định hai hướng nghiên cứu tiếp theo:

  1. Mở rộng tìm hiểu dấu ấn của thơ du tiên trong văn học viết Việt Nam thời trung đại, đặc biệt là mảng thơ chữ Hán thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn.
  2. Đặt thơ du tiên đời Đường trong tương quan so sánh với thơ du tiên ở các quốc gia đồng văn trong khu vực Đông Á như Triều Tiên, Nhật Bản nhằm làm rõ tính phổ quát và đặc thù khu vực.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Văn học nước ngoài, Văn học Trung Quốc, Văn học so sánh và Văn học Việt Nam.
  • Những người nghiên cứu và giảng dạy phần Văn học Trung Quốc trong chương trình Ngữ văn bậc đại học và trung học phổ thông.

Các phần có giá trị trích dẫn học thuật cao:

  • Chương 1 là một bản tổng lược thư mục chi tiết về lịch sử nghiên cứu thơ du tiên tại Trung Quốc từ thời Đường đến đương đại, cung cấp nhiều nguồn tài liệu tham khảo chữ Hán.
  • Chương 2 và Chương 3 cung cấp khung phân tích văn hóa học và thi pháp học về thơ Đường, hữu ích khi khai thác các thi phẩm của Lý Bạch, Lý Hạ, Lý Thương Ẩn, Tào Đường.
  • Chương 4 cung cấp mô hình so sánh văn học ứng dụng giữa Đường thi và Thơ mới Việt Nam, chỉ ra các thao tác phân tích cấu tứ và điển cố văn học.

Câu hỏi thường gặp

Luận án khảo sát bao nhiêu bài thơ du tiên đời Đường và nguồn văn bản lấy từ đâu?

Tác giả tiến hành khảo sát toàn bộ 223 bài thơ du tiên đời Đường được lưu giữ trong bộ Toàn Đường thi do Trung Hoa thư cục ấn hành năm 1960. Khi chứng minh các luận điểm, tác giả chọn lọc phân tích các tác phẩm tiêu biểu nhất từ tập hợp ngữ liệu này, đồng thời đối chiếu với các bản dịch tiếng Việt của Lê Nguyễn Lưu, Nam Trân, Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản.

Ba đặc trưng thẩm mĩ cơ bản và ba phương thức sáng tạo tương ứng của thơ du tiên đời Đường là gì?

Luận án xác lập ba cặp đặc trưng thẩm mĩ và phương thức sáng tạo:

  1. Đặc trưng tiên hóa cảnh vật và con người trần thế tương ứng với phương thức sáng tạo "lấy đại làm mĩ".
  2. Đặc trưng diễm tình hóa tương ứng với phương thức sáng tạo "lấy mộng làm mĩ".
  3. Đặc trưng thế tục hóa tiên cảnh, tiên nhân và giấc mộng cầu tiên tương ứng với phương thức sáng tạo "tự sự kết hợp trữ tình".

Cội nguồn văn hóa của thơ du tiên đời Đường gồm những yếu tố nào?

Luận án chứng minh thơ du tiên đời Đường bắt nguồn từ bốn yếu tố văn hóa Trung Hoa:

  1. Tín ngưỡng dân gian về sự trường sinh bất tử của thân xác và hoàn cảnh lịch sử - xã hội đầy biến động thời Tiên Tần, Tần Hán.
  2. Triết học Đạo gia của Lão Tử (vô vi bảo toàn sinh lực) và Trang Tử (hình tượng thần nhân núi Cô Dịch, tinh thần tiêu dao tự do tuyệt đối).
  3. Đạo giáo với hệ thống tu luyện nội đan, ngoại đan và quan niệm danh sơn là 36 động thiên, 72 phúc địa.
  4. Hệ thống thần thoại và tiên thoại ghi chép trong Sơn Hải Kinh cùng quá trình tiên thoại hóa các câu chuyện truyền thuyết.

Xu hướng thế tục hóa trong thơ du tiên đời Đường biểu hiện cụ thể ra sao?

Thế tục hóa diễn ra mạnh mẽ vào thời Trung - Vãn Đường với ba biểu hiện:

  1. Tục hóa tiên cảnh: miêu tả cảnh tiên gần gũi với cuộc sống phàm trần, thậm chí mang tính chất xấu, ác để khúc xạ hiện thực xã hội.
  2. Phàm hóa tiên nhân: miêu tả tiên nhân cũng chịu cảnh sinh tử, ly hợp, già yếu, lo âu và mang đầy đủ tình cảm trần tục.
  3. Phê phán người học đạo cầu tiên: châm biếm việc vua chúa, quan lại ham mê luyện đan, tìm thuốc trường sinh hão huyền, xa rời thực tế nhân dân.

Âm hưởng của thơ du tiên đời Đường được tác giả khảo sát qua những nhà thơ Việt Nam nào trong giai đoạn 1900-1945?

Luận án khảo sát âm hưởng du tiên qua sáng tác của các tác gia tiêu biểu trong phong tràu Thơ mới và giai đoạn giao thời: Tản Đà, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Bích Khê và Vũ Hoàng Chương. Các tác giả này tiếp nhận ý thức thân phận "trích tiên", sử dụng hệ thống thi liệu, điển cố Đường thi và cấu tứ nghệ thuật để thể hiện khát vọng tự do và nỗi niềm thế sự của cái tôi cá nhân.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Thơ du tiên đời Đường của tác giả Nguyễn Thị Tuyết là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và quy mô về mảng thơ du tiên đời Đường dưới góc nhìn văn hóa học, thi pháp học và văn học so sánh. Bằng việc phân tích 223 thi phẩm trong Toàn Đường thi, luận án đã làm sáng tỏ cội nguồn văn hóa, xác lập ba đặc trưng thẩm mĩ cùng ba phương thức sáng tạo đặc thù của dòng thơ này. Đồng thời, công trình chỉ ra diện mạo tiếp nhận và âm hưởng của thơ du tiên đời Đường trong thơ Việt Nam giai đoạn 1900-1945, khẳng định giá trị nghệ thuật của thể tài và đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học Trung Quốc tại Việt Nam.