ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là quốc gia đa thành phần dân tộc, với 54 dân tộc anh em, trong đó vùng dân tộc thiểu số và miền núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên. Khu vực vùng núi là địa bàn cư trú chủ yếu của 53 dân tộc thiểu số với gần 13,386 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước [109]. Các dân tộc sống đoàn kết, thân ái, tương trợ với nhau, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết và bản sắc đa dạng và phong phú về văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [5]. Tuy nhiên, trong bối cảnh quá trình xung đột sử dụng đất ngày càng diễn ra gay gắt, nhu cầu sử dụng đất ngày càng cao phục vụ việc mở rộng canh tác, sản xuất, đảm bảo nguồn lương thực thì người dân tộc thiểu số là đối tượng dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội.
Hơn nữa, sự phát triển nhanh của nền kinh tế Việt Nam phần nhiều không đem lại lợi ích cho các cộng đồng dân tộc thiểu số bởi họ sống ở vùng cao và phụ thuộc vào rừng, hơn 60% các hộ gia đình dân tộc thiểu số vẫn sống dưới mức nghèo. Đến nay, các cải cách trong lâm nghiệp vẫn chưa đóng góp được như kỳ vọng vào công tác giảm nghèo, đặc biệt tại các khu vực nông thôn [105]. Ở Việt Nam, vấn đề chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhà nước, bởi vai trò của người dân tộc thiểu số có ý nghĩa rất quan trọng, quan điểm của Đảng đã nêu rõ: “Các dân tộc thiểu số nước ta cư trú xen kẽ trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái” [1]. Với đặc thù văn hoá và sinh kế truyền thống vô cùng đa dạng của các dân tộc thiểu số vốn cư trú, sinh sống trên những địa bàn khác nhau và có đặc trưng văn hoá rất khác nhau, thực tế đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để đảm bảo đưa ra được những chính sách khả thi và tổ chức thực hiện có hiệu quả [45].
Cho đến nay, các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số khá đầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực và từng địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Tuy nhiên, ở nhiều nơi kết quả đạt được từ các chính sách vẫn còn hạn chế, người DTTS vẫn rất cần nhiều hơn nữa sự hỗ trợ của Nhà nước. Vì vậy, để phát triển sản xuất nâng cao đời sống, người DTTS đã chuyển dần từ phương thức canh tác dựa trên nương rẫy quy mô nhỏ, lẻ sang hình thức trồng rừng sản xuất, thu lợi trên quy mô lớn. Do đó, đất đai và tài nguyên rừng ngày càng trở thành yếu tố quan 2 trọng, ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến điều kiện sống của người DTTS ở Việt Nam.
Quảng Bình là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, với diện tích 641 132 ha, chiếm 80,0% diện tích tự nhiên của tỉnh và được đánh giá là mô ̣t trong những tin̉ h có tiềm năng về lâm nghiệp và đa dạng sinh học trong cả nước, có độ che phủ rừng đứng thứ hai trong toàn quố c 67,4% [60]. Đất lâm nghiệp được phân bố chủ yếu tại các xã miền núi, nơi có nhiều DTTS sinh sống, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn. Người dân ở đây vẫn còn tình trạng thiếu đất sản xuất, diện tích đất chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất do đó tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp khá phổ biến với người DTTS, nguồn thu nhập chủ yếu vẫn còn phụ thuộc vào việc khai thác lâm sản tự nhiên. Năm 2004, hộ đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất là 2 568 hộ, đến năm 2014 toàn tỉnh vẫn còn 1 009 hộ đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất [4].
Thiếu đất sản xuất cũng đã làm nảy sinh các vấn đề phức tạp trong xã hội, dẫn đến tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai và mâu thuẫn giữa các đối tượng sử dụng đất. Trên địa bàn các huyện Lệ Thuỷ và huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình có người DTTS sinh sống chủ yếu là người Bru - Vân Kiều [3], phân bố tập trung ở khu vực phía Tây, đây là cộng đồng DTTS định cư khá lâu, chịu khó lao động và có ý thức cao trong việc nhận đất, nhận rừng để mở rộng sản xuất, nâng cao đời sống. Vì vậy, thời gian qua công tác giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn luôn được quan tâm và chú trọng thực hiện. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách cho người DTTS vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS được thực hiện với tỷ lệ hoàn thành còn hạn chế, hộ người DTTS thiếu đất rừng sản xuất vẫn còn cao.
Nguyên nhân chủ yếu do phương pháp thực hiện chưa hiệu quả, lúng túng trong giải quyết, chưa tiến hành nghiên cứu một cách đồng bộ từ lý luận đến thực tiễn để đánh giá tổng thể chính sách giao đất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS vào nội dung thực hiện. Với đặc thù của cộng đồng người DTTS trên địa bàn nghiên cứu là sinh sống dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ, nơi có vị trí chiến lược về an ninh - quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái, rừng đầu nguồn, nơi có hệ sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, công tác giao đất sản xuất lâm nghiệp cho người DTTS nơi đây để ổn định đời sống là nhiệm vụ quan trọng mang tính chiến lược, bền vững cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng của địa phương và khu vực. Xuất phát từ vấn đề trên cho thấy sự cần thiết phải có nghiên cứu về việc đánh 3 giá hiện trạng và nhu cầu sử dụng đất của người DTTS, trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp hợp lý để thực hiện công tác giao đất sản xuất lâm nghiệp phục vụ cho quá trình sản xuất, cân bằng sinh thái và nâng cao đời sống của người DTTS nơi đây.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU a. Mục tiêu chung Đánh giá được thực trạng về nhu cầu sử dụng đất cùng với những vấn đề bất cập trong công tác giao đất lâm nghiệp nhằm đề xuất các giải pháp hợp lý và hiệu quả đối với công tác giao đất sản xuất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ và huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Mục tiêu cụ thể - Phân tích làm rõ được những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến công tác giao đất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS tại khu vực phía Tây các huyện Lệ Thủy và huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua. - Nghiên cứu được thực trạng và biến động về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá được nhu cầu và tầm quan trọng của công tác giao đất sản xuất lâm nghiệp cho người DTTS trong đời sống kinh tế - xã hội. - Phát hiện và làm rõ được những khó khăn, bất cập trong công tác quản lý Nhà nước về giao đất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS. - Đưa ra được các giải pháp hợp lý và hiệu quả đối với công tác giao đất sản xuất lâm nghiệp cho người DTTS tại khu vực nghiên cứu và các vùng có đặc thù tương ứng. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN a.Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung, đất lâm nghiệp nói riêng và những định hướng trong giải pháp ổn định, phát triển đời sống người DTTS một cách khoa học, trên cơ sở sử dụng đất lâm nghiệp hợp lý và bền vững.
Bên cạnh đó, những kết quả đề tài sẽ góp phần vào nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý hoạch định chính sách về đất đai và phát triển kinh tế - xã hội, các nhà nghiên cứu về phát triển kinh tế nông thôn vùng núi.Ý nghĩa thực tiễn Quá trình nghiên cứu diễn ra trong bối cảnh tỉnh Quảng Bình đang đẩy mạnh công tác thực hiện giao đất lâm nghiệp cho người dân sản xuất, đặc biệt là người DTTS, đồng thời thực hiện quá trình rà soát, sắp xếp đổi mới hoạt động các công ty nông, lâm nghiệp để tiến hành thu hồi đất lâm nghiệp, hướng đến giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng hiệu quả. Vì vậy, việc đi vào nghiên cứu nội dung này sẽ góp phần giải quyết vấn đề đang được quan tâm tại địa bàn nghiên cứu, đảm bảo cho lợi ích của người sử dụng đất nói chung và người DTTS nói riêng. Bên cạnh đó, ứng dụng nghiên cứu vào thực tiễn góp phần đẩy mạnh việc thực hiện hiệu quả của các chính sách của Nhà nước đối với người DTTS. Đồng thời trợ giúp cho chính quyền các cấp trong vấn đề quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp đi vào ổn định trong giai đoạn hiện nay và mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo cho các địa phương khác có điều kiện tương tự.
ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN - Đề tài luận án Tiến sĩ là công trình khoa học được nghiên cứu theo định hướng chính sách mới của Luật đất đai 2013, quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số với quan điểm: “Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp'' [43]. - Các nguồn số liệu về quản lý sử dụng đất của cơ quan nhà nước thường được xác định bằng các phương pháp đo đạc truyền thống, đề tài đã áp dụng công nghệ GIS và Viễn thám để phân tích được sự biến động đất lâm nghiệp trong giai đoạn năm 2005 - 2015 trên khu vực phía Tây các huyện Lệ Thủy và huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, qua đó nhằm đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp cũng như quá trình chuyển đổi sử dụng đất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn. - Luận án đã làm rõ được thực trạng nhu cầu cấp thiết của người DTTS về đất sản xuất lâm nghiệp trong đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn phía Tây các huyện Lệ Thủy và huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.