PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Việt Nam được đánh giá là quốc gia có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi để phát triển ngành logistics với trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 44 cảng biển với 219 bến cảng, 20 sân bay và hàng trăm cửa khẩu quốc tế, quốc gia lớn nhỏ nằm dọc theo chiều dài đất nước. Với quy mô 20- 22 tỷ USD/năm, chiếm khoảng 20,9% GDP của cả nước, tốc độ tăng trưởng của ngành hàng năm đạt trung bình 20-25%. Những năm gần đây, ngành logistics được đánh gia là xương sống của nền kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Là một trong bốn vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, vùng KTTĐBB bao gồm 7 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Dương. Vùng có vị trí đặc biệt trong phát triển kinh tế, cửa ngõ “vào - ra” của các tỉnh phía Bắc của Việt Nam và cửa ngõ mở ra biển Đông, kết nối các thị trường rộng lớn với nhau như Đông Bắc Á với khu vực ASEAN và ngược lại. Bên cạnh đó, vùng KTTĐBB bao chứa vùng Thủ đô Hà Nội, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ của cả nước; có hai hành lang và một vành đai kinh tế trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Với vị trí địa lý đặc biệt như vậy, vùng có điều kiện thuận lợi riêng có trong phát triển kinh tế, thương mại so với các vùng khác của đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực logistics.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch & đầu tư, tại vùng KTTĐBB hiện có khoảng 10.878 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics, chiếm 29,2% số lượng doanh nghiệp logistics của cả nước và đứng thứ hai sau vùng KTTĐNB. Các doanh nghiệp logistics tại đây chủ yếu cung ứng dịch vụ vận tải, kho bãi, bốc dỡ…tập trung phần lớn tại Hà Nội và Hải Phòng. Địa bàn hoạt động vẫn còn bó hẹp tại thị trường nội địa, Trung Quốc và một số vùng lân cận, không nhiều các doanh nghiệp hoạt động ở phạm vi quốc tế. Ngoại trừ các doanh nghiệp Nhà nước đang được cổ phần hóa, hầu hết các doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB có quy mô vừa và nhỏ, vốn điều lệ bình quân khoảng 20 tỷ đồng, tỷ lệ nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về logistics còn chiếm ở mức thấp, chỉ từ 5-7%.
Họ phần lớn là các doanh nghiệp trẻ và năng động, hầu hết bước ra từ những doanh nghiệp Nhà nước hoặc các liên doanh, vốn nước ngoài. Các doanh nghiệp logistics nội địa với số lượng đông đảo chiếm 98% tổng số doanh nghiệp logistics ở Việt Nam nhưng chỉ chiếm gần 25% thị phần (Nguyễn Xuân Minh và cs, 2015), với các công việc chủ yếu là làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn cho các doanh nghiệp logistics quốc tế. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như APL, NYK, Linfox, Maersk, K&N, Schenker.hiện đang hoạt động tích cực trong lĩnh vực logistics ở Việt Nam. luan an 2 Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cũng như các doanh nghiệp logistics trong cả nước, doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB đã có bước trưởng thành đáng kể về số lượng các doanh nghiệp tham gia cũng như tính chuyên nghiệp trong hoạt động cung cấp dịch vụ.
Nhưng sự bứt phá này vẫn chưa bền vững, còn thiếu quy trình và kỹ năng cung ứng dịch vụ trọn gói, mạng lưới dịch vụ thiếu kết nối và chưa bao phủ rộng, công nghệ kỹ thuật còn yếu kém, chính sách dịch vụ khách hàng nhìn chung thiếu tính hấp dẫn. Trong khi đó, các doanh nghiệp logistics trong nước hiện đang phải đối mặt với một thách thức không nhỏ là theo cam kết của các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vừa được ký kết, điển hình là EVFTA, ngành logistics Việt Nam phải mở rộng đáng kể hơn so với mức độ mở rộng trong WTO. Điều này đồng nghĩa với việc các đối thủ đến từ nước ngoài, đặc biệt là EU sẽ trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ tại Việt Nam, vai trò trung gian của các doanh nghiệp logistics nội địa sẽ không còn, thị phần tiếp tục giảm sút, áp lực cạnh tranh ngày càng lớn. Nếu không kịp thời thay đổi, càng hội nhập thì các doanh nghiệp logistics trong nước càng tụt hậu và khoảng cách với các doanh nghiệp logistics quốc tế sẽ ngày càng xa.
Đây vừa là thách thức nhưng cũng là động lực để các doanh nghiệp logistics trong nước buộc phải thay đổi tư duy và chuyển mình mạnh mẽ. Để có thể tồn tại và phát triển bền vững thì doanh nghiệp logistics Việt Nam cần phải thay đổi theo hướng hiện đại, mở rộng phạm vi tiếp cận đối với hoạt động logistics, tăng cường khả năng liên kết theo chuỗi giữa các doanh nghiệp logistics với mục tiêu đáp ứng tốt hơn yêu cầu từ phía khách hàng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics là một yêu cầu mang tính cấp thiết. Xuất phát từ các phân tích trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn nội dung đề tài nghiên cứu là:“Nghiên cứu năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Mục tiêu nghiên cứu: Luận án làm rõ cơ sở khoa học về cả khía cạnh lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất những giải pháp nâng cao NLCUDV, góp phần giúp các doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB tồn tại và phát triển trong bối cảnh hiện nay. - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển một số vấn đề lý luận về NLCUDV của doanh nghiệp logistics; + Phân tích, đánh giá thực trạng NLCUDV của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB. Trong đó, luận án thực hiện 2 khảo sát dành cho doanh nghiệp logistics và khách hàng sử dụng dịch vụ logistics tại vùng KTTĐBB. Bên luan an 3 cạnh đó, luận án cũng phân tích thực trạng NLCUDV tại 2 doanh nghiệp thông qua phương pháp phân tích tình huống; + Đề xuất những giải pháp có cơ sở khoa học nhằm nâng cao NLCUDV của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề về lý luận, thực tiễn về NLCUDV của doanh nghiệp logistics và thực trạng NLCUDV của doanh nghiệp Việt Nam tại vùng KTTĐBB, tiếp cận theo quan điểm quản trị dựa trên năng lực. - Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: nghiên cứu các doanh nghiệp logistics Việt Nam có trụ sở chính tại vùng KTTĐBB. Trong nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp logistics thuần túy chuyên cung ứng dịch vụ cho các doanh nghiệp khác mà không thực hiện chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa. + Về thời gian: các nghiên cứu thực tế giới hạn chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 2010 - 2019 với dữ liệu thứ cấp; dữ liệu sơ cấp được điều tra trong khoảng thời gian từ 10/2018 đến 5/2019; đề xuất giải pháp đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
+ Về nội dung: luận án tập trung phân tích NLCUDV của doanh nghiệp logistics dựa trên các yếu tố cấu thành NLCUDV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4. Quy trình nghiên cứu Quy trình nghiên cứu của luận án được được minh họa tại hình 0. Quy trình này được thực hiện thông qua tổng quan sơ bộ về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án nhằm phát phát hiện khoảng trống nghiên cứu.
Từ đó, nghiên cứu sinh xác định vấn đề nghiên cứu của luận án là “năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics”. Để giải quyết vấn đề đặt ra, nghiên cứu sinh đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Nhiệm vụ sau khi xác định vấn đề nghiên cứu, là tổng quan chi tiết về tình hình nghiên cứu, khẳng định lại khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu, xác định các yếu tố cấu thành NLCUDV của doanh nghiệp logistics. Tiếp theo, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về NLCUDV đã được thực hiện ở các công trình nghiên cứu trước đây, từ đó hình thành mô hình khung nghiên cứu và xây dựng đề cương nghiên cứu của đề tài.
Cuối cùng, trên cơ sở tổng hợp dữ liệu thu thập được; nghiên cứu sinh tiến hành phân tích, xử lý dữ liệu và đưa ra các kết luận, đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao NLCUDV của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB. luan an 4 Hình 0.1: Quy trình nghiên cứu (Nguồn: Minh họa của NCS) Quy trình này được thực hiện thông qua tổng quan sơ bộ về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án nhằm phát phát hiện khoảng trống nghiên cứu. Từ đó, nghiên cứu sinh xác định vấn đề nghiên cứu của luận án là “năng lực cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp logistics”. Để giải quyết vấn đề đặt ra, nghiên cứu sinh đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Nhiệm vụ sau khi xác định vấn đề nghiên cứu, là tổng quan chi tiết về tình hình nghiên cứu, khẳng định lại khoảng trống nghiên cứu và định hướng nghiên cứu, xác định các yếu tố cấu thành NLCUDV của doanh nghiệp logistics. Tiếp theo, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về NLCUDV đã được thực hiện ở các công trình nghiên cứu trước đây, từ đó hình thành mô hình khung nghiên cứu và xây dựng đề cương nghiên cứu của đề tài. Cuối cùng, trên cơ sở tổng hợp dữ liệu thu thập được; nghiên cứu sinh tiến hành phân tích, xử lý dữ liệu và đưa ra các kết luận, đề xuất các giải pháp và khuyến luan an 5 nghị nhằm nâng cao NLCUDV của doanh nghiệp logistics Việt Nam tại vùng KTTĐBB. Mô hình nghiên cứu Từ các lý thuyết về nguồn lực, năng lực về dịch vụ logistics và các doanh nghiệp logistics cũng như các tài liệu về NLCUDV nói chung và dịch vụ logistics nói riêng.
Trong nghiên cứu, này nghiên cứu sinh đề xuất mô hình nghiên cứu của luận án thể hiện ở hình 0.