mở đầu của mục “Collective Identity” (Căn tính cộng đồng) trích từ International Encyclopedia of the Social & Behavioral Sciences (Bách khoa toàn thư quốc tế về Khoa học xã hội và hành vi). Dấu mốc 40-50 năm mà nhận định của Snow và Corrigall-Brown nói đến ở trên muốn đề cập tới thời kỳ nở rộ của các phong trào xã hội trên khắp thế giới, vào thập niên 1960-1970 tại Mỹ và châu Âu: phong trào nữ quyền, cuộc cách mạng tình dục, cách mạng sinh thái, phong trào phản 10 “If key concepts or expressions can be identified that function to capture the animating spirit of different epochs, then certainly one candidate concept for the last 40–50 years is the concept of collective identity.” 15 chiến, phong trào đấu tranh đòi quyền lợi cho người nhập cư. Thành viên của các cộng đồng này tự nhận thức mình thuộc về một cộng đồng thiểu số, trong sự va chạm lợi ích với cộng đồng đa số (tức cộng đồng chiếm ưu thế hơn); và sự tự nhận thức đó được gọi tên là quá trình ý thức về căn tính nhóm. Là quá trình, bởi vì nó được hình thành qua sự tương tác giữa các nhóm khác nhau.
Hầu hết các nghiên cứu hiện đại (như Cuche, 2020, tr.240-24 và Fukuyama, 2020, tr.132-136) đều ghi nhận: căn tính cộng đồng chỉ xuất hiện khi có sự tiếp xúc, va chạm với cái khác nó. Ví dụ: Phong trào nữ quyền ở Mỹ được khơi gợi từ tư tưởng của Simone de Beauvoir trong cuốn Le Deuxième Sexe (Giới tính thứ hai), qua đó phụ nữ so sánh mình với đàn ông trong trách nhiệm gia đình và địa vị xã hội, họ nhận thấy mình nên có nhiều quyền lựa chọn hơn; từ đó quyền bình đẳng trong giáo dục, bầu cử, quyền quyết định phá thai trở thành mục tiêu đấu tranh để khẳng định căn tính nữ giới của phong trào. Thế nên, “căn tính luôn luôn là một mối quan hệ với cái khác” (Cuche, 2020, tr. Thêm vào đó, thế kỷ 20 cũng nổi lên chủ nghĩa dân tộc (cực đoan) và các cuộc chiến tranh.
Dưới cái nhìn của Amartya Sen, trong cuốn Căn tính và bạo lực: Huyễn tưởng về số mệnh, nguyên nhân sâu xa là “sự ngộ nhận về một căn tính độc nhất” (Sen, 2013, tr.19): khi một quốc gia định nghĩa mình với một kiểu căn tính duy nhất, nó sẽ loại trừ những căn tính khác không cùng loại, đó là trường hợp của phát xít Đức với chủ nghĩa dân tộc thuần chủng Aryan, cũng là trường hợp của tổ chức Ku Klux Klan với chủ nghĩa da trắng thượng đẳng Hoa Kỳ. Việc nhìn nhận lại vấn đề căn tính ở cấp độ quốc gia/ dân tộc, vì thế đặc biệt cần thiết trong mọi lĩnh vực, để giải đáp và giải quyết những bi kịch thời đại như trên. Bên cạnh đó, sự chú ý không chỉ hướng đến những cộng đồng ưu thế, mà vai trò của các cộng đồng thiểu số cũng được lưu tâm nhiều hơn trong bối cảnh toàn cầu. Họ không chỉ thụ động chấp nhận hoàn cảnh mà liên tục di động để bảo vệ căn tính cộng đồng mình, dẫn đến các cuộc di cư từ lục địa này sang lục địa khác, tạo thành tính xuyên văn hoá trên khắp thế giới.
Các cộng đồng di cư, do đó, là một gương mặt của thế giới hiện đại và toàn cầu hoá. Vì những lí do đó, luận án đặc biệt chú trọng đến hai kiểu cộng đồng dân tộc và cộng đồng di dân. Về phân loại, đây không phải hai loại cộng đồng đồng cấp: Vì 16 phụ thuộc vào lịch sử (do chiến tranh, chính trị), cộng đồng di dân có thể là một cộng đồng dân tộc, mang đầy đủ thuộc tính của một dân tộc (về truyền thống, văn hoá, v.), chỉ thêm tính chất chuyển dời về địa lý (rời xa quê hương). Nhưng cũng có trường hợp trải qua thời gian dài, tính dân tộc của di dân mờ nhạt dần, nên cộng đồng di dân không còn đồng nhất với cộng đồng dân tộc.
Thế nên, tùy vào nội dung phân tích mà chúng tôi xem xét như hai loại cộng đồng khác nhau hay trùng nhau. Trong các nghiên cứu nói về sự hình thành căn tính cộng đồng dân tộc và di dân, chúng tôi chú ý đến những nghiên cứu về ba thuộc tính điển mẫu: ký ức, ngôn ngữ và không gian lãnh thổ11. (a) Căn tính cộng đồng và ký ức Cũng giống như căn tính cá nhân, ký ức là tiêu chí quan trọng làm nên căn tính cộng đồng. Xét về mặt thuật ngữ, nhà triết học - xã hội học người Pháp Maurice Halbwachs (1877-1945) là người đầu tiên đặt ra thuật ngữ “ký ức cộng đồng” (mémoire collective) trong cuốn Les Cadres sociaux de la memoire (Khung xã hội của ký ức) (1925).
Cộng đồng là nơi lưu giữ ký ức ở cấp độ tập thể lẫn cá nhân. Chính xác hơn, ký ức luôn neo đậu vào trong tập thể, vì cá nhân luôn hình thành ký ức trong sự tương tác mang tính tập thể, nếu cá nhân cho rằng mình sở hữu ký ức như của riêng thì đó chẳng qua là một ảo tưởng (Halbwachs, 1980, tr. Chúng ta, với tư cách là thành viên của một (hay nhiều) nhóm, cùng có những trải nghiệm chung, nghĩa là cùng chia sẻ những ký ức chung. Có thể trải nghiệm của mỗi người không giống nhau – cùng một sự kiện nhưng có người vui có người lại buồn chẳng hạn – hoặc độ bền bỉ/ lãng quên nơi trí nhớ của mỗi người là khác nhau, dẫn đến việc ký ức có độ sai lệch nơi mỗi người, không có ký ức nào thực sự chính xác hay trùng khớp 11 Gọi là điển mẫu vì những thuộc tính này có thể áp dụng chung cho hầu hết các cộng đồng dân tộc và di dân.
Còn những thuộc tính khác, như tôn giáo, sắc tộc, chúng tôi không đề cập đến, do sự phức tạp giữa các nhóm tôn giáo và sắc tộc trong cùng một cộng đồng, dẫn đến việc xem xét căn tính cho cộng đồng này được nhưng không thể áp dụng cho cộng đồng kia. Ví dụ: Tôn giáo có thể là thuộc tính của căn tính nhiều dân tộc châu Âu (Kitô giáo) hoặc Ả Rập (Hồi giáo), nhưng lại không thể xét như một thuộc tính nhận diện căn tính dân tộc Việt Nam (vốn đa dạng tín ngưỡng và không có sự ưu trội hẳn (để trở thành căn tính) dành cho một tôn giáo nào). Tương tự, chủng tộc da trắng chiếm đa số trong cộng đồng Mỹ, nhưng không thể lấy đó làm căn tính dân tộc của nước Mỹ đa bản sắc. 17 với ký ức nào; cũng có nghĩa là, mỗi người luôn nhận được sự hỗ trợ, bổ sung nơi người khác về những điều mình đã lãng quên hay nhớ nhầm.
Cứ thế, hình thành một quá khứ, lịch sử chung, được bảo tồn trong nhóm và nhắc nhớ từ thế hệ này qua thế hệ khác (Halbwachs, 1980, tr. Ví dụ, ký ức về chiến tranh làm thành căn tính của dân tộc Việt Nam, nhưng ở mỗi người, hình hài chiến tranh đều khác nhau và tác động đến sự phát triển nhân cách cũng khác nhau. Ký ức cộng đồng gắn liền với căn tính dân tộc vì dân tộc luôn được bảo tồn bằng ký ức. Một cộng đồng lớn (như quốc gia) có thể tan rã, thành những cộng đồng nhỏ (như cộng đồng di dân), nhưng tính dân tộc vẫn tồn tại nơi những truyện kể lịch sử, món ăn truyền thống, tượng đài, bảo tàng, tranh ảnh, v.
Đó là những vật biểu tượng lưu giữ ký ức cộng đồng, khiến cho hiện tại - tương lai cùng kết nối với quá khứ. Nói chung, ký ức là một cái kho, mà người ta có thể bỏ vào tất cả các phạm trù văn hoá, lịch sử, tôn giáo, để khi cần viện dẫn hay minh hoạ hay gợi nhắc căn tính dân tộc, họ gán các phạm trù này vào các vật thể mang tính biểu tượng. Riêng với cộng đồng di dân do hoàn cảnh ngặt nghèo mà phải lìa xa quê hương, ký ức trở thành “hoài niệm” (nostalgia). Svetlana Boym (1959-2015), tác giả cuốn The Future of Nostalgia (Tương lai của hoài niệm) (2001), lí giải: “Nostalgia (nostos nghĩa là trở về nhà và algia nghĩa là khao khát) là nỗi khao khát về một ngôi nhà không còn tồn tại hoặc chưa bao giờ tồn tại”12 (Boym, 2001, tr.
“Nhà” gắn với ký ức di dân, và quan niệm lẫn thái độ đối với hoài niệm về “nhà” làm nên căn tính của cộng đồng này. Chẳng hạn, theo Boym, một mặt, “nhà” thuộc về ký ức cộng đồng nên hoài niệm “nhà” khiến ta thuộc về cộng đồng đó; nhưng mặt khác: “vào thời điểm chúng ta cố gắng […] thuộc về, nỗi lo sợ về sự mất mát khi khám phá lại căn tính, chúng ta thường chia rẽ và chấm dứt sự hiểu biết lẫn nhau. Algia – khao khát – là những gì chúng ta chia sẻ cùng nhau, nhưng nostos – trở về nhà – là điều chia rẽ 12 “Nostalgia (from nostos – return home, and algia – longing) is a longing for a home that no longer exists or has never existed.” 18 chúng ta”13 (tr. Nghĩa là trong ký ức chung đó, cá nhân tái khám phá căn tính của mình dựa trên những ký ức riêng, dẫn đến việc hoà nhập trở thành chia rẽ, vì có thể với người này “nhà” là nơi để trở về, nhưng với người khác, “nhà” là nỗi nhớ nhưng không thể/ không muốn trở về.
Ngoài ra, Boym cũng cho biết, hoài niệm còn tác động đến sự hình thành căn tính ở tương lai, vì nhớ về quá khứ không chỉ là nhớ về những gì đã xảy ra, mà còn là nhớ về những giấc mơ chưa thực hiện được, từ đó ta đem những khả năng chưa được thực thi đó vào tương lai (tr. Những giấc mơ đó là “ngôi nhà chưa bao giờ tồn tại”, hay diễn đạt cách khác là tồn tại bằng trí tưởng tượng. Cũng nghiên cứu về ký ức của di dân, Marianne Hirsch (1949- ) trong công trình “Past Lives: Postmemories in Exile” (Những mảnh đời quá khứ: Hậu ký ức lưu vong) (1996) đã gọi “ký ức” chiến tranh của thế hệ 2 là “hậu ký ức” (postmemory) – tức ký ức tách rời khỏi không gian và thời gian của cuộc chiến (vốn in đậm sâu nơi thế hệ 1 – những người trực tiếp trải nghiệm) nhưng ký ức về thời kỳ đau thương, mất mát đó vẫn sống động nơi thế hệ 2, hầu hết bằng tưởng tượng. Hirsch định nghĩa: Hậu ký ức chính xác là một dạng ký ức mạnh mẽ vì kết nối của nó với đối tượng hoặc nguồn trung gian không phải qua hồi tưởng mà qua một sự đầu tư và sáng tạo giàu tưởng tượng.
Điều đó không có nghĩa là bản thân ký ức là không có trung gian, mà nó được kết nối trực tiếp hơn với quá khứ.