Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật (mã số: 9210101) của nghiên cứu sinh Nguyễn Sinh Phúc, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Văn Doanh tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (năm 2022), tập trung nghiên cứu toàn diện và hệ thống về đề tài Nghệ thuật tranh thờ của người Dao ở tỉnh Yên Bái.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tranh thờ là một thành tố nghệ thuật gắn liền với đời sống tâm linh, các nghi lễ vòng đời và hệ thống thực hành tín ngưỡng Đạo giáo của đồng bào dân tộc Dao. Mặc dù đã có nhiều công trình thuộc lĩnh vực dân tộc học, văn hóa học và lịch sử đề cập đến người Dao cũng như nghi lễ tôn giáo của tộc người này, song khía cạnh nghệ thuật tạo hình trong tranh thờ vẫn chưa được khảo sát chuyên sâu và mang tính hệ thống dưới góc độ mỹ thuật học. Bên cạnh đó, các bộ tranh thờ cổ truyền thống tại địa phương đang đứng trước nguy cơ mai một hoặc biến dạng do thời gian và sự thay đổi trong kỹ thuật vẽ mới của các thầy cúng đương đại. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này, góp phần nhận diện và bảo tồn giá trị di sản mỹ thuật dân gian của người Dao tại Yên Bái theo định hướng bảo tồn văn hóa truyền thống.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Khảo sát, phác dựng có hệ thống diện mạo, tiến trình lưu truyền và thực trạng sử dụng các bộ tranh thờ cổ cùng các bộ tranh thờ vẽ mới tại tỉnh Yên Bái.
  • Nhận diện và phân tích ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình (bố cục, đường nét, màu sắc, không gian, biểu tượng nghệ thuật) trên từng bức tranh thờ.
  • Xác định đặc trưng nghệ thuật, chỉ ra các giá trị văn hóa - lịch sử - tôn giáo ẩn chứa sau hệ thống hình tượng thần linh; phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa tranh thờ người Dao ở Yên Bái với tranh thờ của các dân tộc thiểu số khác ở miền núi phía Bắc và các dòng tranh dân gian truyền thống của người Việt ở miền xuôi.
  • Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di sản tranh thờ người Dao.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Nghệ thuật tranh thờ của người Dao ở Yên Bái được phác dựng một cách hệ thống như thế nào; tranh thờ được tiếp nối trao truyền và quy trình vẽ tranh thờ mới hiện nay diễn ra ra sao?
  2. Nghệ thuật tranh thờ của người Dao được biểu hiện bằng những ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình cụ thể nào trên từng bức tranh?
  3. Những giá trị và đặc trưng nghệ thuật tạo hình nào được rút ra từ tranh thờ của người Dao ở Yên Bái; tranh thờ hiện nay có những biến đổi gì so với tranh cổ truyền thống; sự tương đồng và khác biệt của dòng tranh này đối với các dòng tranh dân gian miền xuôi và tranh thờ của người Dao ở các địa phương khác là gì?

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết 1: Việc xác lập có hệ thống về thực tế lưu truyền, cấu trúc bộ tranh, quy tắc sắp đặt trưng bày, danh tính và chức năng của các vị thần cùng quy trình vẽ tranh mới sẽ cho phép phác dựng bức tranh tổng thể về nghệ thuật tranh thờ của người Dao tại Yên Bái.
  • Giả thuyết 2: Các nghệ nhân, thầy cúng dân gian đã thiết lập hình tượng nhân vật thần linh Đạo giáo theo những quy chuẩn, quy tắc tạo hình và mô típ trang trí chặt chẽ, tạo nên đặc trưng riêng biệt trong việc tổ chức không gian, bố cục, đường nét và màu sắc.
  • Giả thuyết 3: Nghệ thuật tranh thờ của người Dao là sự kết hợp giữa kỹ thuật hội họa cổ truyền, quan niệm thần tiên Đạo giáo, thần thoại tộc người và tín ngưỡng bản địa; sự biến đổi về hình thức, màu sắc, chi tiết trang trí qua các thời kỳ phản ánh sự chuyển biến trong đời sống văn hóa xã hội và tay nghề tạo tác tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Đặc trưng nghệ thuật tạo hình trong tranh thờ của người Dao ở tỉnh Yên Bái, đặt trong mối tương quan so sánh với tranh thờ ở một số dòng tranh dân gian tiêu biểu của người Việt và các tộc người lân cận.
  • Phạm vi không gian: Các địa bàn cư trú tập trung của đồng bào Dao tại tỉnh Yên Bái, bao gồm các huyện Văn Chấn, Lục Yên, Yên Bình, Văn Yên và Trấn Yên; có mở rộng đối sánh với các bộ tranh tại tỉnh Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang và hiện vật lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các bộ tranh thờ cổ có niên đại từ đầu thế kỷ XX hiện còn lưu giữ và các bộ tranh thờ vẽ mới từ năm 1995 đến nay (tập trung khảo sát bộ tranh tiêu biểu vẽ năm 2014).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các nghiên cứu quốc tế

Nghiên cứu về tranh thờ và văn hóa người Dao đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả quốc tế từ thế kỷ XX:

  • Các công trình phương Tây: Tập sách Nhìn lại một thế kỷ nghiên cứu khoa học (2000) của Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) giới thiệu công trình Tranh dân gian của người Việt Nam của Maurice Durand; Jacques Lemoine với tác phẩm Tranh nghi lễ dân tộc Dao (1981) mô tả hệ thống thần điện trong tranh thờ thu thập tại Thái Lan, Lào và miền Bắc Việt Nam; Jess G. Pourret (1993, 2002) khảo cứu về nhóm Dao Miễn, Dao Mùn và mặt nạ tôn giáo Dao Làn Tẻn; Paul và Elaine Lewis (1998) nghiên cứu tranh thờ tại khu vực Tam giác Vàng; Trian Nguyen (Nguyễn Tri Ân, 2015) với công trình How to make the universe right. Art of Shaman from Vietnam and Southern China và các bài viết trên tạp chí Xưa và Nay (2017, 2018) phân tích hệ thống tranh Shaman giáo, cấu trúc bộ Tiểu Đường, Đại Đường và tranh bổ túc của bộ tranh niên đại 1819.
  • Các công trình của học giả Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan: Phụng Hằng Cao (chủ biên, 2015) trong cuốn Nghiên cứu hội họa tranh thờ dân gian dân tộc Dao tổng hợp các nghiên cứu từ thập niên 1930 đến đầu thế kỷ XXI (Bàng Tân Dân 1935, Phí Hiếu Thông và Vương Đồng Huệ 1937, Giang Ứng Lương 1939, Trương Hữu Tuyển thập niên 1980-1990, Từ Tổ Tường, Lưu Nguyên Bảo, Tôn Hân, Nghiêm Tân Nguyên); Bạch Đảo Phương Lang (Shiratori Yoshiro, 1972) nghiên cứu truyền thuyết Bàn Hộ qua Bình Hoàng khoán điệp; Yoshino nghiên cứu tranh thờ trong nghi lễ treo đèn; Chai bo. A Nan Da (2006) khảo cứu người Dao tại Thái Lan.

Tác giả luận án chỉ ra rằng các công trình quốc tế chủ yếu tiếp cận dưới góc độ dân tộc chí, mô tả danh mục thần linh hoặc nghiên cứu tôn giáo học, chưa đi sâu giải mã cấu trúc ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình và đặc trưng thẩm mỹ của tranh thờ.

Các nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học về người Dao: Các công trình của Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971), Trần Hữu Sơn, Trần Thùy Dương, Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý, Ngô Đức Thịnh, Trương Hữu Tuấn, Đặng Nghiêm Vạn, Diệp Đình Hoa, Phạm Văn Dương... cung cấp dữ liệu nền tảng về lịch sử di cư (từ thế kỷ XIII), địa bàn cư trú, phong tục tập quán, lễ cấp sắc và hệ thống tín ngưỡng thờ cúng Bàn Vương.
  • Nghiên cứu mỹ thuật và tranh dân gian: Chu Quang Trứ (1984) phân tích mảng tranh thờ trong các dòng tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng, Làng Sình; Phan Cẩm Thượng và Lê Quốc Việt (1999) trong Đồ họa cổ Việt Nam nghiên cứu hệ thống mẫu hình, biểu tượng và đồ án ấn loát tôn giáo; Cung Khắc Lược (2001, 2011) giới thiệu sơ lược về tranh dân gian Việt Bắc; Phan Ngọc Khuê (2001) trong Tranh thờ Đạo giáo ở Bắc Việt Nam phân tích triết lý tôn giáo trong tranh thờ miền núi; Phạm Đức Sỹ và Đỗ Đức (2009) xuất bản sưu tập Tranh thờ Việt Nam; luận văn thạc sĩ của Vũ Hương Giang (2010) khảo sát sưu tập tranh thờ người Dao tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam; Phan Cẩm Thượng (2017) trong Tập tục đời người luận giải về hệ thần Đạo giáo ở vùng cao.

Khoảng trống khoa học luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chưa khảo tả trọn vẹn và đồng bộ một bộ tranh thờ cụ thể theo cấu trúc không gian nghi lễ của một địa phương nhất định. Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Sinh Phúc đi sâu phân tích trực tiếp các yếu tố tạo hình (đường nét, mảng khối, màu sắc, không gian ước lệ, quy chuẩn tạo hình thánh tượng) trên 10 bộ tranh thờ khảo sát tại Yên Bái, làm rõ tính quy phạm và quy điển của nghệ thuật tranh thờ Đạo giáo bản địa hóa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Lý thuyết Nhân học nghệ thuật (Anthropology of Art): Tiếp cận tác phẩm nghệ thuật trong chỉnh thể bối cảnh văn hóa xã hội, hành vi thực hành nghi lễ và đời sống tâm linh của cộng đồng người Dao; xem xét mối liên hệ giữa phần "hiển" (hình thức thị giác) và phần "ẩn" (tư tưởng, biểu tượng văn hóa).
  • Lý thuyết Ảnh tượng học (Iconography) và Biểu tượng học (Iconology): Vận dụng khung lý thuyết của Aby Warburg, Fritz Saxl, Erwin Panofsky (công trình Studies in Iconology, 1939) và Jean Boisselier (1963) để phân tích, giải mã các lớp ý nghĩa: mô tả hình thái bên ngoài (tiền ảnh tượng học), phân tích chủ đề, điển tích, biểu tượng văn hóa (ảnh tượng học) và diễn giải ý nghĩa nội tại của tác phẩm trong tương quan với thế giới quan tôn giáo (biểu tượng học).
  • Khái niệm Quy phạm hóa (Normalization) và Quy điển hóa (Canonization): Phân tích các nguyên tắc tạo hình nghiêm ngặt mà nghệ nhân/thầy cúng bắt buộc phải tuân thủ khi thể hiện hệ thống thánh tượng Đạo giáo.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét sự hình thành, phát triển và biến đổi của tranh thờ gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội của tộc người Dao.
  • Phương pháp phân tích tác phẩm mỹ thuật: Khảo tả bố cục mặt phẳng, tỷ lệ cơ thể, ngôn ngữ tuyến tính (đường nét), hòa sắc, thủ pháp viễn cận ước lệ và các mô típ hoa văn trang trí trên trang phục, pháp khí.
  • Phương pháp điều tra điền dã và quan sát tham dự: Tiếp cận trực tiếp các nghi lễ cấp sắc (3 đèn, 7 đèn), lễ cầu an, lễ tang ma tại các bản làng người Dao ở Yên Bái; chụp ảnh, đo đạc kích thước hiện vật; phỏng vấn sâu các nghệ nhân, thầy Tào có uy tín như ông Lý Hữu Vượng (huyện Văn Chấn), ông Bàn Phúc Bảo và ông Bàn Phúc Định (xã Viễn Sơn, huyện Văn Yên).
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức lịch sử mỹ thuật với dân tộc học, văn hóa học dân gian và tôn giáo học.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa tranh thờ cổ (đầu thế kỷ XX) và tranh thờ vẽ mới (sau năm 1995); so sánh tranh thờ người Dao tại Yên Bái với tranh của các nhóm Dao ở Lào Cai, Hà Giang, Trung Quốc, và với các dòng tranh khắc gỗ dân gian miền xuôi (Hàng Trống, Đông Hồ).
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Lập danh mục, bảng biểu thống kê 10 bộ tranh thờ khảo sát thực tế, phân nhóm theo quy mô (bộ Tiểu Đường, bộ Đại Đường) và theo dạng thức bố cục nhân vật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về tranh thờ của người Dao ở tỉnh Yên Bái

Chương 1 dày 46 trang, tập trung xây dựng cơ sở lý luận và bối cảnh không gian văn hóa tộc người:

  • Phân tích bối cảnh phân bố dân cư: Tỉnh Yên Bái có khoảng 62.000 đến 83.888 người Dao (chiếm khoảng 9,1% dân số toàn tỉnh), gồm 4 nhóm chính: Dao Đỏ (Dao Sừng, Dao Đại Bản), Dao Quần Chẹt (Dao Nga Hoàng, Dao Sơn Đầu), Dao Quần Trắng và Dao Làn Tuyển (Dao Tuyển), cư trú tập trung tại các huyện Văn Yên, Lục Yên, Yên Bình, Văn Chấn và Trấn Yên.
  • Vai trò của tranh thờ trong không gian tín ngưỡng: Tranh thờ được lưu giữ trong bọc vải kín trên bàn thờ (tủ thờ), chỉ được mở ra treo khi thực hiện các nghi lễ lớn như lễ cấp sắc, tết nhảy, lễ giải hạn và tang ma.
  • Quy trình chế tác tranh thờ truyền thống: Thầy cúng vẽ tranh phải là người có phẩm cấp cao, am hiểu Hán học và giáo lý Đạo giáo. Trước khi vẽ, người vẽ phải xem ngày lành, thực hiện các nghi thức trai giới, kiêng kỵ nghiêm ngặt trong khoảng thời gian 3 tháng (90 ngày) để giữ tâm thanh tịnh; sau khi hoàn tất phải làm lễ khai quang, điểm nhãn và mời thần nhập tranh.
Phân loại bộ tranh Số lượng tranh lớn (KT: 43cm x 110cm) Số lượng tranh nhỏ (KT: 20cm x 39cm) Tranh mặt nạ thần (KT: 19cm x 22cm) Tranh quyển dài (KT: 20cm x 210cm) Đối tượng thụ hưởng / Chức năng
Bộ Tiểu Đường 03 bức (Tổng Đàn, Hải Phan, Thái Úy) 04 bức (Thuyền quan, Táo quân, Tứ trực Công tào a, b) 04 bức mặt nạ 01 bức Đại Đường kiều Dành cho thầy cúng sau lễ cấp sắc 3 đèn.
Bộ Đại Đường 14 bức (Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh, Ngọc Hoàng, Tinh Chủ, Thái Úy, Thiên Phủ - Địa Phủ, Dương Phủ - Thủy Phủ, Đại Hải Phan, Tiểu Hải Phan, Trương Thiên Sư, Lý Thiên Sư, Thập Điện Diêm Vương, Tổ tông, Triệu Nguyên Soái, Đặng Nguyên Soái) 04 bức (Thuyền quan, Táo quân, Tứ trực Công tào a, b) 04 bức mặt nạ 01 bức Đại Đường kiều Dành cho thầy Tào thụ lễ cấp sắc từ 7 đèn trở lên.
Hai bộ gộp lại 17 bức tranh (xếp đặt đầy đủ theo trật tự nghi lễ) 04 bức 04 bức mặt nạ 01 bức Đại Đường kiều Sử dụng trong các đại lễ tôn giáo quy mô lớn.
  • Quy tắc treo tranh: Tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc "chính vị song đối". Bức tranh vị thần tối cao Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn được đặt ở vị trí trung tâm (vị trí số 1). Các bức tranh còn lại được bố trí đối xứng hai bên theo thứ tự quyền năng, mặt của các thần linh ở hai cánh đều hướng về vị thần chủ tọa ở chính giữa.
Thứ tự treo tranh Vị trí bên Trái (nhìn từ ngoài vào) Vị trí Trung tâm Vị trí bên Phải (nhìn từ ngoài vào)
Trục trung tâm & Tam Thanh (3) Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn (1) Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn (2) Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn
Cặp đối xứng bậc 2 (5) Tinh Chủ (4) Ngọc Hoàng
Cặp đối xứng bậc 3 (7) Lý Thiên Sư (6) Trương Thiên Sư
Cặp đối xứng bậc 4 (9) Thập Điện Diêm Vương (8) Đại Hải Phan
Cặp đối xứng bậc 5 (11) Dương Phủ - Thủy Phủ (10) Thiên Phủ - Địa Phủ
Cặp đối xứng bậc 6 (13) Đặng Nguyên Soái (12) Triệu Nguyên Soái
Các tranh bổ trợ tiếp theo (14) Tổ Tông, (15) Tiểu Hải Phan, (16) Thái Úy, (17) Tổng Đàn

Chương 2: Nhận diện nghệ thuật tranh thờ của người Dao ở tỉnh Yên Bái

Chương 2 dày 53 trang, đi sâu giải phẫu ngôn ngữ tạo hình của từng nhóm tác phẩm:

  • Nhóm tranh khổ lớn có một vị thần chủ: Điển hình là các bức Tam Thanh (Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh), Ngọc Hoàng, Tinh Chủ, Trương Thiên Sư, Lý Thiên Sư, Triệu Nguyên Soái, Đặng Nguyên Soái. Bố cục tuân thủ nguyên tắc tôn ti trật tự: thần chủ được vẽ với tỷ lệ kích thước vượt trội, ngự tọa uy nghiêm ở vị trí trung tâm trên ngai hoặc mây ngũ sắc; các thị giả, thần tướng hộ pháp được phân bố thu nhỏ ở hai bên hoặc phía dưới. Khuôn mặt thần mang tính ước lệ cao, đường nét viền nét thanh mảnh nhưng chắc chắn, biểu cảm nghiêm nghị.
  • Nhóm tranh khổ lớn có nhiều vị thần chủ: Điển hình là các bức Thiên Phủ - Địa Phủ, Dương Phủ - Thủy Phủ, Thập Điện Diêm Vương, Đại Hải Phan, Tiểu Hải Phan, Tổ Tông. Bố cục tranh được phân tầng, chia khoang theo chiều dọc hoặc không gian tầng bậc liên hoàn để miêu tả các cõi trời, cõi đất, cõi nước và cõi âm. Cảnh phán xét công tội của linh hồn tại Thập Điện Diêm Vương hoặc tích truyện cứu rỗi thể hiện sự kết hợp sinh động giữa giáo lý tôn giáo và hình tượng dân gian.
  • Nhóm tranh khổ nhỏ và tranh phụ trợ:
    • 04 bức tranh khổ nhỏ (Tứ trực Công tào A, B, Thuyền quan, Táo quân) đóng vai trò truyền tin, kết nối giữa người trần thế và thế giới thần linh.
    • 04 bức tranh Mặt nạ thần được vẽ cách điệu cao, dùng để đeo trên trán các thầy cúng khi thực hiện nghi thức nhảy múa, nhập thần.
    • Bức tranh cuộn dài Đại Đường kiều (chiều dài lên tới 2,1m) là bức họa liên hoàn mô tả chiếc cầu dẫn đường đưa linh hồn vượt qua thử thách về thế giới tổ tiên.

Chương 3: Đặc trưng nghệ thuật và một số bàn luận trong nghệ thuật tranh thờ của người Dao ở tỉnh Yên Bái

Chương 3 dày 55 trang, khái quát hóa các đặc trưng mỹ thuật và bàn luận so sánh:

  • Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình:
    • Đường nét: Sử dụng thủ pháp "thiết tuyến miêu" (nét vẽ mảnh, chắc như dây thép) kết hợp các nét vờn, lượn sóng miêu tả nếp áo, râu tóc và vân mây. Nét đóng vai trò định hình không gian và phân định ranh giới màu sắc.
    • Màu sắc: Tranh cổ sử dụng phẩm màu có nguồn gốc khoáng vật, thảo mộc tự nhiên pha với keo da trâu hoặc nhựa cây, tạo nên sắc độ trầm ấm, hài hòa (sắc đỏ trầm, vàng nghệ, xanh chàm, đen mực tàu). Tranh vẽ mới sử dụng sơn công nghiệp, bột màu hóa học có độ tươi sáng, tương phản mạnh nhưng thiếu độ đằm thắm của màu truyền thống.
    • Không gian và Bố cục: Không gian phi viễn cận (ước lệ, tán điểm thấu thị), kết hợp đồng thời nhiều chiều kích thời gian và không gian trên cùng một mặt phẳng. Bố cục đăng đối, tầng lớp biểu hiện sự tôn ti trật tự trong vũ trụ quan Đạo giáo.
  • So sánh biến đổi giữa tranh cổ và tranh vẽ mới:
    • Tranh cổ thể hiện kỹ thuật vẽ tay tinh xảo, nét vẽ uyển chuyển, họa tiết hoa văn trên phẩm phục tỉ mỉ, độ bền màu cao trên chất liệu giấy bản truyền thống (giấy rơm, giấy dướng).
    • Tranh mới có xu hướng giản lược chi tiết, đường nét cứng cáp hơn, tỷ lệ nhân vật đôi chỗ bị sai lệch do người vẽ thiếu kỹ năng rèn luyện bài bản; tuy nhiên quy cách phân bố nhân vật và tính biểu tượng tôn giáo căn bản vẫn được duy trì.
  • So sánh với tranh thờ miền xuôi và các tộc người khác:
    • So với tranh thờ Hàng Trống hay Đông Hồ (in khắc gỗ nét đen rồi tô màu hoặc in mảng màu), tranh thờ người Dao là tranh vẽ tay trực tiếp từng bức, mang tính độc bản, thể hiện hệ thống thần điện Đạo giáo hoàn chỉnh hơn.
    • So với tranh thờ của các dân tộc Tày, Nùng, Cao Lan, tranh thờ người Dao bảo lưu đậm nét hơn hình tượng thủy tổ Bàn Vương (Bàn Hộ) và trang phục truyền thống của tộc người lồng ghép trong phẩm phục thần tiên.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện, hệ thống về nghệ thuật tranh thờ của người Dao tại tỉnh Yên Bái dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật.
  • Bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ sở lý thuyết về tranh tượng học Đạo giáo bản địa hóa tại vùng núi phía Bắc Việt Nam, làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác giữa yếu tố tâm linh, giáo lý tôn giáo và ngôn ngữ tạo hình hội họa dân gian.
  • Khẳng định tính độc lập và giá trị thẩm mỹ của dòng tranh thờ miền núi, bổ sung vào bức tranh toàn cảnh của lịch sử mỹ thuật cổ truyền Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo sát, đo đạc, chụp ảnh và lập danh mục tư liệu thị giác chuẩn xác cho 10 bộ tranh thờ của người Dao (gồm các bộ tranh cổ đầu thế kỷ XX và bộ tranh mới tiêu biểu năm 2014) tại các huyện vùng cao tỉnh Yên Bái.
  • Cung cấp nguồn tư liệu thực địa có giá trị khoa học cho các bảo tàng, viện nghiên cứu mỹ thuật, văn hóa học và dân tộc học.
  • Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm bảo tồn nghệ thuật chế tác tranh thờ truyền thống, tôn vinh và hỗ trợ các nghệ nhân, thầy cúng cao tuổi trong việc trao truyền kỹ thuật vẽ tranh cho thế hệ kế cận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do tính chất linh thiêng và quy định cất giữ nghiêm ngặt của các gia đình, dòng họ người Dao (tranh chỉ mở ra trong các nghi lễ lớn), việc tiếp cận hiện vật gặp nhiều khó khăn; phạm vi nghiên cứu thực địa chuyên sâu tập trung chủ yếu tại địa bàn tỉnh Yên Bái nên tính so sánh liên vùng với các tỉnh Tây Bắc, Đông Bắc khác còn dựa trên tài liệu thứ cấp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối sánh nghệ thuật tranh thờ của các nhóm người Dao ở các tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh) và nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học, kỹ thuật điều chế chất liệu màu tự nhiên trên giấy dướng truyền thống của các nghệ nhân xưa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Mỹ thuật học, Văn hóa học, Dân tộc học: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp ứng dụng lý thuyết ảnh tượng học (Iconography) vào phân tích tranh dân gian tôn giáo; cung cấp khung phân tích cấu trúc không gian và ngôn ngữ tạo hình cho các đề tài liên quan.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo mỹ thuật: Cung cấp nguồn học liệu trực quan, sinh động về mỹ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, phục vụ giảng dạy các học phần Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, Mỹ thuật Dân gian.
  • Đối với các nhà quản lý văn hóa và bảo tàng: Là căn cứ khoa học để xây dựng hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể, định hướng công tác sưu tầm, trưng bày và xây dựng chính sách bảo tồn di sản nghệ thuật truyền thống của đồng bào Dao.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát các bộ tranh thờ của người Dao tại các địa bàn cụ thể nào ở tỉnh Yên Bái?

Luận án khảo sát thực địa tại các vùng cư trú tập trung của đồng bào Dao thuộc 5 huyện của tỉnh Yên Bái: Văn Chấn, Lục Yên, Yên Bình, Văn Yên và Trấn Yên. Trong đó, tác giả tiếp cận nghiên cứu sâu quá trình hành lễ và vẽ tranh của các nghệ nhân, thầy cúng tiêu biểu tại huyện Văn Chấn (ông Lý Hữu Vượng) và huyện Văn Yên (ông Bàn Phúc Bảo tại thôn Khe Lợ và ông Bàn Phúc Định tại thôn Tháp Cái II, xã Viễn Sơn).

2. Cấu trúc một bộ tranh thờ đầy đủ (bộ Đại Đường) của người Dao gồm những loại tranh nào?

Bộ Đại Đường đầy đủ bao gồm:

  • 14 bức tranh cuộn khổ lớn (kích thước 43cm x 110cm) thể hiện các vị thần tối cao và thần hộ pháp (Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh, Ngọc Hoàng, Tinh Chủ, Thái Úy, Thiên Phủ - Địa Phủ, Dương Phủ - Thủy Phủ, Đại Hải Phan, Tiểu Hải Phan, Trương Thiên Sư, Lý Thiên Sư, Thập Điện Diêm Vương, Tổ Tông, Triệu Nguyên Soái, Đặng Nguyên Soái).
  • 04 bức tranh khổ nhỏ (kích thước 20cm x 39cm): Thuyền quan, Táo quân, Tứ trực Công tào A, Tứ trực Công tào B.
  • 04 bức tranh Mặt nạ thần (kích thước 19cm x 22cm).
  • 01 bức tranh cuộn ngang dài Đại Đường kiều (kích thước 20cm x 210cm).

3. Nguyên tắc sắp đặt và treo tranh thờ trong không gian nghi lễ của người Dao diễn ra như thế nào?

Tranh thờ được treo dàn ngang kín trên vách tường theo quy tắc "chính vị song đối". Bức tranh vị thần tối cao Ngọc Thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn được treo ở vị trí chính giữa trung tâm. Các bức tranh còn lại được bố trí thành từng cặp đối xứng tỏa ra hai bên (bên phải: Thượng Thanh, Ngọc Hoàng, Trương Thiên Sư, Đại Hải Phan...; bên trái: Thái Thanh, Tinh Chủ, Lý Thiên Sư, Thập Điện Diêm Vương...). Nhân vật trong các bức tranh hai bên đều được tạo hình hướng mặt chầu về phía vị thần trung tâm.

4. Quy trình tạo tác một bộ tranh thờ mới đòi hỏi những kiêng kỵ và thời gian như thế nào?

Để vẽ một bộ tranh thờ, người thầy cúng/họa công phải là người có phẩm cấp cao, đạo đức uy tín và tay nghề vững vàng. Người vẽ phải chọn ngày giờ tốt để khởi công và mất khoảng 3 tháng (90 ngày) để hoàn thành. Trong suốt quá trình vẽ, người vẽ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trai giới, kiêng kỵ trong sinh hoạt cá nhân nhằm giữ tâm trí thuần khiết. Sau khi vẽ xong, tranh phải trải qua nghi lễ khai quang, điểm nhãn và lễ mời thần nhập tranh mới được đưa vào sử dụng thờ cúng.

5. Sự khác biệt cơ bản về chất liệu và màu sắc giữa tranh thờ cổ và tranh thờ vẽ mới là gì?

Tranh thờ cổ đầu thế kỷ XX được vẽ trên giấy bản thủ công (giấy dướng, giấy rơm) dày dặn, sử dụng phẩm màu tự nhiên từ khoáng vật và thảo mộc pha keo da trâu/nhựa cây, cho sắc độ trầm ấm, có độ ngấm và độ bền cao qua nhiều thập kỷ. Tranh thờ vẽ mới (sau năm 1995) thường vẽ trên giấy dướng mới hoặc vải, sử dụng bột màu công nghiệp và sơn hóa học tổng hợp, có màu sắc rực rỡ, độ tương phản gắt hơn nhưng độ bền màu và độ đằm thắm của nét vẽ không bằng tranh cổ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Sinh Phúc là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về nghệ thuật tạo hình trong tranh thờ của người Dao tại tỉnh Yên Bái dưới góc độ lý luận và lịch sử mỹ thuật. Bằng việc kết hợp lý thuyết nhân học nghệ thuật và phương pháp ảnh tượng học với quá trình điền dã thực địa công phu, tác giả đã giải mã thành công cấu trúc thần điện, ngôn ngữ thị giác và các tầng ý nghĩa biểu tượng của di sản tranh thờ. Công trình không chỉ làm sáng tỏ các giá trị thẩm mỹ, tôn giáo, lịch sử của dòng tranh dân gian miền núi mà còn cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao trong bối cảnh hiện nay.