chương 1 khái quát (30 trang) và chương 2 viết về “ông thầy và bà thầy shaman” (28 trang), các bức tranh cuộn của người Dao được đề cập đến trong hai chương tiếp theo của cuốn sách: Chương 3: Khởi đầu vào con đường tâm linh của Đạo; chương 4: Bộ đầy đủ 16 bức tranh. Trong chương viết về con đường tâm linh, tác giả mô tả và phân tích những hình ảnh được thể hiện trên ba bức tranh cơ bản thường được sử dụng ở lễ cấp sắc ba đèn của người Dao: 1. Bức Tiểu Hải phan và 3. Bức Tổ tông.
Trong chương viết về bộ tranh đầy đủ, tác giả Trian đã đi sâu tìm hiểu hệ thống thần điện đầy đủ của một thầy shaman được thể hiện trên 16 bức tranh cuộn dọc. Bộ tranh mà tác giả Trian đưa ra khảo tả và phân tích là bộ tranh có niên đại năm 1819 của người Dao Đỏ ở Trung Quốc. Theo quan sát và so sánh, NCS nhận thấy, các bộ tranh cuộn đầy đủ của người Dao ở Yên bái cũng có số lượng, cách thể hiện và cách sắp xếp khi đưa ra sử dụng, về cơ bản, giống với của bộ tranh năm 1819 của người Dao Đỏ ở Trung Quốc. Ngoài bộ gồm 16 bức tranh cuộn dọc thể hiện các vị thần chính của Đạo giáo, trong các chương tiếp theo, các thể loại tranh shaman khác của người Dao là các bức tranh thế hiện bốn sứ giả nhà trời (tứ trực công tào), các mặt nạ giấy và bức tranh cuộn ngang “Đại đường kiều” cũng được tác giả Trian phân tích, nhưng trong tổng thể với các tranh cùng loại của các dân tộc miền núi khác.
Cụ thể là, trong chương 6: Bốn sứ giả nhà trời. 18 Qua so sánh, NCS nhận thấy, người Dao ở Yên Bái có đầy đủ các bức tranh thuộc tất cả bốn loại tranh: bộ 16 tranh cuộn dọc, các tranh Tứ trực, Công tào, bức tranh cuộn ngang Đại đường kiều và những bức tranh mặt nạ. Ngoài ra, qua những mô tả và những hình minh họa của cuốn sách, NCS còn nhận thấy, về cơ bản, những bức tranh của người Dao ở Yêu Bái giống với các bức tranh cổ thế kỷ XIX của người Dao ở Trung Quốc. Vì vậy, cuốn sách này đã cung cấp cho NCS những gợi ý và những tư liểu so sánh rất bổ ích để trinh bày ngững nghiên cứu của mình về tranh thờ của người Dao ở Yên Bái.
Năm 2017, cũng tác giả Nguyễn Tri Ân (Trian Nguyen), đại học Batet Hoa Kỳ có bài viết “Tôn giáo, tín ngường và văn hóa của dân tộc Dao nhìn từ góc độ tranh thờ” đăng trên tạp chí Xưa và Nay, số 490 (tháng 12/ 2017) và số 491 (tháng 1/2018). Bài viết gồm 26 trang có các phần chính: Dẫn nhập, phân loại các bộ tranh thờ gồm có bộ Tiểu Đường và bộ tranh Đại Đường, bộ tranh bổ túc, phần cuối là kết luận. Phần phần dẫn nhập của bài viết tác giả Nguyễn Tri Ân đã khái quát đôi nét chính về dân tộc Dao, về dân số, cư trú, di dân, di cư từ nam Trung Quốc vào Bắc Việt Nam, một số đặc điểm nổi bật về tập tục tín ngưỡng trong thờ cúng và các nghi lễ thực hành tín ngưỡng. Từ đó tác giả đề cập đến sự liên quan giữ thế giới tâm linh, nghệ thuật, hội họa với tranh thờ của người Dao.
Ở phần phân loại bộ tranh thờ của người Dao tác giả Nguyễn Tri Ân đã thực hiện phân loại bộ tranh thờ của người Dao làm 3 phần chính là Bộ tranh Tiểu Đường, bộ tranh Đại Đường và bộ tranh bổ túc, từ đó tác giả mô tả cách sắp xếp trưng bày bộ tranh theo thứ tự khi hành lễ, dựa trên nghiên cứu từ lễ cấp sắc, các lạc khoản và việc trưng bày bộ tranh trên thực tế. Đồng thời tác giả bài viết giới thiệu gắn gọn một số thần linh Đạo Giáo bắt nguồn từ những nhân vật huyền thoại hoặc lịch sử văn học Trung Quốc, từ đó tác giả thực hiện sơ tả về đặc điểm, dáng thế, chân dung, ý nghĩa chức vị quyền hạn của các vị thần trên 3 bộ tranh thờ Tiểu Đường, Đại Đường và Bổ túc. Ở phần kết luận tác giả Nguyễn Tri Ân nêu rõ tranh thờ của người Dao là một di sản vật thể có giá trị về mặt văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng từ đó đưa ra ý kiến về 19 việc bảo tồn và phát triển. Tác giả nêu hai điểm chính trong phần kết luận, một là ý nghĩa tầm quan trọng của lạc khoản trong nghiên cứu tranh thờ, thông qua lạc khoản ta biết được niên đại, chủ nhân, nghệ nhân, số lượng tranh, lời ước nguyện của gia chủ, cũng như mong ước của người Dao trong đời sống.
Hai là về vấn đề vẽ tranh tác giả nêu, người Dao có nhiều nhóm, cư trú ở một số quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Việt Nam các tranh vẽ có số tuổi khác nhau, cũ nhất khoảng 200 năm, mới vẽ là vài chục năm, tuy cùng thể loại chủ đề nhưng có sự khác biệt về thời gian, vùng cư trú và bản gốc do nghệ nhân dùng để vẽ. Nhìn chung các bộ tranh do người Trung Quốc vè vào TK XIX và đầu TK XX được người Dao đem theo khi họ di cư về phương Nam, các bức tranh này do những nghệ nhân theo Đạo Giáo, có hiểu biết về hội họa cổ điển Trung Quốc, có kỹ năng tay nghề khéo léo, nên có tính thẩm mỹ cao, miêu tả đúng phong cách, bố cục và các họa tiết trang trí theo đúng những nguyên tác, tiêu chuẩn khi vẽ các thần linh và anh hùng dân tộc. Càng về sau do thiếu người có chuyên môn, qua thời gian và từng vùng miền các bức tranh vẽ lại bị thiếu chuẩn xác mang đường nét mộc mạc, vụng về, thiếu sót nhiều chi tiết tiêu chuẩn, không theo quy trình và quy chuẩn truyền thống, làm cho các bức tranh thiếu tính thẩm mỹ, không còn được vẻ đẹp như trước. Phần cuối tác giả có giải thích một số thuật ngữ thường dùng khi nghiên cứu tranh thờ như thầy Tào, Pháp sư, Đạo sư, Sư công giải nghĩa và nêu chức vụ thi hành, tác giả nêu những vấn đề về thế giới quan, nhân sinh quan của người Dao, những ý nghĩa tôn giáo, dân tộc, lịch sử thông qua bộ tranh thờ.
Bài viết “Tôn giáo, tín ngường và văn hóa của dân tộc Dao nhìn từ góc độ tranh thờ” của tác giả Nguyễn Tri Ân (Trian Nguyen), đại học Batet Hoa Kỳ đã tiếp nối công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài đi trước đã cụ thể những vấn đề về nguồn gốc, xuất sứ đưa ra nhũng dấu mốc về niên đại cụ thể của các bộ tranh thờ của người Dao nghiên cứu ở Trung Quốc Thái Lan, Lào và Bắc Việt Nam, hệ thống tên gọi, cách thức treo trưng bày khi hành lễ, mô tả khái lược về dáng thế, chân dung, chức vị, quyền hạn, ý nghĩa tôn giáo tín ngưỡng biểu hiện trong từng vị thần trên mỗi bức tranh. Từ đó đưa ra những giá trị về văn hóa lịch sử, tôn giáo tín ngưỡng nhân sinh thế giới được phản ánh qua bộ tranh thờ. Đây là nguồn tư liệu quý giúp 20 NCS lấy đó làm cơ sở soi chiếu với thực tế tranh thờ của người ở Bắc Việt Nam và đặc biệt là tranh thờ của người Dao ở Yên Bái. Những nghiên cứu của các học giả nước ngoài cũng như bài viết của tác giả Nguyễn Tri Ân chưa đề cập cụ thể đến ngôn ngữ tạo hình, những biểu hiện của nghệ thuật hội họa trên tranh, đây là khoảng trống để NCS tiếp tục khám phá nghiên cứu tranh thờ.
Các nghiên cứu của tác giả Việt Nam 1. Các nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam và người Dao ở Yên Bái Để phục vụ cho việc thực hiện chủ trương chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhiều nhà nghiên cứu Dân tộc học, Văn hóa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam. Đáng chú ý là: Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung [22]; Nguyễn Khắc Tụng [99] Trần Hữu Sơn (Trần Hữu Sơn, Trần Thùy Dương [18]; Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý [34]; Ngô Đức Thịnh [79], [80], [81]; Trương Hữu Tuấn [98]; Đặng Nghiêm Vạn [101], [102]; Diệp Đình Hoa [32] Phạm Văn Dương [19], [20]; Đỗ Quang Tụ - Nguyễn Liễn [49]. Các công trình nghiên cứu về người Dao nói chung và người Dao ở một số địa phương khác nhau như Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Yên Bái.
đã cho chúng ta một cách nhìn tổng thể và khá chi tiết về người Dao ở Việt nam. Với nhiều nguồn tư liệu điền dã phong phú, chính xác cụ thể, các tác giả đã đề cập khái quát về tên gọi, nguồn gốc lịch sử quá trình di cư, địa bàn cư trú, các hình thức sinh kế, đời sống vật chất, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, văn học nghệ thuật, tri thức dân gian. Việc nghiên cứu cụ thể về phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên, thần linh, thực hành các nghi lễ trong chu kỳ đời người của dân tộc Dao còn thấy các công trình khác như: “Tín ngưỡng tôn giáo của người Dao ở Việt Nam” Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai [72]; Vài nét sơ lược về hai lễ cúng tổ tiên của người Dao đỏ [74]; Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam [78]; Tập tục của người Dao và tính giáo dục của nó trong sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao:Hiện tại và tương lai [27]; Lễ cấp sắc và bản sắc văn hóa Dao [69]; Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người ngôn ngữ Mông-Dao ở Việt Nam [61]; 21 Lễ cưới của người Dao Tuyển [70], Lễ cấp sắc của người Dao ở Lô gang Lạng Sơn [43]. Điểm lại các công trình nghiên cứu của người Dao ở việt nam cho thấy, các nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học… đã quan tâm tới nhiều khía cạnh, lĩnh vực trong đời sống văn hóa-xã hội của người Dao.
Và đặc biệt đã đi vào phân tích về tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên thần linh, việc thực hành các nghi thức tôn giáo của người Dao. Đây là nguồn tài liệu phong phú và quý giá để NCS làm cơ sở luận giải các vấn đề về tranh thờ của người Dao nói chung và tranh thờ của người Dao ở Yên Bái nói riêng.