Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Ở Việt Nam, việc NLĐ đi làm việc ở nước ngoài bắt đầu triển khai có tính hệ thống với sự tham gia quản lý của Nhà nước được bắt đầu từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Khi đó, hoạt động này gắn liền với những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội qua từng giai đoạn. Theo đó, thời kỳ này đã xuất hiện các tên gọi khác nhau gắn với chính sách quản lý, điều hành của Nhà nước về NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, như: hợp tác quốc tế về lao động (những năm 80 của thế kỷ XX); đưa NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, XKLĐ (những năm 90 của thế kỷ XX); đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (từ 2007 đến nay).
Gắn liền với sự phát triển của hoạt động này, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Hầu hết các công trình nghiên cứu được thực hiện từ đầu những năm 1990 của thế kỷ XX dưới góc độ chuyên ngành quản lý kinh tế, kinh tế lao động, tài chính và tiền tệ, kinh tế phát triển cũng như giác độ khoa học kinh tế chính trị, tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động đưa NLĐ Việt Nam ra nước ngoài làm việc trong những năm 1980 và nửa đầu những năm 1990. Mặt khác, do ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử và quan điểm chính trị, việc phân tích và nêu các khái niệm về NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, về hợp tác quốc tế về lao động, hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hay hoạt động XKLĐ của Việt Nam nói chung còn những điểm chưa thực sự thống nhất và đầy đủ. Các nghiên cứu tiếp cận về vấn đề hoạt động dịch vụ và doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài còn có những khác biệt cả về mặt lý luận và thực tiễn, từ nội dung đến phương pháp nghiên cứu.
Nhóm các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài Trên thế giới, hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu được nghiên cứu, đề cập dưới góc độ di cư lao động quốc tế hay di dân. Bài viết “Asian Labour Migration: Issues and Challengers in an Era of Globalization”1 của tác giả Piyasiri Wickramasekera đã có một số trao đổi về cách sử dụng thuật ngữ liên quan tới lao động nhập cư. Ngay trong các nghiên cứu và các báo cáo của các định chế như Tổ chức Di cư quốc tế (IOM), các cơ quan nghiên cứu của Liên hợp quốc, Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đều có nhiều quan điểm khác nhau. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân tích số liệu thống kê liên quan đến sự di chuyển lao động quốc tế như số lượng lao động di cư, xu hướng, số tiền NLĐ gửi về nước.
Các nghiên cứu cũng tìm hiểu lý do di chuyển lao động quốc tế và các yếu tố tác động, chi phối; nhận định, dự báo các xu hướng di chuyển lao động quốc tế trong tương lai; đánh giá vai trò của di cư lao động quốc tế đối với sự phát triển về kinh tế - xã hội của các quốc gia; các giải pháp bảo vệ quyền lợi của NLĐ cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của NLĐ. Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách quản lý lao động di cư quốc tế có hiệu quả và đạt được lợi ích lớn nhất đối với sự phát triển của các quốc gia.H (2005), trong nghiên cứu về hệ thống chính sách đưa NLĐ sang Hàn Quốc làm việc theo chương trình EPS2 (Luật cấp phép việc làm cho lao động người nước ngoài được Quốc hội Hàn Quốc thông qua ngày 16/8/2003, quy định Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài, gọi tắt là chương trình EPS) cho rằng hoạt động đưa NLĐ của các nước sang Hàn Quốc làm việc như sự di cư lao động quốc tế nói chung qua kết quả khảo sát hệ thống quản lý di cư lao 1 Piyasiri Wickramasekera (2002), “Asian Labour Migration: Issues and Challengers in an Era of Globalization”, International migration papers.H (2005), A Survey on the Labour Emigration Management systems of 12 countries of origin to the Republic of Korea, IOM Seoul, http:www.kr 10 động từ 12 quốc gia đến Hàn Quốc làm việc. Trong nghiên cứu này tác giả đã đề cập đến các vấn đề về“labour export” (tạm dịch “XKLĐ”; “labour export policy/manpower export policy” (chính sách XKLĐ); “labour exporting country” (quốc gia XKLĐ). Tuy nhiên, đặc điểm và tính chất của hoạt động XKLĐ cũng như hoạt động mua bán hàng hóa sức lao động giữa các nước.
Cũng theo tác giả, NLĐ được đưa đi làm việc ở nước ngoài theo chương trình này cũng được gọi là “migrant worker” (NLĐ di cư) cụ thể hơn là “oversea contract workers” (lao động theo hợp đồng ở nước ngoài). Trong một nghiên cứu của ADB năm 2006 “Workers remittance Flows in Southeast Asia”3, đánh giá về xu hướng, đặc điểm của hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài tại các khu vực Châu Á, ASEAN. Trên cơ sở phân tích về thực trạng hoạt động đưa NLĐ đi làm việc dưới góc độ hợp pháp và bất hợp pháp, công trình nghiên cứu có đề cập tới phương thức thực hiện hoạt động XKLĐ, quản lý NLĐ cũng như cách thức chuyển tiền của NLĐ về nước. Qua đó, công trình nghiên cứu có đề cập tới vai trò của mỗi quốc gia, đơn vị trung gian thực hiện đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài trong quản lý, nâng cao hiệu quả thực hiện.
Alan Winters, Terrie Walmsley, Zhen Kun Wang, Roman Grynberg trong sách chuyên khảo “Liberalising Labour Mobility Under the GATS”4, đã có những phân tích về các cuộc đàm phán liên quan đến việc di chuyển tạm thời của NLĐ từ các nền kinh tế đang phát triển sang các nền kinh tế phát triển. Di chuyển lao động tập trung vào dòng di chuyển của lao động phổ thông và bán kỹ năng và xem xét lợi ích của việc nới lỏng các hạn chế đối với sự di chuyển tạm thời của lao động. Bên cạnh các nhận định về sự thiếu hụt lao động có trình độ học vấn trong tương lai, nhóm tác giả phân tích những tác động trong thúc đẩy phát triển đưa lao động đi nước ngoài làm việc. Qua đó, đề xuất những phương hướng 3 ASEAN Development Bank – ADB (2006), “Workers remittance Flows in Southeast Asia”, https://www.org/sites/default/files/project-document/69257/workers-remittance.
Alan Winters, Terrie Walmsley, Zhen Kun Wang, Roman Grynberg (2002), “Liberalising Labour Mobility Under the GATS”, Commonwealth Secretariat. 11 để những quốc gia đang phát triển tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách cho lĩnh vực đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài cũng như quá trình nhập cư. Bài viết “Asian Labour Migration: Issues and Challengers in an Era of Globalization”5 của tác giả Piyasiri Wickramasekera đã chỉ ra thực trạng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài dựa trên các thông tin, dữ liệu và dự đoán xu hướng phát triển. Đặc biệt, bài viết đã đưa ra những vấn đề liên quan tới việc bảo vệ NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, những thay đổi về chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ.
Bên cạnh việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bài viết còn đề xuất nâng cao vai trò, vị trí của các tổ chức bảo vệ quyền lợi NLĐ. Có thể thấy, do quan điểm và cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung các nghiên cứu đã có những góc nhìn khác nhau về khái niệm, bản chất của hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài; vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và với đời sống NLĐ; chú trọng giải quyết vấn đề bóc lột sức lao động, phân biệt đối xử và xâm hại quyền con người của NLĐ. Tuy nhiên, các nghiên cứu đề cập rất ít (thậm chí không đề cập) đến các hình thức mà NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, nhất là vai trò của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài dưới hình thức là một hoạt động dịch vụ. Ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế “Mở rộng và nâng cao hiệu quả việc đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” của tác giả Nguyễn Lương Trào6.
Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận về sự cần thiết, quan trọng trong việc đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Đây không chỉ là quy luật khách quan của thị trường, đảm bảo hợp tác lao động quốc tế mà còn giải quyết việc làm cho cho NLĐ. Tổ chức đưa NLĐ ra nước ngoài làm việc được Nhà nước công nhận là một lĩnh vực hoạt động kinh tế hợp pháp, cho phép các tổ chức kinh tế được thực hiện. 5 Piyasiri Wickramasekera (2002), “Asian Labour Migration: Issues and Challengers in an Era of Globalization”, International migration papers.
6 Nguyễn Lương Trào (1993), “Mở rộng và nâng cao hiệu quả việc đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài”, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. 12 Tác giả nhận định đây là hoạt động kinh tế, phải được thực hiện trên các hợp đồng cung ứng lao động giữa các tổ chức kinh tế của các quốc gia, cơ cấu nghề đòi hỏi đa đạng, được tiến hành trong môi trường có tính cạnh tranh cao. Tuy nhiên, công tác tổ chức thực hiện đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài của các doanh nghiệp XKLĐ thời kỳ này tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Hầu hết các doanh nghiệp XKLĐ đều mới được thành lập, thiếu kinh nghiệm và nguồn lực, hiệu quả làm việc không cao, quy mô nhỏ lẻ.
Công tác tổ chức tuyển chọn NLĐ còn mang nặng thủ tục hành chính, tồn tại nhiều bất cập. Bên cạnh đó, chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật còn nhiều hạn chế, thiếu sự đồng bộ, cụ thể, chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường. Trên cơ sở đó, luận án đưa ra những biện pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc trên cơ sở tham vấn kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.