Tổng quan luận án

Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một bộ phận trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Chủ trương này đã được thể chế hóa và khẳng định xuyên suốt qua các văn kiện như Chỉ thị số 41/CT-TW ngày 22/9/1998 của Bộ Chính trị về xuất khẩu lao động và chuyên gia, Chỉ thị số 16-CT/TW ngày 08/5/2012 của Ban Bí thư, và Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 12/12/2022 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong tình hình mới.

Thực tiễn từ khi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 có hiệu lực (ngày 01/7/2007) cho thấy quy mô thị trường mở rộng nhanh chóng. Hiện có khoảng 600.000 lao động Việt Nam làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, chuyển về lượng kiều hối hàng năm từ 2,5 đến 3 tỷ USD. Kể từ năm 2014, số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài liên tục vượt 100.000 người mỗi năm, đạt mức kỷ lục gần 150.000 người vào năm 2022. Số lượng doanh nghiệp được cấp phép hoạt động dịch vụ tăng từ dưới 150 doanh nghiệp lên hơn 500 doanh nghiệp.

Tuy nhiên, quá trình thực thi bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý: các quy định chưa bao quát hết mọi đối tượng, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe, thiếu tính tương thích với luật pháp nước tiếp nhận và các luật chuyên ngành mới. Bên cạnh đó, tình trạng doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, các thủ tục hành chính còn nặng tính xin - cho, tỷ lệ lao động vi phạm hợp đồng hoặc cư trú bất hợp pháp còn cao. Việc Quốc hội thông qua Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2022) thay thế luật năm 2006 đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu toàn diện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ.

Thuộc tính Chi tiết
Tên đề tài Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài
Tác giả NCS. Phạm Anh Thắng
Người hướng dẫn 1. TS. Trần Minh Đức; 2. TS. Nguyễn Thanh Lý
Cơ sở đào tạo Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành & Mã số Luật Kinh tế - Mã số: 9 38 01 07
Năm bảo vệ 2023

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các giải pháp và cung cấp luận cứ khoa học, luận chứng thực tiễn nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Tổng quan và đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, chỉ ra kết quả kế thừa và khoảng trống nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về người lao động làm việc ở nước ngoài và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ trên các phương diện: khái niệm, đặc điểm, nội dung cấu thành.
  3. Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ để rút ra bài học cho Việt Nam.
  4. Phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, chỉ ra kết quả đạt được và bất cập.
  5. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay.
  6. Xác định phương hướng, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài; hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước; các quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế; các báo cáo, số liệu tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu từ năm 2013 đến nay; có dẫn chiếu các quy định và số liệu lịch sử từ giai đoạn thực hiện Luật năm 2006 đến Luật năm 2020.
  • Phạm vi không gian: Thực trạng quy định và áp dụng pháp luật tại Việt Nam, kết hợp khảo sát kinh nghiệm pháp luật của Philippines, Thái Lan, Indonesia, Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc.
  • Phạm vi nội dung: Dưới góc độ chuyên ngành Luật Kinh tế, luận án tập trung chủ yếu vào trách nhiệm dân sự trong các quan hệ hợp đồng (với người lao động, cơ quan quản lý nhà nước, bên tiếp nhận lao động và tổ chức trung gian), đồng thời xem xét bổ trợ trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự để đảm bảo tính toàn diện.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trước đây thành ba nhóm chính:

1. Nhóm các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận

  • Nghiên cứu quốc tế: Piyasiri Wickramasekera (2002) trong công trình “Asian Labour Migration: Issues and Challengers in an Era of Globalization” phân tích các thuật ngữ di cư lao động, bảo vệ quyền lợi người lao động và vai trò của các tổ chức bảo trợ. H (2005) trong “A Survey on the Labour Emigration Management systems of 12 countries of origin to the Republic of Korea” khảo sát chương trình EPS, phân tích các khái niệm xuất khẩu lao động và lao động theo hợp đồng ở nước ngoài. Báo cáo của ADB (2006) “Workers remittance Flows in Southeast Asia” đánh giá dòng kiều hối và vai trò của các đơn vị trung gian tại khu vực Đông Nam Á. Alan Winters và cộng sự (2002) trong chuyên khảo “Liberalising Labour Mobility Under the GATS” phân tích cơ chế dịch chuyển lao động tạm thời từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển.
  • Nghiên cứu trong nước: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Lương Trào (1993) phân tích cơ sở lý luận về tính tất yếu khách quan của việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế hợp đồng kinh tế. Nguyễn Xuân Hưng (2015) với luận án “Quản lý Nhà nước về XKLĐ của Việt Nam” phân tích cơ chế quản lý vĩ mô kết hợp trách nhiệm của các tổ chức kinh tế. Các bài báo khoa học của Bùi Ngọc Thanh (2020), Nguyễn Văn Quân (2018), Lê Ngọc Thạnh (2018) và Trần Thị Hoàng Yến (2015) đã cung cấp các góc nhìn lý luận về trách nhiệm pháp lý, quản trị công ty và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

2. Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện

  • Nguyễn Thị Hoàng Lan (2013) nghiên cứu tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đến thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam.
  • Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội do TS. Hoàng Kim Ngọc làm chủ nhiệm (2013) tổng kết 5 năm thi hành Luật năm 2006, chỉ ra các kẽ hở trong quản lý tài chính, cấp phép và quản lý doanh nghiệp đưa lao động đi làm công trình trúng thầu ở nước ngoài.
  • Các bài viết của Doãn Thị Mai Hương (2017), Gia Linh (2021), Trần Minh Tuấn (2012), Bùi Thị Thùy Nhi (2016), Dương Lê Vân (2021), Phan Thị Thu Hà (2020), Trần Minh Chương và cộng sự (2021) phân tích thực trạng lao động tại các thị trường Đông Bắc Á, Nhật Bản, khối cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và bối cảnh dịch bệnh COVID-19.

3. Nhóm các công trình nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện

  • Sách chuyên khảo của Trần Thị Thu (2006) đề xuất các giải pháp quản lý xuất khẩu lao động bằng công cụ pháp lý và kinh tế.
  • Các luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Văn Hằng (1996), Nguyễn Tiến Dũng (2010), Bùi Sỹ Tuấn (2011) đề xuất giải pháp đổi mới quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Các bài viết của Hà Thị Minh Đức (2018) và Phạm Hùng Cường (2016) tập trung vào các thị trường tiếp nhận lao động kỹ năng.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Phần lớn các công trình trước đây tiếp cận hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới góc độ kinh tế học, quản lý kinh tế hoặc quản lý nhà nước. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ dưới góc độ Luật Kinh tế trong bối cảnh thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh và đánh giá thực trạng quy định mới của Luật năm 2020 so với Luật năm 2006.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Học thuyết Mác - Lênin: Vận dụng lý luận về lao động, hàng hóa sức lao động và thị trường hàng hóa sức lao động để giải thích bản chất kinh tế - pháp lý của quan hệ dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
  • Lý thuyết bất cân xứng: Sử dụng lý thuyết bất cân xứng thông tin và bất cân xứng về tiềm lực tài chính/vị thế đàm phán để phân tích mối quan hệ giữa doanh nghiệp dịch vụ với người lao động, giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước và các đối tác trung gian nước ngoài.
  • Khái niệm trách nhiệm pháp lý: Tác giả tiếp cận thuật ngữ theo nghĩa rộng (vinculum juris - liên hệ, ràng buộc pháp lý): trách nhiệm pháp lý là bổn phận, nghĩa vụ mà chủ thể buộc phải làm hoặc bảo đảm thực hiện theo quy định pháp luật và thỏa thuận hợp đồng nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, không chỉ giới hạn ở chế tài hay hậu quả bất lợi khi vi phạm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp luật chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để đánh giá tài liệu, phân tích quy định pháp luật và tổng hợp các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong chỉnh thể hệ thống pháp luật Việt Nam (Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Hành chính, Luật Doanh nghiệp) và pháp luật quốc tế.
  • Phương pháp so sánh luật: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (Công ước ICRMW của Liên Hợp Quốc, các tiêu chuẩn của ILO) và kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia châu Á (Philippines, Thái Lan, Indonesia, Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc).
  • Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Đối chiếu các quy phạm thực định với số liệu thống kê, báo cáo thực thi của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý lao động ngoài nước giai đoạn 2013–2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này tổng kết lịch sử nghiên cứu về hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tại Việt Nam qua ba giai đoạn: hợp tác quốc tế về lao động (thập niên 1980), xuất khẩu lao động (thập niên 1990) và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (từ năm 2007 đến nay).

Chương 1 chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào cơ chế kinh tế và quản lý vĩ mô, thiếu chiều sâu lý luận về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này. Tác giả xác định cơ sở lý thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu làm nền tảng cho các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người đi lao động ở nước ngoài

Chương 2 làm rõ các khái niệm và đặc điểm cốt lõi:

  • Khái niệm người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa khái niệm "người lao động di trú" trong Công ước ICRMW của Liên Hợp Quốc (phân loại thành 8 nhóm nhân công: nhân công biên giới, nhân công mùa vụ, nhân công trên biển, nhân công lưu động, nhân công theo dự án, nhân công chuyên dụng, nhân công tự chủ...) với khái niệm "người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng" tại Luật năm 2006 và Luật năm 2020. Pháp luật Việt Nam giới hạn đối tượng là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, cư trú tại Việt Nam và đi làm việc theo hợp đồng xác định.
  • Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp dịch vụ: Doanh nghiệp dịch vụ là thực thể kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, có ba đặc điểm chính:
    1. Chức năng chính là thực hiện chuỗi quy trình cung ứng dịch vụ đưa người lao động đi nước ngoài (từ tìm kiếm thị trường, tuyển chọn, đào tạo định hướng, quản lý đến hỗ trợ hồi hương).
    2. Tham gia mua bán dịch vụ gắn với thị trường lao động quốc tế mang tính cạnh tranh toàn cầu.
    3. Mối quan hệ liên đới phức tạp với nhiều chủ thể: Nhà nước, người lao động, đối tác tiếp nhận nước ngoài và các tổ chức trung gian.
  • Đặc điểm trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp:
    1. Do Nhà nước quy định và điều chỉnh bởi nhiều ngành luật (Dân sự, Lao động, Hành chính, Hình sự) cùng các điều ước quốc tế.
    2. Gắn liền xuyên suốt toàn bộ quy trình dịch vụ đưa người lao động đi nước ngoài.
    3. Chịu sự tác động trực tiếp của cả thể chế pháp lý Việt Nam và thể chế nước tiếp nhận lao động.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát khung pháp lý của Philippines (cơ quan POEA quản lý tập trung và mô hình bảo hiểm trách nhiệm liên đới), Thái Lan, Indonesia, Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc để rút ra các bài học về bảo vệ người lao động và chuẩn hóa hoạt động doanh nghiệp trung gian.

Chương 3: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài và thực tiễn thực hiện

Chương này đánh giá các quy phạm thực định và kết quả áp dụng trên thực tế:

  • Thực trạng quy định pháp luật: Phân tích ba nhóm quy định: (i) trách nhiệm đối với người lao động; (ii) trách nhiệm đối với tổ chức, thành lập, hoạt động và quản lý nhà nước; (iii) trách nhiệm đối với bên nước ngoài tiếp nhận và tổ chức trung gian.
  • Thực tiễn thực hiện pháp luật:
    • Kết quả: Thị trường lao động ngoài nước mở rộng liên tục, quy mô xuất khẩu đạt kỷ lục gần 150.000 người vào năm 2022. Hệ thống doanh nghiệp phát triển lên hơn 500 đơn vị, năng lực đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ được chuẩn hóa hơn theo Luật năm 2020.
    • Bất cập, hạn chế: Tình trạng một số doanh nghiệp vi phạm hợp đồng, thu phí dịch vụ vượt mức quy định, buông lỏng quản lý người lao động sau khi xuất cảnh; hiện tượng lao động trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp; thủ tục hành chính trong cấp đổi giấy phép và chuẩn hóa hợp đồng còn rườm rà, mang tính hành chính hóa; chế tài xử lý vi phạm hành chính chưa đủ tính răn đe.

Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài

Chương 4 đưa ra các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Yêu cầu hoàn thiện: Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; bảo đảm tính công khai, minh bạch.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng giữa doanh nghiệp và người lao động, chuẩn hóa nội dung tiền ký quỹ và cơ chế giải quyết tranh chấp.
    • Rà soát các quy định về điều kiện cấp phép, duy trì điều kiện hoạt động và trách nhiệm báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước.
    • Rõ ràng hóa trách nhiệm của doanh nghiệp đối với đối tác tiếp nhận và các tổ chức trung gian nước ngoài.
    • Sửa đổi, bổ sung các quy định về xử lý vi phạm hành chính, tăng mức phạt tiền và áp dụng triệt để hình phạt bổ sung đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:
    • Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020.
    • Tăng cường phối hợp giữa doanh nghiệp dịch vụ và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhằm chuẩn hóa nguồn nhân lực đầu vào.
    • Nâng cao năng lực giám sát, hỗ trợ và chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu lao động của cơ quan quản lý nhà nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm rõ nội hàm khái niệm trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài dưới góc độ Luật Kinh tế dựa trên học thuyết về thị trường sức lao động và lý thuyết bất cân xứng.
  • Xây dựng khung lý thuyết đa diện về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ trong mối quan hệ ba bên: với người lao động, với Nhà nước và với các đối tác/trung gian nước ngoài.
  • Phân tích và đúc kết kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia châu Á có nét tương đồng về cung ứng lao động để cung cấp bài học so sánh luật học cho Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện bức tranh thực thi pháp luật trong giai đoạn từ khi ban hành Luật năm 2006 đến thời điểm có hiệu lực của Luật năm 2020, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến các vi phạm phổ biến trong hoạt động dịch vụ đưa lao động ra nước ngoài.
  • Cung cấp hệ thống giải pháp lập pháp và hành pháp đồng bộ, từ hoàn thiện các điều kiện kinh doanh, hợp đồng dịch vụ, quy định xử phạt vi phạm hành chính đến tăng cường kết nối giáo dục nghề nghiệp và quản lý nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung phân tích số liệu thực tiễn và quy định pháp luật chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2013 đến thời điểm năm 2022–2023. Do Luật năm 2020 mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022, dữ liệu thực tiễn về việc áp dụng đầy đủ các văn bản hướng dẫn dưới luật của Luật năm 2020 chưa có chuỗi thời gian đủ dài để kiểm chứng toàn diện mọi tác động kinh tế - xã hội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu đánh giá tác động định lượng dài hạn của các chính sách mới trong Luật năm 2020 đối với cơ cấu thị trường và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dịch vụ.
    • Nghiên cứu sâu hơn về trách nhiệm liên đới và cơ chế giải quyết tranh chấp lao động ngoài nước thông qua các cơ quan trọng tài hoặc tòa án quốc tế trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học và khuyến nghị chính sách phục vụ công tác rà soát, sửa đổi văn bản hướng dẫn thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020, nâng cao hiệu lực thanh tra, giám sát thị trường xuất khẩu lao động.
  • Đối với doanh nghiệp dịch vụ: Giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nhận diện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý, rủi ro pháp lý trong các hợp đồng cung ứng và quản lý người lao động, từ đó chuẩn hóa quy trình hoạt động phù hợp với chuẩn mực trong nước và quốc tế.
  • Đối với hoạt động nghiên cứu, giảng dạy: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động và quan hệ lao động quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp theo hướng nào?

Luận án tiếp cận khái niệm trách nhiệm pháp lý theo hướng rộng (vinculum juris - sự ràng buộc pháp lý): trách nhiệm pháp lý là toàn bộ các nghĩa vụ, bổn phận và cam kết mà doanh nghiệp dịch vụ buộc phải thực hiện theo quy định pháp luật và thỏa thuận hợp đồng đối với người lao động, Nhà nước và đối tác nước ngoài nhằm bảo đảm quyền lợi các bên, không thu hẹp ở khía cạnh gánh chịu chế tài khi vi phạm.

2. Sự khác biệt cơ bản giữa khái niệm người lao động di trú theo Công ước quốc tế ICRMW và Luật Việt Nam là gì?

Công ước ICRMW phân chia người lao động di trú thành nhiều nhóm đa dạng (lao động biên giới, mùa vụ, công trình trên biển, lưu động, theo dự án, chuyên dụng, tự chủ...), áp dụng cho mọi cá nhân di trú làm việc có trả lương tại quốc gia họ không phải là công dân. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam (Luật năm 2006 và Luật năm 2020) giới hạn ở thuật ngữ "người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng", đòi hỏi điều kiện là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, cư trú tại Việt Nam và đi làm việc theo các hình thức hợp đồng luật định.

3. Doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi nước ngoài có những đặc thù gì so với doanh nghiệp thông thường?

Doanh nghiệp này hoạt động trong ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện với 3 đặc thù: (i) thực hiện trọn gói chuỗi hoạt động từ tuyển chọn, đào tạo đến quản lý lao động ở nước ngoài và hỗ trợ hồi hương; (ii) tham gia vào thị trường mua bán dịch vụ sức lao động quốc tế chịu cạnh tranh toàn cầu; (iii) tham gia vào quan hệ pháp lý phức tạp liên đới giữa Nhà nước, người lao động, đối tác sử dụng lao động nước ngoài và các tổ chức trung gian.

4. Luận án đã tham khảo kinh nghiệm pháp luật của những quốc gia nào?

Luận án nghiên cứu và phân tích kinh nghiệm pháp lý của 6 quốc gia châu Á gồm: Philippines, Thái Lan, Indonesia, Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc để đúc kết bài học quản lý và hoàn thiện trách nhiệm pháp lý cho doanh nghiệp dịch vụ tại Việt Nam.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phạm Anh Thắng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài dưới góc độ chuyên ngành Luật Kinh tế. Bằng việc kết hợp nghiên cứu lý thuyết bất cân xứng, kinh nghiệm quốc tế và phân tích thực tiễn áp dụng từ Luật năm 2006 đến Luật năm 2020, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong quy định pháp luật cũng như khâu tổ chức thực hiện. Các giải pháp và phương hướng hoàn thiện do luận án đề xuất là nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho công tác lập pháp, quản lý nhà nước và hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ trong lĩnh vực lao động ngoài nước.