CHƯƠNG 1 CHIẾN TRƯỜNG B2 - ĐỊA BÀN TÁC CHIẾN CHÍNH CỦA CÁC SƯ DOAN CHỦ LUC MIEN VÀ NHỮNG DON VỊ TIEN THAN CUA CAC SƯ DOAN CHỦ LUC MIEN 1. CHIEN TRƯỜNG B2 - DIA BAN TAC CHIẾN CHÍNH CUA CÁC SƯ DOAN CHU LUC MIEN TRONG NHUNG NAM KHANG CHIEN CHONG MY Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, chiến trường miễn Nam còn được gọi là Chiến trường B. Nhưng tùy theo vị trí chiến lược của từng khu vực và yêu cầu của cuộc chiến tranh trong từng giai đoạn mà Chiến trường B được chia ra như sau: — Chiến trường B1: Quân khu 5 (thành lập ngày 27-7-196 1). — Chiến trường B2: Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên (thành lập ngày 27-7-1961).
— Chiến trường B3: Tây Nguyên (thành lập ngày 1-5-1964). Chiến trường B4: Quân khu Trị — Thiên (thành lập tháng 4-1966). — Chiến trường B5: Bắc Quảng Trị (thành lập ngày 6-12-1967). Trong 5 chiến trường trên, Chiến trường B2 có vị trí đặc biệt quan trong vì là nơi Mỹ - ngụy đặt cơ quan đầu não của chúng, là nơi có một bộ phận lớn lực lượng quân sự Mỹ và Sài Gòn đặt bản doanh là khu vực mạnh nhất, then chốt nhất trong hình thái chiến lược “mạnh ở hai đầu” của quân đội Sài Gòn trong giai đoạn “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Chiến trường B2 cũng được các cơ quan lãnh đạo TƯ xác định là Chiến trường điểm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng được Chiến trường B2 đồng nghĩa với việc đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn. Chiến trường B2 có vị trí địa lý thuận lợi về giao thông quốc tế, có hai mùa mưa nắng rõ rệt, khí hậu tương đối ổn định, ôn hoà, là nơi diễn ra quy luật chiến tranh theo mùa Về vị trí địa lý. Chiến trường B2 có ba mặt giáp biển (biển Đông và vịnh Thái Lan), nằm trên đường hàng hải quốc tế từ Âu sang Á và ngược lại. Phía tây, tây bắc Chiến trường B2 giáp Chiến trường K (Campuchia) (chiếm % chiều dài biên giới Việt Nam — Campuchia).
Phía bắc và đông bắc Chiến trường B2 giáp Chiến trường B3 (Tây Nguyên) và Chiến trường BI (Quân khu 5). Về phía đông, đông nam, nam và tây nam, Chiến trường B2 giáp biển Đông và Vịnh Thái Lan. Hải đảo chủ yếu có quan đảo Côn Sơn, đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu. Vẻ diện tích, Chiến trường B2 có diện tích khoảng 85.000km”, tương đương 1⁄2 diện tích toàn miền Nam, bằng 1⁄4 diện tích cả nước, trong đó Nam Bộ khoảng 64.000 km”, Cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên khoảng 21.
Về địa hình, Chiến trường B2 có địa hình khá đa dạng: rừng núi, déng bằng, đô thị, hải đảo. Chiến trường B2 có hệ thống sông ngòi, kênh rạch và đường bộ xuyên qua nhiều tỉnh, nối thông từ phía tây ra biển: nối liền miền Đông Nam Bộ (Quân khu 7) với đồng bằng sông Cửu Long (Quân khu 8, Quân khu 9); nối liền miền Đông Nam Bộ (Quân khu 7) với khu vực cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên (Quân khu 6). Riêng hệ thống sông ngòi ở miền Đông Nam Bộ và miễn Tây Nam Bộ có tổng chiều dài là 2.393 km và tổng chiéu dài của hệ thống kênh rạch là 2.390km, trong đó riêng các kênh đào có tổng chiều dai 1. Vẻ thời tiết, Chiến trường B2 có hai mùa mưa nắng rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 cho đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 năm trước cho đến tháng 4 năm sau.
Khí hậu, thời tiết trên Chiến trường B2 tương đối ổn định, ôn hoà, không có những biến đổi lớn, ít thiên tai (sóng thin , động đất, bão lớn.), thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Vào mùa mưa, những cơn mưa tầm tã kéo dai làm nước sông, suối dâng cao, làm cho việc cơ động cả đường bộ, đường thủy lẫn đường không đều gặp khó khăn. Đây cũng là mùa nước nổi. lũ lụt thường xảy ra ở các lưu vực sông Đồng Nai, sông Tiền, sông Hậu, có lúc kéo dai hàng tháng.
Đặc biệt là ở lưu vực sông Tiền, dòng sông tiếp nhận đến 70% lượng nước của sông Mêkông. Do đó, trong điều kiện sử dụng những phương tiện chiến tranh giữa thế kỷ XX, việc hành quân tác chiến và tiếp tế hậu cần vào mùa mưa của quân giải phóng lẫn quân Mỹ và Sài Gòn đều bị hạn chế. Vì vậy, trên Chiến trường B2 thường diễn ra quy luật chiến tranh theo mùa. Cả lực lượng vũ trang cách mạng lẫn quân Mỹ và Sài Gòn đều tổ chức đánh lớn vào mùa khô.
Còn vào mùa mua, lực lượng vũ trang cách mạng dồn sức cho công tác xây dựng lực lượng, huấn luyện, dưỡng quân và học tập chính trị, chứ ít tiến hành các chiến dịch tiến công lớn. Về hệ thống giao thông - vận tải, Chiến trường B2 có tiểm năng phát triển mạnh do thuận lợi về vi trí dia lý, do địa hình chủ yếu là đồng bằng. không có núi cao hiểm trở. Tuy nhiên trong những năm 1955 — 197 do tình hình chiến sự ác liệt và kéo dài, nên hệ thống giao thông - vận tải trên Chiến trường B2 không phát triển được, nhất là hệ thống đường sắt.
Về hệ thống đường bộ. trong những năm 1955 - 1975, trên Chiến trường B2 có 4 loại chính: quốc lộ, liên tỉnh lộ, tỉnh lộ, đường liên quận. Ngoài ra, còn có loại đường khác: Xa lộ, đường nội thành, nội thị và hương lộ. Riêng về các quốc lộ, trong những năm 1955 — 1975, trên Chiến trường B2 có 10 quốc lộ đi qua, đó là các quốc lộ: - Quốc 16 1 (Lang Sơn — Hà Nội - Sài Gòn — Phômpênh); - Quốc lộ 11 (Phan Rang - Đà Lat): - Quốc lộ 12 (Phan Thiết - Đà Lạt); - Quốc lộ 13 (Sài Gòn - Phú Cường - An Lộc - Lộc Ninh); - Quốc lộ 14 (An Lộc — Phước Bình - Tam Kỳ); - Quốc lộ 15 (Biên Hòa - Vũng Tau); - Quốc lộ 16 (Sài Gòn - Tân An - Mỹ Tho - Cần Thơ - Vị Thanh - Cà Mau)(Sau này, quốc lộ 16 đổi gọi là quốc lộ 4); - Quốc lộ 17 (Hà Tiên - biên giới Việt Nam - Campuchia): - Quốc lộ 20 (Long Khánh — Đà Lạt); - Quốc lộ 22 (Thị trấn Gò Dầu - Thị xã Tây Ninh).
Trong 10 quốc lộ trên, thì 4 quốc lộ 1, 13, 14, 4 là quan trọng nhất cả về kinh tế, chính trị lẫn quân sự. Riêng về các xa lộ, trong những năm 1955 — 1975, trên Chiến trường B2 có 2 xa lộ quan trọng: xa lộ Biên Hòa (Sài Gòn - Thủ Đức - Biên Hòa) và xa lộ Đại Hàn (xa lộ Biên Hòa — Dĩ An — Hóc Môn — Bình Chánh - quốc lộ 4). Những xa lộ này, không chỉ đơn thuần có giá trị về mặt kinh tế, mà thực chất đây là những tuyến giao thông đường bộ nối liền các căn cứ quân sự phòng thủ bảo vệ Sài Gòn — Gia Định, các trường huấn luyện của Mỹ và Sài Gòn từ hướng đông - đông bắc Sài Gòn sang hướng bắc — tây bắc Sài Gòn xuống hướng tây - tây nam Sài Gon (Sân bay quân sự Biên Hòa, Tiểu khu Biên Hòa, Tổng kho Long Bình, Trường sĩ quan bộ binh Thủ Đức, Tân cảng, Căn cứ Thủy quân lục chiến Sóng Thần, Trung tâm huấn luyện Quang Trung, Sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, Căn cứ Dù Hoàng Hoa Thám, Tiểu khu Hậu Nghĩa, Tiểu khu Long An. Về hệ thống đường sắt, trong những năm 1955 - 1975, trên Chiến trường B2 có 3 tuyến đường sắt: - Sài Gòn - Đông Hà (Sài Gòn - Ninh Hòa - Tuy Hòa - Quảng Ngãi - Đông Ha); - Sài Gòn - Mỹ Tho (Sài Gòn — Tân An - Mỹ Tho); - Sài Gòn — Lộc Ninh (Sài Gòn — Phú Cường — An Lộc — Lộc Ninh).
Về hệ thống đường hàng không, trong những năm 1955 — 1975, trên Chiến trường B2 có 2 loại sân bay lớn: Sân bay dân dụng và sân bay quân sự. Về sân bay dan dụng, trên Chiến trường B2 có 3 sân bay lớn: Tân Sơn Nhất (Gia Định), Can Thơ (Phong Dinh), Liên Khương (Tuyên Đức). Về sân bay quân sự. trên Chiến trường B2 có 4 sân bay lớn: Tân Sơn Nhất (Gia Định), Biên Hoà (Biên Hoà), Trà Nóc (Phong Dinh), Thành Sơn (Ninh Thuận).
Ngoài ra, ở mỗi tỉnh đều có những sân bay loại nhỏ, giành cho các loại máy bay trực thăng, máy bay khu trục loại vừa và nhỏ hoạt động. - Sân bay quân sự Tân Sơn Nhất (Gia Định) là căn cứ của Sư đoàn 5 không quân ngụy Sài Gòn. Day là một sư đoàn không quân trực thuộc BTTM quân đội Sài Gòn. - Sân bay quân sự Biên Hoà (Biên Hoà) là căn cứ của Sư đoàn 3 không quân Sài Gòn.
Đây là một sư đoàn không quân trực thuộc Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, Quân khu Ill Sài Gòn. - Sân bay quân sự Trà Nóc (Phong Dinh) là căn cứ của Sư đoàn 4 không quân Sài Gòn. Đây là một sư đoàn không quân trực thuộc Bộ tư lệnh Quân đoàn 4, Quân khu IV Sài Gòn. - Sân bay quân sự Thành Sơn (Ninh Thuận) là căn cứ của Sư đoàn 6 không quan Sài Gon.
Đây là một su đoàn không quân trực thuộc BTTM Sài Gon. Về hệ thống đường biển, trong những năm 1955 — 1975, trên Chiến trường B2 có 2 loại cảng đường biển lớn: cảng dân dụng và quân cảng. VỀ cảng dân dụng, trên Chiến trường B2 có 3 cảng lớn: cảng Sài Gòn (Sài Gòn), cảng Vũng Tàu (Phước Tuy) và cảng Nha Trang (Khánh Hoà). Về quân cang, trên Chiến trường B2 có 3 cảng lớn: quân cảng Nhà Bè (Gia Định), quân cảng Vũng Tàu (Phước Tuy) và quân cảng Cam Ranh (Khánh Hoà).
Những cảng này trong những năm 1955 — 1975 đều do Mỹ và Sài Gòn sử dụng và khai thác, có những cing do Mỹ xây dựng trong những năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, như quân cảng Cam Ranh (Khánh Hoa). Ngoài ra, còn phải kể đến hệ thống bến tiếp nhận tàu biển loại nhỏ của lực lượng vũ trang cách mạng, nằm trong các vùng giải phóng, các khu căn cứ vùng ven biển, để tiếp nhận vũ khí, đạn dược của TƯ chuyển vào theo đường biển (Đường 759, còn gọi là Đường Hồ Chí Minh trên biển) do Đoàn 125 hải quân QĐNDVN đảm nhiệm. Các bến tiếp nhận chính nằm ở căn cứ U Minh thuộc tỉnh Cà Mau (An Xuyên), căn cứ Thạnh Phú thuộc tỉnh Bến Tre (Kiến Hoà). Về hệ thống đường sông, trong những năm 1955 - 1975, trên Chiến trường B2 có 3 cảng đường sông lớn: cảng Cát Lái (Gia Định), quân cảng Sài Gòn (còn gọi là Tân Cảng)(Gia Định) và cảng Cin Thơ (Phong Dinh).