Luận án Tiến sĩ Kinh tế: quốc tế tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Luận án tiến sĩ kinh tế quốc tế tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của phục vụ n

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

224
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Định Nghĩa Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp tại nước chủ nhà, nhằm tạo ra giá trị kinh tế bền vững. FDI bao gồm vốn cổ phần, lợi nhuận tái đầu tư và các khoản vay liên công ty. Đây là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế toàn cầu, góp phần nâng cao năng suất lao động, chuyển giao công nghệ và tạo việc làm cho các nước đang phát triển.

1.1. Các Hình Thức FDI Chính

FDI có ba hình thức chính: thành lập doanh nghiệp con ở nước ngoài, mua cổ phần và sáp nhập liên doanh. Mỗi hình thức mang những đặc điểm riêng biệt và tác động khác nhau đến nền kinh tế chủ nhà, từ việc tạo thêm vốn đến chuyển giao kỹ thuật và quản lý.

1.2. Phân Biệt FDI với Các Loại Đầu Tư Khác

Khác với đầu tư danh mục hay đầu tư gián tiếp, FDI yêu cầu nhà đầu tư có quyền kiểm soát và quản lý trực tiếp tài sản. Điều này tạo nên mối liên hệ lâu dài và cam kết đầu tư sâu hơn vào nước chủ nhà, không chỉ tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn.

II. Tác Động Kinh Tế Của FDI Tới Các Nước Chủ Nhà

Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những tác động tích cực đáng kể cho kinh tế các nước đang phát triển. FDI cung cấp vốn nước ngoài, tạo doanh thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế, tạo ra hàng triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp. Bên cạnh đó, FDI thúc đẩy cạnh tranh thị trường, khuyến khích cải cách kinh tế, nâng cao kỹ năng lao động và hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần đáng kể vào tăng trưởng GDP và phát triển bền vững.

2.1. Tác Động Tích Cực Về Vốn và Tuyển Dụng

FDI bổ sung vốn ngoại tệ, giải quyết tình trạng thiếu vốn địa phương. Các doanh nghiệp FDI tạo ra việc làm chất lượng cao cho công nhân, nâng cao mức lương trung bình. Tính đến năm 2023, FDI đã tạo ra hàng triệu việc làm toàn cầu, đặc biệt tại các nước Đông Nam Á.

2.2. Chuyển Giao Công Nghệ và Nâng Cao Kỹ Năng

FDI mang theo công nghệ tiên tiến, kiến thức quản lý hiện đại và phương pháp sản xuất hiệu quả. Điều này giúp các doanh nghiệp địa phương học hỏi, nâng cao năng suất. Nhân lực địa phương được đào tạo theo chuẩn quốc tế, tạo lợi thế cạnh tranh lâu dài cho nền kinh tế.

III. Những Thách Thức và Tác Động Tiêu Cực Của FDI

Mặc dù mang lại những lợi ích, FDI cũng phát sinh nhiều thách thức. Các nước chủ nhà có thể phụ thuộc quá mức vào vốn nước ngoài, gây tổn hại tới doanh nghiệp địa phương. Sự uốn cong chính sách để thu hút FDI đôi khi dẫn đến việc giảm chuẩn bảo vệ lao động và môi trường. Ngoài ra, FDI có thể kéo theo suy thoái tài chính khi rút vốn đột ngột, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường địa phương và lao động.

3.1. Phụ Thuộc Kinh Tế và Mất Lợi Nhuận

Phụ thuộc quá mức vào FDI làm giảm khả năng tự chủ kinh tế. Lợi nhuận thường được chuyển ra nước ngoài, làm mất cơ hội tích lũy vốn nội địa. Các nước chủ nhà cần cân bằng giữa mở cửa kinh tế và bảo vệ lợi ích kinh tế quốc gia.

3.2. Tác Động Môi Trường và Xã Hội

Một số FDI trong lĩnh vực khai thác tài nguyên gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các quy định lao động địa phương có thể bị xem nhẹ để thu hút đầu tư. Cộng đồng địa phương đôi khi bị ảnh hưởng âm tính, khiến cần có các chính sách giám sát chặt chẽ hơn.

IV. Chiến Lược Tối Ưu Hóa Lợi Ích FDI Cho Phát Triển Bền Vững

Để tối đa hóa lợi ích từ FDI, các nước cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng, minh bạch và thu hút các dự án FDI chất lượng cao. Chính sách cần tập trung vào chuyển giao công nghệ, phát triển kỹ năng lao động địa phương, và bảo vệ môi trường. Các nước nên hạn chế đấu thầu giữa các địa phương, thay vào đó tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục và sức khỏe. Kết hợp FDI với các chính sách phát triển nội địa sẽ tạo ra sự phát triển kinh tế bền vững lâu dài.

4.1. Xây Dựng Khung Pháp Lý Hiệu Quả

Cần thiết lập các quy định rõ ràng về quyền sở hữu, bảo vệ đầu tư và giải quyết tranh chấp. Các chính sách thuế công bằng, thủ tục hành chính đơn giản hóa sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Minh bạch trong các giao dịch và tuân thủ luật quốc tế là yếu tố then chốt.

4.2. Liên Kết FDI với Phát Triển Nội Địa

Khuyến khích doanh nghiệp FDI phối hợp với các doanh nghiệp địa phương, tạo chuỗi cung ứng địa phương. Yêu cầu chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực địa phương. Ưu tiên FDI vào các lĩnh vực chiến lược như công nghệ, năng lượng tái tạo, để tạo phát triển bền vững lâu dài.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới, đặc biệt kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Các tài liệu lý thuyết và thực nghiệm về FDI đã phát triển đáng kể trong năm thập kỷ qua. Hầu hết các tài liệu ban đầu, có từ những năm 1970, đều quan tâm đến lý do tại sao các doanh nghiệp chuyển hoạt động sản xuất xuyên biên giới và loại hình doanh nghiệp nào sẽ lựa chọn làm như vậy.

Một nghiên cứu điển hình trong số đó là lý thuyết chiết trung của Dunning (1981) với mục tiêu nhằm xác định các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định tiến hành hoạt động FDI của một doanh nghiệp. Từ cuối những năm 1970 đến giữa những năm 1990, các nghiên cứu về FDI đã có những bước phát triển đáng kể khi bắt đầu áp dụng các mô hình kinh tế và thương mại quốc tế với giả định thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Trong mô hình FDI theo chiều dọc của Helpman (1984), sản xuất được phân chia thành các giai đoạn và phân tán qua biên giới để tận dụng lợi thế cạnh tranh về các nhân tố sản xuất của từng khu vực địa lý. Ngược lại, mô hình FDI theo chiều ngang của Helpman và cộng sự (2004) tập trung vào lựa chọn của doanh nghiệp giữa phục vụ thị trường nước ngoài thông qua FDI hay thông qua xuất khẩu, tùy thuộc vào chi phí đối với từng hình thức thâm nhập.

Các lý thuyết và mô hình thực nghiệp liên quan đến chiến lược tích hợp giữa FDI chiều ngang và FDI chiều dọc tiếp tục được phát triển trong nhiều nghiên cứu sau này (Yeaple, 2003; Grossman và Rossi-Hansberg, 2008). Nghiên cứu về các yếu tố quyết định FDI được coi như một nhánh nghiên cứu điển hình trong những năm 2000. Hàng loạt các nghiên cứu được thực hiện ở cấp độ đa quốc gia, cấp độ song phương, cấp độ ngành hoặc cấp độ doanh nghiệp, để tìm hiểu về các động cơ phía sau của các dòng vốn FDI. Những yếu tố quyết định FDI đã được đề cập cho đến hiện nay bao gồm: các biến số kinh tế vĩ mô (Tocar, 2018), quy mô thị trường (Sharma và Bandara, 2010), yếu tố chính trị - thể chế, cơ sở hạ tầng, công nghệ (Gauselmann và cộng sự, 2011), yếu tố con người (Noorbakhsh và Paloni, 2001), yếu tố không gian (Hayakawa và cộng sự, 2013), yếu tố văn hóa (Bhardwaj và cộng sự, 2007), vấn đề hội nhập pháp lý (Siegel và cộng sự, 2013), và đặc tính của doanh nghiệp (Crespo và Fontoura, 2007).

9 Một nhánh nghiên cứu quan trọng khác về FDI là tìm hiểu về các tác động của FDI tới các quốc gia, đặt biệt là dưới góc độ quốc gia nhận đầu tư. Do hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành tại quốc gia nhận đầu tư nên các tác động của FDI đối với các nước nhận vốn được đặc biệt quan tâm với hàng loạt các tài liệu lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm. Phân tích chính thức về tác động vĩ mô của FDI trong kinh tế học tân cổ điển bao gồm phân tích của MacDougal (1960), người đã sử dụng phân tích tương quan tĩnh và cân bằng từng phần để chỉ ra rằng lợi ích mà quốc gia nhận đầu tư thu được chủ yếu từ thuế và lợi nhuận nước ngoài. FDI cũng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của nước nhận đầu tư theo nhiều cách khác nhau bao gồm chuyển giao công nghệ, tạo việc làm, gia tăng năng suất lao động và cải thiện cơ sở hạ tầng (Caves, 1974; Findlay, 1978; Baldwin, 1995; Büthe & Milner, 2008; Kurtishi-Kastrati, 2013).

Mức lương thực cũng chịu sự ảnh hưởng từ FDI cho dù còn nhiều ý kiến tranh luận về mức độ và cơ chế tác động (Gopinath và Chen, 2003). Nhiều bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy tác động tích cực của FDI tới cán cân thanh toán quốc tế nhưng tác động tới dòng thương mại có thể bổ sung hoặc thay thế (Kojima, 1973; Moosa, 2002). FDI cũng có tác động tới sự thay đổi cấu trúc trong tổ chức ngành và tổ chức kinh tế. Markusen và Venables (1997) đưa ra ý tưởng rằng các tác động của FDI tới quốc gia nhận đầu tư có thể được chuyển tải thông qua nhiều kênh khác nhau và tập trung khai thác hai kênh chính là kênh cạnh tranh và kênh liên kết giữa MNC và doanh nghiệp nội địa.

Một số bằng chứng ủng hộ ý kiến cho rằng FDI thúc đẩy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp địa phương (Blomstrom, 1994; Smarzynska, 2002), trong khi một số khác cho rằng FDI có thể lấn át các doanh nghiệp địa phương và có tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế (Hanson, 2001; Greenwood, 2002). Theo Hirschman (1958), những tác động tích cực hoặc tiêu cực tiềm tàng đối với nền kinh tế cũng có thể phụ thuộc vào bản chất của lĩnh vực nhận đầu tư. Tóm lại, các nghiên cứu về FDI dù đã được thực hiện từ rất lâu những vẫn nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả ngày nay do những tác động đa chiều mà FDI mang lại cho các chủ thể liên quan. Bên cạnh những tác động tới những biến số kinh tế truyền thống, lợi ích của FDI còn được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh mới nhưng vô cùng quan trọng trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, ví dụ như tác động của FDI đối với chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển đổi số, và tăng trưởng bền vững (Ayamba và cộng sự, 2020; Mukhtorovna, 2021).

Nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu và đo lường sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của quốc gia Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về GVC được tổng hợp ở Bảng 1.1: Tổng quan nghiên cứu về các chỉ số đo lường sự tham gia GVC Chỉ số Định nghĩa Các nghiên cứu sử dụng Giá trị tham Giá trị gia tăng của đầu vào Hummels và cộng sự (2001), gia GVC theo nhập khẩu trong giá trị Koopman và cộng sự (2010), Banga liên kết ngược hàng hóa xuất khẩu (giá trị (2013), Kowalski và cộng sự (2015), tuyệt đối hoặc tỷ lệ % trên Cadestin và cộng sự (2016), Balié và tổng kim ngạch xuất khẩu cộng sự (2017), Tinta (2017), World của quốc gia tham chiếu) Bank (2020), Okah Efogo và cộng sự (2021), Adarov và Stehrer (2021), Fernandes và cộng sự (2022), Nguyen và Truong (2022). Giá trị tham Giá trị gia tăng trong nước Hummels và cộng sự (2001), gia GVC theo trong giá trị hàng hóa xuất Koopman và cộng sự (2010), Banga liên kết xuôi khẩu của nước ngoài (giá trị (2013), Kowalski và cộng sự (2015), tuyệt đối hoặc tỷ lệ % trên Cadestin và cộng sự (2016), Balié và tổng kim ngạch xuất khẩu cộng sự (2017), World Bank (2020), của quốc gia tham chiếu) Okah Efogo và cộng sự (2021), Adarov và Stehrer (2021), Fernandes và cộng sự (2022), Nguyen và Truong (2022) Tổng giá trị Giá trị tham gia GVC theo UNCTAD (2013), Buelens và Tirpák tham gia GVC liên kết ngược + Giá trị (2017), Kersan-Skabic (2019), Okah tham gia GVC theo liên kết Efogo và cộng sự (2021), Jabri và xuôi Kissami (2021), Adarov và Stehrer (2021) Cường độ Tổng tỷ lệ tham gia GVC / Qiang và cộng sự (2021), Amador và tham gia GVC Tổng kim ngạch xuất nhập Cabral (2016), Timmer và cộng sự khẩu (2016) Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 11 Khái niệm chuỗi giá trị lần đầu tiên được đề cập bởi Porter (1985) và tiếp tục được nhiều học giả khai thác và mở rộng để phù hợp hơn với bối cảnh kinh doanh toàn cầu. Thuật ngữ chuỗi giá trị toàn cầu được ra đời với nhiều quan điểm lý thuyết bổ sung lẫn nhau vào những năm 2000 (Hummels và cộng sự, 2001; Gereffi và cộng sự, 2001; Kaplinsky và Morris, 2002; Coe và Hess, 2007; Baldwin và Lopez-Gonzalez, 2013). Các hình thái tham gia GVC ngày càng được xem xét nhiều hơn trong các tài liệu lý thuyết và thực nghiệm.

Một quốc gia có thể tham gia vào GVC dưới hình thức thực hiện một công đoạn trong quy trình sản xuất tuần tự, hoặc lắp ráp các thành phần từ nhiều nguồn mà không theo trình tự cụ thể (Baldwin và Venables, 2013). Để phục vụ cho những phân tích định lượng về GVC, một số chỉ tiêu đánh giá sự tham gia GVC của các quốc gia được đề xuất. Trong đó, sự tham gia GVC theo chiều dọc được đo lường bằng tỷ lệ tham gia GVC theo liên kết ngược và liên kết xuôi, tổng tỷ lệ tham gia GVC theo cả hai chiều liên kết hoặc cường độ tham gia GVC. Phương pháp đo lường sự tham gia GVC theo chiều dọc được phát triển bởi Koopman và cộng sự (2010) và hiện đang được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu về GVC.

OECD (2013) tiếp tục hoàn thiện các chỉ số đo lường này bằng việc phát hành bộ cơ sở dữ liệu TiVA 2013.1 tổng hợp một số nghiên cứu sử dụng chỉ số đánh giá sự tham gia GVC của các quốc gia theo cách tiếp cận này. Dựa trên bộ dữ liệu TiVA 2013 của OECD – WTO, Banga (2013) đưa ra kết luận rằng trong trường hợp của các nước công nghiệp hóa như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Anh, liên kết xuôi mạnh hơn nhiều so với liên kết ngược, cho thấy lợi ích giá trị gia tăng ròng từ việc liên kết vào GVC. Ngược lại, các nước đang phát triển như Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Philippines thường có giá trị liên kết xuôi thấp hơn so với liên kết ngược trong GVC. Tác giả lập luận rằng việc gia tăng thương mại có thể trở nên vô ích nếu không tạo ra các mối liên kết với hoạt động sản xuất và tạo ra giá trị gia tăng trong nước.

Do đó, điều quan trọng là phải “liên kết một cách hữu ích vào các GVC” trong các ngành mà quốc gia xác định có thể thu được giá trị gia tăng nội địa dương. Cadestin và cộng sự (2016) nghiên cứu sự tham gia GVC của sáu quốc gia Mỹ Latinh trong bộ dữ liệu TiVA 2015 của OECD và nhận thấy rằng các quốc gia Mỹ Latinh có chỉ số liên kết ngược cao thường có xu hướng liên kết xuôi thấp và ngược lại, thể hiện sự chuyên môn hóa ở các phân khúc hạ nguồn hoặc thượng nguồn của GVC. 12 Ví dụ, một quốc gia chuyên lắp ráp và chế biến các sản phẩm trung gian và sau đó xuất khẩu như Mexico hoặc Costa Rica, sẽ có chỉ số liên kết ngược cao nhưng chỉ số liên kết xuôi thấp. Ngược lại, một quốc gia chủ yếu cung cấp các sản phẩm trung gian cho một nhà lắp ráp - chẳng hạn như hoạt động xuất khẩu đồng và các vật liệu làm từ đồng của Chile, sẽ có chỉ số tham gia liên kết xuôi lớn hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ