CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới, đặc biệt kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Các tài liệu lý thuyết và thực nghiệm về FDI đã phát triển đáng kể trong năm thập kỷ qua. Hầu hết các tài liệu ban đầu, có từ những năm 1970, đều quan tâm đến lý do tại sao các doanh nghiệp chuyển hoạt động sản xuất xuyên biên giới và loại hình doanh nghiệp nào sẽ lựa chọn làm như vậy.
Một nghiên cứu điển hình trong số đó là lý thuyết chiết trung của Dunning (1981) với mục tiêu nhằm xác định các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định tiến hành hoạt động FDI của một doanh nghiệp. Từ cuối những năm 1970 đến giữa những năm 1990, các nghiên cứu về FDI đã có những bước phát triển đáng kể khi bắt đầu áp dụng các mô hình kinh tế và thương mại quốc tế với giả định thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Trong mô hình FDI theo chiều dọc của Helpman (1984), sản xuất được phân chia thành các giai đoạn và phân tán qua biên giới để tận dụng lợi thế cạnh tranh về các nhân tố sản xuất của từng khu vực địa lý. Ngược lại, mô hình FDI theo chiều ngang của Helpman và cộng sự (2004) tập trung vào lựa chọn của doanh nghiệp giữa phục vụ thị trường nước ngoài thông qua FDI hay thông qua xuất khẩu, tùy thuộc vào chi phí đối với từng hình thức thâm nhập.
Các lý thuyết và mô hình thực nghiệp liên quan đến chiến lược tích hợp giữa FDI chiều ngang và FDI chiều dọc tiếp tục được phát triển trong nhiều nghiên cứu sau này (Yeaple, 2003; Grossman và Rossi-Hansberg, 2008). Nghiên cứu về các yếu tố quyết định FDI được coi như một nhánh nghiên cứu điển hình trong những năm 2000. Hàng loạt các nghiên cứu được thực hiện ở cấp độ đa quốc gia, cấp độ song phương, cấp độ ngành hoặc cấp độ doanh nghiệp, để tìm hiểu về các động cơ phía sau của các dòng vốn FDI. Những yếu tố quyết định FDI đã được đề cập cho đến hiện nay bao gồm: các biến số kinh tế vĩ mô (Tocar, 2018), quy mô thị trường (Sharma và Bandara, 2010), yếu tố chính trị - thể chế, cơ sở hạ tầng, công nghệ (Gauselmann và cộng sự, 2011), yếu tố con người (Noorbakhsh và Paloni, 2001), yếu tố không gian (Hayakawa và cộng sự, 2013), yếu tố văn hóa (Bhardwaj và cộng sự, 2007), vấn đề hội nhập pháp lý (Siegel và cộng sự, 2013), và đặc tính của doanh nghiệp (Crespo và Fontoura, 2007).
9 Một nhánh nghiên cứu quan trọng khác về FDI là tìm hiểu về các tác động của FDI tới các quốc gia, đặt biệt là dưới góc độ quốc gia nhận đầu tư. Do hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành tại quốc gia nhận đầu tư nên các tác động của FDI đối với các nước nhận vốn được đặc biệt quan tâm với hàng loạt các tài liệu lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm. Phân tích chính thức về tác động vĩ mô của FDI trong kinh tế học tân cổ điển bao gồm phân tích của MacDougal (1960), người đã sử dụng phân tích tương quan tĩnh và cân bằng từng phần để chỉ ra rằng lợi ích mà quốc gia nhận đầu tư thu được chủ yếu từ thuế và lợi nhuận nước ngoài. FDI cũng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của nước nhận đầu tư theo nhiều cách khác nhau bao gồm chuyển giao công nghệ, tạo việc làm, gia tăng năng suất lao động và cải thiện cơ sở hạ tầng (Caves, 1974; Findlay, 1978; Baldwin, 1995; Büthe & Milner, 2008; Kurtishi-Kastrati, 2013).
Mức lương thực cũng chịu sự ảnh hưởng từ FDI cho dù còn nhiều ý kiến tranh luận về mức độ và cơ chế tác động (Gopinath và Chen, 2003). Nhiều bằng chứng thực nghiệm cũng cho thấy tác động tích cực của FDI tới cán cân thanh toán quốc tế nhưng tác động tới dòng thương mại có thể bổ sung hoặc thay thế (Kojima, 1973; Moosa, 2002). FDI cũng có tác động tới sự thay đổi cấu trúc trong tổ chức ngành và tổ chức kinh tế. Markusen và Venables (1997) đưa ra ý tưởng rằng các tác động của FDI tới quốc gia nhận đầu tư có thể được chuyển tải thông qua nhiều kênh khác nhau và tập trung khai thác hai kênh chính là kênh cạnh tranh và kênh liên kết giữa MNC và doanh nghiệp nội địa.
Một số bằng chứng ủng hộ ý kiến cho rằng FDI thúc đẩy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp địa phương (Blomstrom, 1994; Smarzynska, 2002), trong khi một số khác cho rằng FDI có thể lấn át các doanh nghiệp địa phương và có tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế (Hanson, 2001; Greenwood, 2002). Theo Hirschman (1958), những tác động tích cực hoặc tiêu cực tiềm tàng đối với nền kinh tế cũng có thể phụ thuộc vào bản chất của lĩnh vực nhận đầu tư. Tóm lại, các nghiên cứu về FDI dù đã được thực hiện từ rất lâu những vẫn nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả ngày nay do những tác động đa chiều mà FDI mang lại cho các chủ thể liên quan. Bên cạnh những tác động tới những biến số kinh tế truyền thống, lợi ích của FDI còn được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh mới nhưng vô cùng quan trọng trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, ví dụ như tác động của FDI đối với chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển đổi số, và tăng trưởng bền vững (Ayamba và cộng sự, 2020; Mukhtorovna, 2021).
Nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu và đo lường sự tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của quốc gia Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về GVC được tổng hợp ở Bảng 1.1: Tổng quan nghiên cứu về các chỉ số đo lường sự tham gia GVC Chỉ số Định nghĩa Các nghiên cứu sử dụng Giá trị tham Giá trị gia tăng của đầu vào Hummels và cộng sự (2001), gia GVC theo nhập khẩu trong giá trị Koopman và cộng sự (2010), Banga liên kết ngược hàng hóa xuất khẩu (giá trị (2013), Kowalski và cộng sự (2015), tuyệt đối hoặc tỷ lệ % trên Cadestin và cộng sự (2016), Balié và tổng kim ngạch xuất khẩu cộng sự (2017), Tinta (2017), World của quốc gia tham chiếu) Bank (2020), Okah Efogo và cộng sự (2021), Adarov và Stehrer (2021), Fernandes và cộng sự (2022), Nguyen và Truong (2022). Giá trị tham Giá trị gia tăng trong nước Hummels và cộng sự (2001), gia GVC theo trong giá trị hàng hóa xuất Koopman và cộng sự (2010), Banga liên kết xuôi khẩu của nước ngoài (giá trị (2013), Kowalski và cộng sự (2015), tuyệt đối hoặc tỷ lệ % trên Cadestin và cộng sự (2016), Balié và tổng kim ngạch xuất khẩu cộng sự (2017), World Bank (2020), của quốc gia tham chiếu) Okah Efogo và cộng sự (2021), Adarov và Stehrer (2021), Fernandes và cộng sự (2022), Nguyen và Truong (2022) Tổng giá trị Giá trị tham gia GVC theo UNCTAD (2013), Buelens và Tirpák tham gia GVC liên kết ngược + Giá trị (2017), Kersan-Skabic (2019), Okah tham gia GVC theo liên kết Efogo và cộng sự (2021), Jabri và xuôi Kissami (2021), Adarov và Stehrer (2021) Cường độ Tổng tỷ lệ tham gia GVC / Qiang và cộng sự (2021), Amador và tham gia GVC Tổng kim ngạch xuất nhập Cabral (2016), Timmer và cộng sự khẩu (2016) Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 11 Khái niệm chuỗi giá trị lần đầu tiên được đề cập bởi Porter (1985) và tiếp tục được nhiều học giả khai thác và mở rộng để phù hợp hơn với bối cảnh kinh doanh toàn cầu. Thuật ngữ chuỗi giá trị toàn cầu được ra đời với nhiều quan điểm lý thuyết bổ sung lẫn nhau vào những năm 2000 (Hummels và cộng sự, 2001; Gereffi và cộng sự, 2001; Kaplinsky và Morris, 2002; Coe và Hess, 2007; Baldwin và Lopez-Gonzalez, 2013). Các hình thái tham gia GVC ngày càng được xem xét nhiều hơn trong các tài liệu lý thuyết và thực nghiệm.
Một quốc gia có thể tham gia vào GVC dưới hình thức thực hiện một công đoạn trong quy trình sản xuất tuần tự, hoặc lắp ráp các thành phần từ nhiều nguồn mà không theo trình tự cụ thể (Baldwin và Venables, 2013). Để phục vụ cho những phân tích định lượng về GVC, một số chỉ tiêu đánh giá sự tham gia GVC của các quốc gia được đề xuất. Trong đó, sự tham gia GVC theo chiều dọc được đo lường bằng tỷ lệ tham gia GVC theo liên kết ngược và liên kết xuôi, tổng tỷ lệ tham gia GVC theo cả hai chiều liên kết hoặc cường độ tham gia GVC. Phương pháp đo lường sự tham gia GVC theo chiều dọc được phát triển bởi Koopman và cộng sự (2010) và hiện đang được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu về GVC.
OECD (2013) tiếp tục hoàn thiện các chỉ số đo lường này bằng việc phát hành bộ cơ sở dữ liệu TiVA 2013.1 tổng hợp một số nghiên cứu sử dụng chỉ số đánh giá sự tham gia GVC của các quốc gia theo cách tiếp cận này. Dựa trên bộ dữ liệu TiVA 2013 của OECD – WTO, Banga (2013) đưa ra kết luận rằng trong trường hợp của các nước công nghiệp hóa như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Anh, liên kết xuôi mạnh hơn nhiều so với liên kết ngược, cho thấy lợi ích giá trị gia tăng ròng từ việc liên kết vào GVC. Ngược lại, các nước đang phát triển như Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia và Philippines thường có giá trị liên kết xuôi thấp hơn so với liên kết ngược trong GVC. Tác giả lập luận rằng việc gia tăng thương mại có thể trở nên vô ích nếu không tạo ra các mối liên kết với hoạt động sản xuất và tạo ra giá trị gia tăng trong nước.
Do đó, điều quan trọng là phải “liên kết một cách hữu ích vào các GVC” trong các ngành mà quốc gia xác định có thể thu được giá trị gia tăng nội địa dương. Cadestin và cộng sự (2016) nghiên cứu sự tham gia GVC của sáu quốc gia Mỹ Latinh trong bộ dữ liệu TiVA 2015 của OECD và nhận thấy rằng các quốc gia Mỹ Latinh có chỉ số liên kết ngược cao thường có xu hướng liên kết xuôi thấp và ngược lại, thể hiện sự chuyên môn hóa ở các phân khúc hạ nguồn hoặc thượng nguồn của GVC. 12 Ví dụ, một quốc gia chuyên lắp ráp và chế biến các sản phẩm trung gian và sau đó xuất khẩu như Mexico hoặc Costa Rica, sẽ có chỉ số liên kết ngược cao nhưng chỉ số liên kết xuôi thấp. Ngược lại, một quốc gia chủ yếu cung cấp các sản phẩm trung gian cho một nhà lắp ráp - chẳng hạn như hoạt động xuất khẩu đồng và các vật liệu làm từ đồng của Chile, sẽ có chỉ số tham gia liên kết xuôi lớn hơn.