MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây nông nghiệp là ngành có những lợi thế nhất định, có tính liên kết cao với nhiều ngành kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và rộng như hiện nay. Nông nghiệp chính là nguồn cung cấp đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến, nông nghiệp cũng sử dụng sản phẩm của các ngành khác như: nhiên liệu, hoá chất, máy móc, năng lượng, tín dụng.Nông nghiệp Việt Nam chính là nguồn cung cấp an ninh lương thực, thu hút và tạo ra việc làm cho người lao động, là một nhân tố quan trọng đóng góp một phần quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, đồng thời giúp duy trì và ổn định được nền kinh tế. Sau hơn 30 năm đổi mới, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt giúp cho đất nước chuyển mình từ một nước thiếu ăn thành nước xuất khẩu về hàng hóa nông sản. Tuy nhiên ngành nông nghiệp Việt Nam đang chịu nhiều “khó khăn, thách thức ” về chất lượng nông sản cũng như sự phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập thế giới và sự biến đổi khí hậu.
Mở rộng hội nhập quốc tế sâu và rộng là một trong những vấn đề hết sức cần thiết và là nhu cầu thiết yếu đối với hầu hết các nước trong thời đại ngày nay trong đó có Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng. Trong xu thế hội nhập như hiện nay ngành nông nghiệp phải cạnh tranh với rất nhiều thách thức, khó khăn, mức độ cạnh tranh cao trước hết là trong khu vực ASEAN (AEC). AEC đòi hỏi cắt giảm thuế quan nhanh hơn và một số các sản phẩm nông nghiệp được duy trì thuế suất 5%. Chính vì thế mỗi quốc gia(trong đó có Việt Nam) không thể tự mình giải quyết một số vấn đề nhất định.
Vì vậy phải liên kết, hội nhập với các quốc gia khác thì mới có thể giải quyết các vấn đề chung và cùng nhau phát triển. Nếu không đi theo xu thế chung của thế giới, các quốc gia sẽ tự biến mình thành lạc hậu, tụt lùi so với sự tiến bộ từng ngày của thế giới. 1 Luận án tiến sĩ Kinh tế 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một quốc gia có lợi thế về sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm nông sản có giá trị kinh tế cao.
Với dân số nông thôn là “60,8 triệu người chiếm 64,9% tổng dân số” (Tổng cục thống kê, 2017). Nước ta có nhiều mặt hàng kim ngạch xuất khẩu sang các nước trong khu vực và trên thế giới như: gạo, cofe, hạt tiêu, điều, chè. Theo thống kê của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT, 2018), “giá trị xuất khẩu rau quả tháng 10.2018 ước đạt 331 triệu USD. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Trong 9 tháng năm 2018, xuất khẩu rau quả sang thị trường này đạt 2,2 tỷ USD, tăng 10,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 74% thị phần. Một số thị trường khác cũng có giá trị xuất khẩu rau quả tăng mạnh là Thái Lan (tăng 35%), Úc (tăng 31,6%), Mỹ (tăng 30,8%) và Hàn Quốc (tăng 24,2%)”. Việt Nam đồng thời nằm trong cộng đồng kinh tế ASEAN, là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO.đó chính là những cơ hội cho ngành nông nghiệp hội nhập quốc tế, sẽ có được một số các chính sách ưu đãi về thuế quan mà cộng đồng kinh tế ASEAN dành cho, từ đó nhằm thúc đẩy giá trị xuất khẩu hàng hóa nông sản của Việt Nam sang các nước khác. Năm 2018 tổng sản phẩm trong nước GDP tăng 7,08%%, Trong mức tăng 7,08% đó, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đã có sự tăng trưởng đáng kể với mức tăng 3,67% (Tổng cục thống kê,2018).
Trên thực tế khi tham gia vào hội nhập quốc tế nông nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thách thức: sản xuất nhỏ lẻ, thu nhập thấp, rủi ro cao, khả năng chống đỡ kém, tỷ lệ thương mại thấp, tiếp cận thông tin yếu, chưa liên kết được vào chuỗi từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, chưa theo kịp với tốc độ phát triển của hội nhập quốc tế về tiêu chuẩn, chất lượng nông sản.Nguyên bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát trong bài phát biểu tháng 1/2015 cho biết: “Nông dân rất cố gắng, năng suất nhiều nơi cao nhưng cung ứng đầu vào, chất lượng, phân phối và tiêu thụ chưa theo kịp nhu cầu nên giá trị trong chuỗi kinh doanh còn thấp. Vai trò của doanh nghiệp vì thế 2 Luận án tiến sĩ Kinh tế hết sức quan trọng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chính là tạo điều kiện cho nền nông nghiệp gắn kết với thị trường chặt chẽ hơn”. Việt Nam đang là thành viên của cộng đồng kinh tế ASEAN(AEC), đàm phán thành công hiệp định thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương CPTPP, gia nhập AFTA….Tham gia hội nhập vào bối cảnh toàn cầu như hiện nay đã tạo cho nông nghiệpViệt Nam rất nhiều các cơ hội mới: mức độ tiêu thụ hàng hóa được tăng lên, tạo điều kiện thu hút được vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài, thúc đẩy nền kinh tế phát triển tốt hơn nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng kinh tế của mình, làm tăng thêm xu hướng hội nhập toàn cầu, nâng cao được đời sống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó hội nhập quốc tế cũng có một số các tác động tiêu cực đối với nông nghiệp Việt Nam như: sự cạnh tranh khốc liệt hơn nên dẫn đến một số doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp làm ăn kém hiệu quả hơn, có nguy cơ phá sản, từ đó chính phủ có thể mất đi một nguồn ngân sách từ thuế.
Hơn nữa sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn chỉ ở mức manh mún, nhỏ lẻ. Chính vì vậy nó cũng là một rào cản lớn trong con đường hội nhập. Ngoài ra một bất cập nữa ngành nông nghiệp đang gặp phải đó là sự thiếu thông tin về hội nhập. Khi thông tin bị thiếu sẽ làm mất đi nhiều cơ hội cho các địa phương sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp(trong đó có Thái Bình) và các doanh nghiệp nông nghiệp.
Khi thuế suất nhập khẩu không còn là rào cản thì hàng rào an toàn thực phẩm sẽ được các nước dựng lên, sự cạnh tranh sẽ trở thành gay gắt hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh mới hiện nay, việc thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân có vai trò hết sức cấp bách và cần thiết. Chỉ có liên kết mới có thể giúp nông nghiệp Việt Nam cạnh tranh được với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chỉ có liên kết với giúp được doanh nghiệp chủ động được nguồn lực đầu vào mà không phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, chỉ có liên kết mới giúp cho nông dân không bị ép giá, phá giá và đảm bảo nguồn tiêu thụ lâu dài.
Thái Bình với vị trí địa lý đặc biệt (là tỉnh đồng bằng duy nhất không có đồi núi), thích hợp cho việc sản xuất nông nghiệp và ngành sản xuất trồng trọt 3 Luận án tiến sĩ Kinh tế là chủ yếu, chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong phát triển nông nghiệp tỉnh (trên 50%), “diện tích cây lương thực năm 2017 khoảng 171,9 nghìn ha, trong đó diện tích cây lúa là 158,7 nghìn ha” (Tổng cục thống kê,2017). Đặc biệt, với thế mạnh chủ lực về ngành trồng trọt, sản lượng lương thực trung bình trên “1 triệu tấn/năm, năng suất lúa 2017 đạt trên 59,4 tạ/ha/năm” (Tổng cục thống kê, 2017), tỉnh Thái Bình đặc biệt quan tâm đến các mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa hàng hóa cho người dân. Cụ thể, Thái Bình tiếp tục duy trì mô hình thí điểm theo liên kết doanh nghiệp - hộ kinh doanh - nông dân và liên kết doanh nghiệp - HTX - nông dân, trong đó các doanh nghiệp có một vị trí quan trọng. Quyết định 686/QĐ-UBND, ngày 10/4/2015 của UBND tỉnh Thái Bình về kế hoạch hành động cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cho tỉnh Thái Bình.
Sở Nông nghiệp tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị trong ngành phối hợp với các huyện, thành phố quy hoạch vùng sản xuất đối với một số các cây trồng chủ lực của tỉnh như: Lúa đến năm 2020 diện tích còn 153.000 ha/năm, quy hoạch vùng sản xuất lúa giống khoảng 3.000 ha (đáp ứng cho nhu cầu lúa giống của tỉnh và 20% vùng ĐBSH); lúa thương phẩm có 150.000 ha, trong đó nhóm lúa có chất lượng cao đáp ứng cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu chiếm 70% tổng diện tích; nhóm năng suất cao, chất lượng trung bình phục vụ chăn nuôi và chế biến chiếm 25% tổng diện tích. Quy hoạch thành các cánh đồng lớn 15. Khoai tây từ 5.000 ha chủ yếu trên đất 2 vụ lúa; trong đó khoai tây xuân 500 ha. Quy hoạch vùng chuyên canh khoai tây đạt trên 20 ha/vùng khoảng 2.
Rau, quả diện tích 32.000 ha, trong đó diện tích chuyên canh rau 2.000 ha, quy hoạch vùng sản xuất rau, quả có giá trị với quy mô trên 10 ha/vùng khoảng 3. Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân tại tỉnh Thái Bình còn rất nhiều hạn chế. Việc thực hiện liên kết còn diễn ra khá lỏng lẻo và chưa có sự ràng buộc cao về mặt pháp lý. Hậu quả nhiều hợp đồng liên kết bị phá vỡ.
Tại Thái Bình, phát triển ngành trồng trọt vẫn 4 Luận án tiến sĩ Kinh tế còn độc canh, manh mún, đối mặt với nhiều thách thức: “sản xuất hàng hoá còn đạt ở trình độ thấp, tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thiếu vốn, thói quen canh tác truyền thống, thiếu kinh nghiệm sản xuất, chưa hình thành lên một mô hình phát triển kinh tế ổn định và bền vững, đặc biệt trong khâu chế biến và bảo quản còn hết sức lạc hậu”. Chính vì thế, hiệu quả sản xuất, đóng góp giá trị đối với các sản phẩm nông nghiệp còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa thể cạnh tranh cao đối với thị trường quốc tế. Thậm chí khi nông dân đã tham gia liên kết nhưng lợi ích lại không cao, không đạt được như mong muốn và kỳ vọng. Nông dân vẫn không được ở thế chủ động, nguyên vật liệu đầu vào hoàn toàn bị lệ thuộc, không tìm được đầu ra cho sản phẩm của mình dù sản phẩm đó được áp dụng đúng quy trình công nghệ, sản xuất an toàn, họ bị thương lái ép giá, phá giá.
Hệ thống kỹ thuật, vật tư, cơ sở vật chất trong nông nghiệp chưa thể đáp ứng đúng yêu cầu của ngành.