Luận án tiến sĩ kinh tế liên kết doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt tỉnh thái bình trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Luận án tiến sĩ phân tích mối liên kết doanh nghiệp - nông dân phát triển trồng trọt tại Thái Bình trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

204
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT, LIÊN KẾT DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

2.1. Nông nghiệp và các vấn đề về liên kết trong phát triển nông nghiệp

2.2. Một số khái niệm

2.2.1. Khái niệm về hộ nông dân

2.2.2. Khái niệm doanh nghiệp

2.2.3. Khái niệm ngành trồng trọt

2.2.4. Khái niệm về liên kết và liên kết kinh tế

2.3. Nội dung liên kết doanh nghiệp và nông dân trong phát triển sản xuất

2.3.1. Căn cứ vào các hình thức thỏa thuận

2.3.2. Căn cứ vào cách thức biểu hiện liên kết

2.4. Vai trò của liên kết trong phát triển nông nghiệp

2.4.1. Vai trò của liên kết, điều kiện thúc đẩy liên kết doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt

2.4.2. Vai trò của liên kết doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt

2.4.2.1. Đối với hộ nông dân
2.4.2.2. Đối với doanh nghiệp
2.4.2.3. Đối với nhà quản lý

2.5. Điều kiện hình thành liên kết doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt

2.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành liên kết doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt trong bối cảnh hội nhập

2.6.1. Các yếu tố bên trong

2.6.2. Các nhân tố tác động từ bên ngoài

2.7. Các chỉ tiêu phân tích và đánh giá quá trình thực hiện liên kết doanh nghiệp và nông dân

2.7.1. Các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân

2.7.2. Các chỉ tiêu phản ánh tình hình liên kết và kết quả thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong ngành trồng trọt

2.7.3. Các chỉ tiêu phản ánh tác động của tham gia liên kết

2.8. Kinh nghiệm thực tiễn và bài học đối với tỉnh Thái Bình

2.8.1. Kinh nghiệm quốc tế

2.8.1.1. Kinh nghiệm từ Trung Quốc
2.8.1.2. Kinh nghiệm từ Thái Lan

2.8.2. Kinh nghiệm trong nước

2.8.2.1. Kinh nghiệm “cánh đồng mẫu lớn” tại An Giang
2.8.2.2. Kinh nghiệm tại tỉnh Đồng Tháp
2.8.2.3. Kinh nghiệm tỉnh Ninh Bình

2.8.3. Bài học về liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân với tỉnh Thái Bình

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH TRỒNG TRỌT TỈNH THÁI BÌNH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

3.1. Tình hình phát triển ngành trồng trọt và quá trình hình thành liên kết doanh nghiệp và nông dân ở tỉnh Thái Bình

3.1.1. Giới thiệu sơ lược về tỉnh Thái Bình

3.2. Đánh giá lợi thế, khó khăn của tỉnh Thái Bình, các nhân tố ảnh hưởng trong thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân

3.2.1. Đánh giá lợi thế của tỉnh Thái Bình

3.2.2. Những khó khăn và rào cản

3.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện liên kết doanh nghiệp và nông dân tại tỉnh Thái Bình

3.3. Thực trạng liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt tỉnh Thái Bình trong thời gian vừa qua

3.3.1. Thực trạng liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân thời gian vừa qua ở tỉnh Thái Bình

3.3.2. Đánh giá các nhân tố tác động đến mức độ liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hội nhập quốc tế

3.3.3. Phân tích thống kê mô tả về thực trạng liên kết doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hội nhập quốc tế

3.3.3.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo
3.3.3.2. Phân tích Cronbach’s Alpha

3.3.4. Đánh giá thực trạng trong việc thực hiện liên kết doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt tại tỉnh Thái Bình

3.3.4.1. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện liên kết sản xuất

3.3.5. Bài học về liên kết doanh nghiệp và nông dân trong phát triển ngành trồng trọt tỉnh Thái Bình

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT HIỆU QUẢ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN TRONG PHÁT TRIỂN NGÀNH TRỒNG TRỌT Ở TỈNH THÁI BÌNH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

4.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước giai đoạn hiện nay

4.2. Quan điểm, mục tiêu về liên kết doanh nghiệp và nông dân để phát triển ngành trồng trọt tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

4.3. Một số giải pháp tăng cường liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp và nông dân trong phát triển ngành trồng trọt tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hội nhập

4.3.1. Một số giải pháp nhằm cải thiện môi trường chính sách, các thể chế liên quan đến liên kết chủ yếu tập trung vào quá trình tích tụ ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp

4.3.2. Giải pháp thúc đẩy phát triển mô hình chuỗi giá trị gia tăng

4.3.3. Một số giải pháp trọng tâm phát triển HTX nông nghiệp theo luật HTX 2012 trong thời gian tới

4.3.4. Một số giải pháp phát triển liên kết sản xuất

4.3.5. Kiến nghị và đề xuất

4.3.5.1. Về tập trung, tích tụ đất sản xuất nông nghiệp
4.3.5.2. Về phát triển liên kết sản xuất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ngành trồng trọt Thái Bình

Ngành trồng trọt tại tỉnh Thái Bình đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp của địa phương. Với diện tích đất nông nghiệp lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thái Bình đã phát triển mạnh mẽ các loại cây trồng chủ lực như lúa, ngô, và rau màu. Theo thống kê, diện tích cây lương thực năm 2017 đạt khoảng 171,9 nghìn ha, trong đó diện tích cây lúa là 158,7 nghìn ha. Sản lượng lương thực trung bình đạt trên 1 triệu tấn/năm, cho thấy tiềm năng lớn của ngành này. Tuy nhiên, ngành trồng trọt vẫn gặp nhiều thách thức như sản xuất manh mún, thiếu liên kết giữa doanh nghiệp nông nghiệpnông dân. Điều này dẫn đến việc khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản.

1.1. Tình hình phát triển ngành trồng trọt

Ngành trồng trọt tại Thái Bình đã có những bước tiến đáng kể trong những năm qua. Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa bền vững do nhiều yếu tố như biến đổi khí hậu, thị trường tiêu thụ không ổn định và sự cạnh tranh từ các tỉnh khác. Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm chưa đạt yêu cầu. Để phát triển bền vững, cần có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệpnông dân, nhằm tạo ra chuỗi giá trị nông sản hiệu quả hơn.

II. Vai trò của liên kết doanh nghiệp và nông dân

Liên kết giữa doanh nghiệpnông dân là yếu tố then chốt trong việc phát triển ngành trồng trọt tại Thái Bình. Sự liên kết này không chỉ giúp nông dân tiếp cận công nghệ mới mà còn tạo ra thị trường tiêu thụ ổn định cho sản phẩm nông nghiệp. Theo nghiên cứu, các mô hình liên kết như hợp tác xã và doanh nghiệp - nông dân đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, việc liên kết còn giúp nông dân giảm thiểu rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ, từ đó nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

2.1. Lợi ích của liên kết

Liên kết giữa doanh nghiệpnông dân mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Đầu tiên, nông dân có thể tiếp cận được các nguồn lực như giống cây trồng, phân bón và công nghệ sản xuất hiện đại. Thứ hai, doanh nghiệp có thể đảm bảo nguồn cung ổn định cho sản phẩm của mình, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Cuối cùng, sự liên kết này còn giúp cải thiện chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.

III. Thực trạng liên kết doanh nghiệp và nông dân tại Thái Bình

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng mối liên kết giữa doanh nghiệpnông dân, thực trạng hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều hợp đồng liên kết chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến tình trạng nông dân không nhận được lợi ích như mong đợi. Hơn nữa, việc thiếu thông tin và kỹ năng quản lý cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho mối liên kết này chưa phát huy hiệu quả. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự can thiệp từ chính quyền địa phương và các tổ chức hỗ trợ nông nghiệp.

3.1. Những khó khăn trong liên kết

Một trong những khó khăn lớn nhất trong việc liên kết giữa doanh nghiệpnông dân là sự thiếu tin tưởng lẫn nhau. Nông dân thường lo ngại về việc doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết, trong khi doanh nghiệp lại e ngại về chất lượng sản phẩm từ nông dân. Bên cạnh đó, việc thiếu các chính sách hỗ trợ và khung pháp lý rõ ràng cũng là rào cản lớn trong việc xây dựng mối liên kết bền vững. Cần có các giải pháp cụ thể để tăng cường sự tin tưởng và hợp tác giữa hai bên.

IV. Đề xuất giải pháp tăng cường liên kết

Để tăng cường liên kết giữa doanh nghiệpnông dân, cần có một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, chính quyền địa phương cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cho mô hình liên kết, bao gồm việc cung cấp thông tin, đào tạo kỹ năng cho nông dân và doanh nghiệp. Thứ hai, cần phát triển các mô hình hợp tác xã nông nghiệp, nơi mà nông dân có thể cùng nhau sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Cuối cùng, việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất và tiêu thụ cũng là một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả liên kết.

4.1. Chính sách hỗ trợ

Chính quyền cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho việc liên kết giữa doanh nghiệpnông dân. Các chính sách này có thể bao gồm việc cung cấp tín dụng ưu đãi cho nông dân tham gia liên kết, hỗ trợ đào tạo kỹ năng sản xuất và quản lý cho cả hai bên. Hơn nữa, cần có các chương trình khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, từ đó tạo ra mối liên kết bền vững và hiệu quả hơn.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây nông nghiệp là ngành có những lợi thế nhất định, có tính liên kết cao với nhiều ngành kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và rộng như hiện nay. Nông nghiệp chính là nguồn cung cấp đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến, nông nghiệp cũng sử dụng sản phẩm của các ngành khác như: nhiên liệu, hoá chất, máy móc, năng lượng, tín dụng.Nông nghiệp Việt Nam chính là nguồn cung cấp an ninh lương thực, thu hút và tạo ra việc làm cho người lao động, là một nhân tố quan trọng đóng góp một phần quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, đồng thời giúp duy trì và ổn định được nền kinh tế. Sau hơn 30 năm đổi mới, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt giúp cho đất nước chuyển mình từ một nước thiếu ăn thành nước xuất khẩu về hàng hóa nông sản. Tuy nhiên ngành nông nghiệp Việt Nam đang chịu nhiều “khó khăn, thách thức ” về chất lượng nông sản cũng như sự phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập thế giới và sự biến đổi khí hậu.

Mở rộng hội nhập quốc tế sâu và rộng là một trong những vấn đề hết sức cần thiết và là nhu cầu thiết yếu đối với hầu hết các nước trong thời đại ngày nay trong đó có Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng. Trong xu thế hội nhập như hiện nay ngành nông nghiệp phải cạnh tranh với rất nhiều thách thức, khó khăn, mức độ cạnh tranh cao trước hết là trong khu vực ASEAN (AEC). AEC đòi hỏi cắt giảm thuế quan nhanh hơn và một số các sản phẩm nông nghiệp được duy trì thuế suất 5%. Chính vì thế mỗi quốc gia(trong đó có Việt Nam) không thể tự mình giải quyết một số vấn đề nhất định.

Vì vậy phải liên kết, hội nhập với các quốc gia khác thì mới có thể giải quyết các vấn đề chung và cùng nhau phát triển. Nếu không đi theo xu thế chung của thế giới, các quốc gia sẽ tự biến mình thành lạc hậu, tụt lùi so với sự tiến bộ từng ngày của thế giới. 1 Luận án tiến sĩ Kinh tế 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một quốc gia có lợi thế về sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm nông sản có giá trị kinh tế cao.

Với dân số nông thôn là “60,8 triệu người chiếm 64,9% tổng dân số” (Tổng cục thống kê, 2017). Nước ta có nhiều mặt hàng kim ngạch xuất khẩu sang các nước trong khu vực và trên thế giới như: gạo, cofe, hạt tiêu, điều, chè. Theo thống kê của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT, 2018), “giá trị xuất khẩu rau quả tháng 10.2018 ước đạt 331 triệu USD. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

Trong 9 tháng năm 2018, xuất khẩu rau quả sang thị trường này đạt 2,2 tỷ USD, tăng 10,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 74% thị phần. Một số thị trường khác cũng có giá trị xuất khẩu rau quả tăng mạnh là Thái Lan (tăng 35%), Úc (tăng 31,6%), Mỹ (tăng 30,8%) và Hàn Quốc (tăng 24,2%)”. Việt Nam đồng thời nằm trong cộng đồng kinh tế ASEAN, là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO.đó chính là những cơ hội cho ngành nông nghiệp hội nhập quốc tế, sẽ có được một số các chính sách ưu đãi về thuế quan mà cộng đồng kinh tế ASEAN dành cho, từ đó nhằm thúc đẩy giá trị xuất khẩu hàng hóa nông sản của Việt Nam sang các nước khác. Năm 2018 tổng sản phẩm trong nước GDP tăng 7,08%%, Trong mức tăng 7,08% đó, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đã có sự tăng trưởng đáng kể với mức tăng 3,67% (Tổng cục thống kê,2018).

Trên thực tế khi tham gia vào hội nhập quốc tế nông nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thách thức: sản xuất nhỏ lẻ, thu nhập thấp, rủi ro cao, khả năng chống đỡ kém, tỷ lệ thương mại thấp, tiếp cận thông tin yếu, chưa liên kết được vào chuỗi từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, chưa theo kịp với tốc độ phát triển của hội nhập quốc tế về tiêu chuẩn, chất lượng nông sản.Nguyên bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát trong bài phát biểu tháng 1/2015 cho biết: “Nông dân rất cố gắng, năng suất nhiều nơi cao nhưng cung ứng đầu vào, chất lượng, phân phối và tiêu thụ chưa theo kịp nhu cầu nên giá trị trong chuỗi kinh doanh còn thấp. Vai trò của doanh nghiệp vì thế 2 Luận án tiến sĩ Kinh tế hết sức quan trọng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chính là tạo điều kiện cho nền nông nghiệp gắn kết với thị trường chặt chẽ hơn”. Việt Nam đang là thành viên của cộng đồng kinh tế ASEAN(AEC), đàm phán thành công hiệp định thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương CPTPP, gia nhập AFTA….Tham gia hội nhập vào bối cảnh toàn cầu như hiện nay đã tạo cho nông nghiệpViệt Nam rất nhiều các cơ hội mới: mức độ tiêu thụ hàng hóa được tăng lên, tạo điều kiện thu hút được vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài, thúc đẩy nền kinh tế phát triển tốt hơn nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng kinh tế của mình, làm tăng thêm xu hướng hội nhập toàn cầu, nâng cao được đời sống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó hội nhập quốc tế cũng có một số các tác động tiêu cực đối với nông nghiệp Việt Nam như: sự cạnh tranh khốc liệt hơn nên dẫn đến một số doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp làm ăn kém hiệu quả hơn, có nguy cơ phá sản, từ đó chính phủ có thể mất đi một nguồn ngân sách từ thuế.

Hơn nữa sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn chỉ ở mức manh mún, nhỏ lẻ. Chính vì vậy nó cũng là một rào cản lớn trong con đường hội nhập. Ngoài ra một bất cập nữa ngành nông nghiệp đang gặp phải đó là sự thiếu thông tin về hội nhập. Khi thông tin bị thiếu sẽ làm mất đi nhiều cơ hội cho các địa phương sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp(trong đó có Thái Bình) và các doanh nghiệp nông nghiệp.

Khi thuế suất nhập khẩu không còn là rào cản thì hàng rào an toàn thực phẩm sẽ được các nước dựng lên, sự cạnh tranh sẽ trở thành gay gắt hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh mới hiện nay, việc thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân có vai trò hết sức cấp bách và cần thiết. Chỉ có liên kết mới có thể giúp nông nghiệp Việt Nam cạnh tranh được với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chỉ có liên kết với giúp được doanh nghiệp chủ động được nguồn lực đầu vào mà không phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, chỉ có liên kết mới giúp cho nông dân không bị ép giá, phá giá và đảm bảo nguồn tiêu thụ lâu dài.

Thái Bình với vị trí địa lý đặc biệt (là tỉnh đồng bằng duy nhất không có đồi núi), thích hợp cho việc sản xuất nông nghiệp và ngành sản xuất trồng trọt 3 Luận án tiến sĩ Kinh tế là chủ yếu, chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong phát triển nông nghiệp tỉnh (trên 50%), “diện tích cây lương thực năm 2017 khoảng 171,9 nghìn ha, trong đó diện tích cây lúa là 158,7 nghìn ha” (Tổng cục thống kê,2017). Đặc biệt, với thế mạnh chủ lực về ngành trồng trọt, sản lượng lương thực trung bình trên “1 triệu tấn/năm, năng suất lúa 2017 đạt trên 59,4 tạ/ha/năm” (Tổng cục thống kê, 2017), tỉnh Thái Bình đặc biệt quan tâm đến các mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa hàng hóa cho người dân. Cụ thể, Thái Bình tiếp tục duy trì mô hình thí điểm theo liên kết doanh nghiệp - hộ kinh doanh - nông dân và liên kết doanh nghiệp - HTX - nông dân, trong đó các doanh nghiệp có một vị trí quan trọng. Quyết định 686/QĐ-UBND, ngày 10/4/2015 của UBND tỉnh Thái Bình về kế hoạch hành động cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cho tỉnh Thái Bình.

Sở Nông nghiệp tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị trong ngành phối hợp với các huyện, thành phố quy hoạch vùng sản xuất đối với một số các cây trồng chủ lực của tỉnh như: Lúa đến năm 2020 diện tích còn 153.000 ha/năm, quy hoạch vùng sản xuất lúa giống khoảng 3.000 ha (đáp ứng cho nhu cầu lúa giống của tỉnh và 20% vùng ĐBSH); lúa thương phẩm có 150.000 ha, trong đó nhóm lúa có chất lượng cao đáp ứng cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu chiếm 70% tổng diện tích; nhóm năng suất cao, chất lượng trung bình phục vụ chăn nuôi và chế biến chiếm 25% tổng diện tích. Quy hoạch thành các cánh đồng lớn 15. Khoai tây từ 5.000 ha chủ yếu trên đất 2 vụ lúa; trong đó khoai tây xuân 500 ha. Quy hoạch vùng chuyên canh khoai tây đạt trên 20 ha/vùng khoảng 2.

Rau, quả diện tích 32.000 ha, trong đó diện tích chuyên canh rau 2.000 ha, quy hoạch vùng sản xuất rau, quả có giá trị với quy mô trên 10 ha/vùng khoảng 3. Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân tại tỉnh Thái Bình còn rất nhiều hạn chế. Việc thực hiện liên kết còn diễn ra khá lỏng lẻo và chưa có sự ràng buộc cao về mặt pháp lý. Hậu quả nhiều hợp đồng liên kết bị phá vỡ.

Tại Thái Bình, phát triển ngành trồng trọt vẫn 4 Luận án tiến sĩ Kinh tế còn độc canh, manh mún, đối mặt với nhiều thách thức: “sản xuất hàng hoá còn đạt ở trình độ thấp, tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thiếu vốn, thói quen canh tác truyền thống, thiếu kinh nghiệm sản xuất, chưa hình thành lên một mô hình phát triển kinh tế ổn định và bền vững, đặc biệt trong khâu chế biến và bảo quản còn hết sức lạc hậu”. Chính vì thế, hiệu quả sản xuất, đóng góp giá trị đối với các sản phẩm nông nghiệp còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa thể cạnh tranh cao đối với thị trường quốc tế. Thậm chí khi nông dân đã tham gia liên kết nhưng lợi ích lại không cao, không đạt được như mong muốn và kỳ vọng. Nông dân vẫn không được ở thế chủ động, nguyên vật liệu đầu vào hoàn toàn bị lệ thuộc, không tìm được đầu ra cho sản phẩm của mình dù sản phẩm đó được áp dụng đúng quy trình công nghệ, sản xuất an toàn, họ bị thương lái ép giá, phá giá.

Hệ thống kỹ thuật, vật tư, cơ sở vật chất trong nông nghiệp chưa thể đáp ứng đúng yêu cầu của ngành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phát triển ngành trồng trọt Thái Bình: Liên kết doanh nghiệp và nông dân trong hội nhập quốc tế" đề cập đến tầm quan trọng của việc xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tác giả nhấn mạnh rằng sự hợp tác này không chỉ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp mà còn tạo ra cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế cho nông sản Thái Bình. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về các mô hình liên kết hiệu quả, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức phát triển bền vững trong ngành nông nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến nông nghiệp và quản lý tài nguyên, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện cư mgar tỉnh đắk lắk, nơi đề cập đến việc tối ưu hóa sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, bài viết Luận văn đánh giá khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt của dê ở hai công thức lai đực f1 f2 boer x bách thảo với cái địa phương bắc kạn sẽ cung cấp thông tin về các phương pháp chăn nuôi hiệu quả. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tại phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện duy tiên tỉnh hà nam, để nắm bắt các giải pháp cải thiện chất lượng trong lĩnh vực nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngành nông nghiệp và các thách thức hiện tại.