Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giao dịch dân sự có điều kiện Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về giao dịch dân sự có điều kiện Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giao dịch dân sự có điều kiện 8 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án 1. Một số công trình khoa học nước ngoài Giao dịch dân sự có điều kiện không được nghiên cứu rộng rãi ở các quốc gia. Vì vậy, rất ít công trình đề cập trực tiếp tới nội dung này.
Một số ít công trình có đề cập tới nghĩa vụ có điều kiện hoặc xác định điều kiện trong hợp đồng. Cụ thể: * Cuốn sách “Conditions in the Law of Contract”, Arthur L. Đây là một trong những cuốn sách có sự phân tích sâu về việc sử dụng thuật ngữ điều kiện trong luật hợp đồng, cụ thể: - Xác định từ “điều kiện” được sử dụng trong luật tài sản, trong luật hợp đồng và nó được sử dụng với nhiều cách hiểu khác nhau. Trong luật hợp đồng, từ “điều kiện” được sử dụng đồng nghĩa với nhiều thuật ngữ khác “term”, “provision” hoặc “clause”.
Và đối với hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau thì việc sử dụng từ “điều kiện” cũng được sử dụng với những từ khác nhau. “Điều kiện” có nghĩa là một sự kiện thực tế mà theo đó các quyền và nghĩa vụ của các bên bị phụ thuộc. Sự kiện thực tế đó có thể là hành động của một trong hai bên ký kết, hành động của bên thứ ba hoặc bất kỳ sự kiện nào khác phù hợp với cách hiểu này. - Điều kiện trong luật hợp đồng có thể phân ra làm ba loại: điều kiện tiên quyết, điều kiện sau đó và điều kiện đồng thời.
Một điều kiện tiên quyết là một sự kiện thực tế phải tồn tại trước sự tồn tại của một số quan hệ pháp lý mà các bên quan tâm. Các mối quan hệ cụ thể nhất thường là nhiệm vụ thực 9 hiện bởi một người hứa hẹn hoặc trách nhiệm bồi thường cho nhiệm vụ đã được thực hiện. Một điều kiện sau đó là một sự kiện thực tế gây ra việc chấm dứt một số quan hệ pháp lý trước đây mà các bên quan tâm. Điều kiện đồng thời được sử dụng trong rất nhiều hợp đồng song phương tạo ra các nhiệm vụ lẫn nhau đòi hỏi phải thực hiện đồng thời bởi hai bên.
Cuốn sách có sự làm rõ thuật ngữ “điều kiện” và “sự kiện. Đồng thời cuốn sách có sự phân tích về điều kiện áp dụng trong hợp đồng có điều kiện là gồm điều kiện phát sinh, thực hiện và huỷ bỏ. * Bài viết Conditional Sale Contracts in Indiana," Reeves, Ollie C. (1926) Indiana Law Journal: Vol.
Trong bài viết này, tác giả tập trung đi sâu phân tích một dạng hợp đồng mua bán có điều kiện của Indiana. Cụ thể trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá có điều kiện thì bên mua hoặc bên bán có quyền đưa ra điều kiện liên quan tới nghĩa vụ của các bên. *Cuốn sách “Soviet civil law”, O. Thuật ngữ mà cuốn sách đề cập tới là “giao dịch” mà không phải cụ thể là giao dịch dân sự.
Nội dung cuốn sách xác định giao dịch có điều kiện là một trong những giao dịch đặc biệt. - Giao dịch có điều kiện được xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận nhằm ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên vào một sự kiện hoặc tình huống có thể hoặc không thể xảy ra. - Điều kiện được áp dụng trong giao dịch có điều kiện này xuất phát từ một sự kiện tự nhiên hoặc một sự kiện khác. Điều kiện này có thể là điều kiện trì hoãn hoặc điều kiện hủy bỏ.
Nhờ có điều kiện này mà các giao dịch có điều kiện có thể được trì hoãn việc giao dịch bắt đầu có hiệu lực hoặc nhờ có 10 điều kiện này mà giao dịch có điều kiện có điều kiện thu hồi làm chấm dứt giao dịch. Cuốn sách đã đề cập tới khái niệm giao dịch có điều kiện như là một hợp đồng và xác định điều kiện trong giao dịch dân sự có điều kiện là sự kiện (trì hoãn hoặc huỷ bỏ). *Cuốn sách “Introduction to Business Law in Russia”, Vladimir Orlov, năm 2011. Trong cuốn sách cung cấp một cái nhìn toàn diện về luật kinh doanh ở Nga.
Cuốn sách đã trình bày hệ thống các quy định của pháp luật liên quan tới thuế, cạnh tranh, hợp đồng, sở hữu trí tuệ và các vấn đề khác. Trong đó, khi đề cập tới hợp đồng, tác giả cuốn sách cũng có sự phân tích về hợp đồng có điều kiện hay được gọi là giao dịch có điều kiện: - Hợp đồng có điều kiện được dựa trên các quy tắc liên quan đến các giao dịch có điều kiện được nêu trong Điều 157 của Bộ luật dân sự Nga và liên quan đến các điều kiện phát sinh hoặc huỷ bỏ. - Hợp đồng có điều kiện là một trong các giao dịch được quy định trong pháp luật của Nga, trong đó việc bắt đầu hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên ký kết được áp dụng phụ thuộc vào một sự kiện hoặc hành động của các bên ký hợp đồng, nhưng đôi khi cũng là của người thứ ba. - Sự kiện hoặc hành động được đề cập trong hợp đồng có điều kiện phải không được biết đối với các bên tham gia hợp đồng.
Cuốn sách xác định điều kiện trong hợp đồng có điều kiện không chỉ là sự kiện mà có thể là hành động của các bên hoặc hành động của bên thứ ba. Nhưng cuốn sách chưa lập luận lý giải vì sao điều kiện được áp dụng trong hợp đồng có điều kiện cần đáp ứng các điều kiện gì. *Bài báo Conditional contracts and caveatable interests: a mutual 11 exclusion? K-L Liew, Assistant Professor of Law, Bond University, Vol 14 No 1,1995. Tác giả bài báo có một số nhận định sau: - Hợp đồng có điều kiện không phải là hiếm trong các giao dịch thương mại.
Ví dụ, điều kiện có thể cung cấp rằng sẽ không có một hợp đồng ràng buộc cho đến khi có sự chấp thuận của bên thứ ba. Đây sẽ là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành hợp đồng. Ngược lại, một điều kiện có thể cung cấp rằng, mặc dù sẽ có một hợp đồng ràng buộc giữa các bên, việc thực hiện hợp đồng bởi một hoặc cả hai bên ký kết sẽ bị đình chỉ cho đến khi sự kiện có điều kiện được hoàn thành. Điều kiện là điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện hợp đồng ràng buộc.
Hợp đồng bán đất có điều kiện theo sự chấp thuận của một số cơ quan, tùy thuộc vào ý định trái ngược của các bên, thường thuộc loại sau. Điều này là do điều kiện được bao gồm như là kết quả của các quy định hoặc theo luật, và không bên nào trong hợp đồng có bất kỳ sự kiểm soát nào đối với việc thực hiện của nó. Các điều kiện như vậy có thể có dạng yêu cầu cho phê duyệt phân khu, thỏa thuận của chính phủ hoặc yêu cầu đăng ký. - Các hợp đồng có điều kiện đòi hỏi phải có sự chấp thuận của cơ quan quy hoạch đối với việc phân lô đất, hoặc sự đồng ý của bộ trưởng hoặc cơ quan cấp phép cho việc chuyển nhượng, là phổ biến.
Do đó, điều quan trọng là xác định xem người mua theo hợp đồng mua bán có điều kiện có thể bảo vệ bất kỳ lợi ích nào mà người đó có thể có trong tài sản trước khi đáp ứng điều kiện trước đó hay không. Nó đã được chỉ ra rằng có những nhà chức trách ở New South Wales và Tây Úc ủng hộ đề xuất rằng người mua trong những trường hợp này có một lợi ích đáng chú ý theo các hợp đồng có điều kiện hơn người mua. Cuốn sách cho thấy nếu một hợp đồng chuyển giao được thể hiện theo 12 sự đồng ý của chính phủ, hoặc sự đồng ý của bên thứ ba thì cũng được coi là hợp đồng có điều kiện. *Cuốn sách Contract as promise, a theory of contractual obligation, Charles Fried, Oxford University Press, second edition, 20151.
Cuốn sách đề cập tới hợp đồng có điều kiện được hiểu là hợp đồng gắn liền với lời hứa. Tác giả cuốn sách cho rằng: - Lời hứa – dưới dạng hợp đồng - về cơ bản, nghĩa là một người phải thực hiện lời hứa với người khác và người kia phải chấp nhận. Sự chấp nhận có thể được đảm bảo bởi bất kỳ hình thức thông thường nào. - Trường hợp lời hứa là có điều kiện, thì cho đến khi điều kiện được thực hiện bên A không bị ràng buộc thông qua quy định của pháp luật về nghĩa vụ của một lời hứa.
Một đề nghị không được chấp nhận có thể được rút lại bất cứ lúc nào. Cuốn sách có cách nhìn mới về hợp đồng có điều kiện như là một lời hứa. Vì vậy, thể hiện sự ràng buộc và trách nhiệm của các bên thông qua hợp đồng có điều kiện nên được xem xét. Bởi lúc này hợp đồng có điều kiện không đơn thuần là một hợp đồng thông thường.
*Bài báo Conditional contracts for the sale of land in Canada, Gwilym J. Bài viết đã nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng có điều kiện trong một hợp đồng cụ thể là hợp đồng bán đất. Tác giả đánh giá thông qua những vụ việc, bản án liên quan tới hợp đồng mua bán đất và có 1 https://books.vn/books?hl=vi&lr=&id=KM8YBwAAQBAJ&oi=fnd&pg=PP1 &dq=%09*Contract+as+promise,+a+theory+of+contractual+obligation,+Charles+Fried,+ Oxford+University+Press,+2015.&ots=rA8AtsTOE8&sig=Gzz4SLvSNOIebPEY8cBMi_ CC5us&redir_esc=y#v=onepage&q=*Contract%20as%20promise%2C%20a%20theory% 20of%20contractual%20obligation%2C%20Charles%20Fried%2C%20Oxford%20Univers ity%20Press%2C%202015.&f=false (trang 46-47) 13 những nhận định sau: - Hợp đồng có điều kiện là một hợp đồng trong đó lời hứa cuối cùng của một hoặc cả hai bên được thực hiện để phụ thuộc vào sự kiện xảy ra hoặc không xảy ra, hoặc sự tồn tại hoặc không tồn tại của một sự kiện cụ thể hoặc tình trạng nào đó. Điều kiện có thể và có nhiều hình thức.
- "Điều kiện" có thể có nghĩa là một sự kiện hoặc sự kiện mà theo đó một lời hứa sẽ phụ thuộc như thế nào, hoặc những từ trong hợp đồng cung cấp cho sự phụ thuộc đó. Đa phần các công trình nước ngoài được liệt kê ở trên cho rằng giao dịch được hiểu là hợp đồng và chủ yếu tập trung nghiên cứu về các điều kiện được xác lập trong giao dịch đó. Các công trình đều nhận định điều kiện được các bên xác lập là điều kiện xảy ra trong tương lai gần và việc xác định điều kiện trong hợp đồng được hiểu là thực hiện hợp đồng có điều kiện của các bên.