Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Giao dịch dân sự có điều kiện theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Phùng Bích Ngọc thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phùng Trung Tập tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2021), thuộc chuyên ngành Luật dân sự và Tố tụng Dân sự (mã số: 9 38 01 03).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Giao dịch dân sự là phương thức pháp lý nền tảng để các chủ thể tham gia giao lưu dân sự, xác lập quyền và nghĩa vụ. Dù Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã ghi nhận giao dịch dân sự có điều kiện, nhưng các điều khoản còn sơ sài, thiếu tính hệ thống và bộc lộ nhiều điểm mâu thuẫn với các quy định liên quan khác (như điều kiện có hiệu lực của giao dịch, thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, hợp đồng tặng cho có điều kiện). Pháp luật hiện hành thiếu vắng cơ chế bảo vệ bên yếu thế khi điều kiện hủy bỏ xảy ra hoặc khi giao dịch bị tuyên vô hiệu. Trên thực tế xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng thường xuyên lúng túng, nhầm lẫn giữa giao dịch dân sự có điều kiện với việc thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, thực hiện hợp đồng có điều kiện, hoặc nhầm lẫn giữa di chúc có điều kiện với việc giao nghĩa vụ cho người thừa kế. Các công trình công bố trước đây mới chỉ tiếp cận từng khía cạnh hẹp hoặc một số dạng hợp đồng cụ thể, chưa bao quát toàn diện cơ sở lý luận, thực trạng quy định và thực tiễn xét xử.

  • Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Mục đích: Nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận về giao dịch dân sự có điều kiện theo BLDS năm 2015, cung cấp cơ sở khoa học nhằm đánh giá sự phù hợp và bất cập của pháp luật hiện hành, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý tại Việt Nam.
    • Nhiệm vụ cụ thể:
      1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về giao dịch dân sự có điều kiện.
      2. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia.
      3. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và xây dựng các kiến nghị cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật dân sự về giao dịch dân sự có điều kiện.
  • Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu:

    • Câu hỏi nghiên cứu 1: Giao dịch dân sự có điều kiện là gì? Khái niệm giao dịch dân sự có điều kiện khác biệt như thế nào với thực hiện nghĩa vụ có điều kiện và hợp đồng có điều kiện? Đặc điểm của giao dịch dân sự có điều kiện khác gì so với giao dịch dân sự nói chung?
      • Giả thuyết nghiên cứu 1: Hiện tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về giao dịch dân sự có điều kiện, thực hiện nghĩa vụ có điều kiện và hợp đồng có điều kiện; cần nghiên cứu để xác định đúng bản chất pháp lý của giao dịch dân sự có điều kiện.
    • Câu hỏi nghiên cứu 2: Những nội dung cơ bản nào cần được pháp luật điều chỉnh trong giao dịch dân sự có điều kiện?
      • Giả thuyết nghiên cứu 2: Các nội dung quy định hiện nay còn sơ sài, chưa bao quát tiêu chí xác định sự kiện là điều kiện, các loại điều kiện, hiệu lực phát sinh/hủy bỏ và trách nhiệm pháp lý của các bên khi điều kiện xảy ra hoặc không xảy ra.
    • Câu hỏi nghiên cứu 3: Pháp luật về giao dịch dân sự có điều kiện ở Việt Nam gồm những nội dung gì? Sự điều chỉnh này đã hợp lý chưa và nảy sinh những bất cập nào trong thực tiễn áp dụng?
      • Giả thuyết nghiên cứu 3: Pháp luật hiện hành chứa đựng những bất cập bắt nguồn từ quy định về sự kiện là điều kiện và định nghĩa hợp đồng có điều kiện.
    • Câu hỏi nghiên cứu 4: Cần có những yêu cầu và kiến nghị gì để khắc phục các tồn tại, bất cập về giao dịch dân sự có điều kiện ở Việt Nam?
      • Giả thuyết nghiên cứu 4: Những bất cập chưa được giải quyết đã ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của các chủ thể và dẫn đến nhận định sai lệch trong các bản án của Tòa án.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng: Các quan điểm lý luận, học thuyết pháp lý; quy định pháp luật về giao dịch dân sự có điều kiện tại Việt Nam và một số quốc gia; thực tiễn xét xử tại Tòa án; các yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý.
    • Phạm vi nội dung: Về lý thuyết, tập trung vào khái niệm, đặc điểm, phân loại, hiệu lực và các tiêu chí đối với sự kiện là điều kiện. Về thực tiễn, phân tích thực trạng văn bản quy phạm pháp luật và các bản án thực tế.
    • Phạm vi không gian: Trọng tâm là pháp luật Việt Nam, có so sánh đối chiếu với pháp luật của Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Nga, Georgia, Lào, Canada, Hoa Kỳ.
    • Phạm vi thời gian: Trọng tâm là BLDS năm 2015 và thực tiễn xét xử liên quan; có viện dẫn các quy định tại BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 để phân tích quá trình phát triển.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Arthur L. Corbin (trong công trình "Conditions in the Law of Contract"): Phân tích ngữ nghĩa thuật ngữ "condition", phân loại điều kiện thành điều kiện tiên quyết (condition precedent), điều kiện sau đó (condition subsequent) và điều kiện đồng thời (concurrent condition); phân biệt điều kiện phát sinh, thực hiện và hủy bỏ nghĩa vụ.
  • Reeves, Ollie C. (1926, "Conditional Sale Contracts in Indiana"): Phân tích hợp đồng mua bán hàng hóa có điều kiện theo luật bang Indiana.
  • O. S. Ioffe (trong "Soviet civil law"): Xác định giao dịch có điều kiện ràng buộc quyền và nghĩa vụ vào một sự kiện tự nhiên hoặc sự kiện khác có thể xảy ra hoặc không xảy ra trong tương lai, phân chia thành điều kiện trì hoãn và điều kiện hủy bỏ.
  • Vladimir Orlov (2011, "Introduction to Business Law in Russia"): Bình luận Điều 157 BLDS Nga, xác định điều kiện trong hợp đồng có thể là sự kiện hoặc hành động của các bên, hoặc hành động của người thứ ba chưa được biết trước.
  • K-L Liew (1995, "Conditional contracts and caveatable interests: a mutual exclusion?"): Phân tích điều kiện tiên quyết hình thành hợp đồng và điều kiện đình chỉ thực hiện hợp đồng (như phê duyệt phân lô đất, chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước) tại Australia.
  • Charles Fried (2015, "Contract as promise, a theory of contractual obligation"): Tiếp cận hợp đồng có điều kiện dưới góc độ lý thuyết lời hứa ràng buộc.
  • Gwilym J. ("Conditional contracts for the sale of land in Canada"): Khảo sát các bản án về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có điều kiện tại Canada.

Các nghiên cứu trong nước

  • Sách chuyên khảo, giáo trình và luận án:
    • Nguyễn Mạnh Bách (1995, "Pháp luật về hợp đồng"): Phân tích điều kiện đình chỉ, điều kiện hủy bỏ và các đặc tính của biến cố điều kiện.
    • Xaca Vacaxum & Tori Aritdumi (1995, "Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản", bản dịch của Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng, Hoàng Thế Liên hiệu đính): Bình luận về giao dịch pháp lý phụ thuộc vào sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai theo luật Nhật Bản.
    • Đỗ Văn Đại (2009, "Luật thừa kế Việt Nam – bản án và bình luận bản án"; 2010, "Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án"; 2016, "Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015"): Phân tích án lệ và bản án thực tế về hợp đồng có điều kiện phát sinh, thực hiện, hủy bỏ; chỉ ra tính trừu tượng của thuật ngữ điều kiện, mối liên hệ giữa thời hiệu với điều kiện phát sinh; thảo luận khả năng công nhận di chúc có điều kiện qua Điểm c Khoản 1 Điều 653 BLDS 2005.
    • Ngô Huy Cương (2013, "Giáo trình Luật Hợp đồng"): Đề xuất sử dụng thuật ngữ "giao dịch có điều kiện" thay cho "giao dịch dân sự có điều kiện".
    • Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên, 2016) và Nguyễn Văn Cừ & Trần Thị Huệ (đồng chủ biên, 2017): Bình luận quy định về giao dịch dân sự có điều kiện trong BLDS năm 2015 dưới góc độ sự kiện khách quan trong tương lai.
    • Trần Thị Thu Quỳnh (2011, Luận văn thạc sĩ): Nghiên cứu hợp đồng dân sự có điều kiện.
    • Xaysavhan Pengboubpha (2012, Luận văn thạc sĩ): Nghiên cứu thừa kế theo di chúc trong luật dân sự Lào, dẫn nguyên tắc La Mã Semel heres, semper heres.
    • Hoàng Thị Loan (2019, Luận án tiến sĩ): Nghiên cứu điều kiện có hiệu lực của di chúc và đề xuất bổ sung điều khoản điều chỉnh di chúc có đặt điều kiện, cơ chế hoàn trả di sản và thanh toán chi phí hợp lý.
  • Bài báo khoa học:
    • Phạm Công Lạc (1995): Chỉ ra việc khái niệm giao dịch có điều kiện trong dự thảo BLDS đã bỏ sót hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện; phân tích điều kiện trong hợp đồng và di chúc.
    • Phùng Trung Tập (2008): Phân tích quyền tự định đoạt của người lập di chúc và đề xuất bổ sung chế định di chúc có điều kiện.
    • Nguyễn Như Bích (2011): Phân tích hiệu lực của hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất có điều kiện, đánh giá tính hợp pháp của sự kiện là điều kiện.
    • Phạm Văn Tuyết (2011): Chỉ ra vướng mắc giữa giao dịch, hợp đồng và nghĩa vụ có điều kiện.
Nhóm công trình Đại diện tiêu biểu Nội dung chính Giới hạn chưa giải quyết
Quốc tế Arthur L. Corbin, O. S. Ioffe, Vladimir Orlov, K-L Liew, Charles Fried Bản chất điều kiện trong hợp đồng; phân loại điều kiện tiên quyết, sau đó, đình chỉ, hủy bỏ Chủ yếu tiếp cận từ góc độ hợp đồng hoặc nghĩa vụ, chưa nghiên cứu toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam
Trong nước (Sách & Luận án) Đỗ Văn Đại, Nguyễn Mạnh Bách, Ngô Huy Cương, Hoàng Thị Loan, Trần Thị Thu Quỳnh Phân tích án lệ hợp đồng có điều kiện, di chúc có điều kiện, thuật ngữ giao dịch Nghiên cứu riêng lẻ từng mảng hợp đồng hoặc thừa kế; chưa đánh giá toàn diện vướng mắc áp dụng BLDS 2015
Trong nước (Bài báo khoa học) Phạm Công Lạc, Phùng Trung Tập, Nguyễn Như Bích, Phạm Văn Tuyết Khái niệm giao dịch có điều kiện, tính hợp pháp của sự kiện điều kiện, di chúc có điều kiện Chưa xây dựng thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh và khung giải pháp lập pháp đồng bộ

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Hoàn thiện khái niệm và làm rõ các đặc điểm đặc trưng của giao dịch dân sự có điều kiện so với giao dịch dân sự thông thường.
  2. Xác lập hệ thống tiêu chí cụ thể để nhận diện sự kiện được coi là điều kiện trong giao dịch.
  3. Bổ sung các tiêu chí phân loại giao dịch có điều kiện sát với thực tiễn.
  4. Cụ thể hóa quy định pháp luật đối với hợp đồng có điều kiện nhằm phân biệt với thực hiện nghĩa vụ có điều kiện.
  5. Luận giải cơ sở khoa học để ghi nhận di chúc có điều kiện trong BLDS.
  6. Thiết lập cơ chế xác định trách nhiệm pháp lý và bảo vệ quyền lợi các bên khi điều kiện không xảy ra, bị tác động trái pháp luật hoặc giao dịch bị hủy bỏ/vô hiệu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Các học thuyết, lý thuyết nền tảng:
    • Học thuyết tự do ý chí: Giải thích quyền tự định đoạt của các chủ thể khi tham gia xác lập giao dịch, tự gắn kết quyền và nghĩa vụ của mình vào các sự kiện tương lai mà không bị áp đặt trái luật.
    • Học thuyết dung hòa giữa tự do ý chí và lợi ích xã hội: Luận giải giới hạn can thiệp của Nhà nước đối với tự do giao dịch nhằm bảo vệ trật tự công cộng, đạo đức xã hội và bảo vệ bên yếu thế trong giao dịch có điều kiện.
    • Lý thuyết về giao dịch dân sự: Nền tảng về sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, hiệu lực ràng buộc và trách nhiệm dân sự phát sinh khi có hành vi vi phạm cam kết.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết.
    • Phương pháp phân tích lịch sử pháp lý.
    • Phương pháp quy nạp và diễn dịch logic.
    • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu BLDS Việt Nam với luật của Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, Georgia, Nga...).
    • Phương pháp phân tích bản án, quyết định giám đốc thẩm và thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Văn bản quy phạm pháp luật: BLDS các năm 1995, 2005, 2015; Luật Thương mại 2005; Luật Đầu tư 2014; các đạo luật dân sự nước ngoài.
    • Nguồn thực tiễn xét xử: Các quyết định giám đốc thẩm của TANDTC (Quyết định số 403/2011/DS-GĐT, số 192/2006/DS-GĐT, số 26/2007/DS-GĐT, số 03/2014/DS-GĐT), TAND cấp cao tại TP.HCM (Quyết định số 12/2016/DS-GĐT), TAND cấp cao tại Đà Nẵng (Quyết định số 45/2016/DS-GĐT); các bản án của TAND cấp tỉnh, huyện (Bản án số 06/2015/KDTM-ST của TAND Quận 5, Bản án số 294/2012/DSST của TAND TP. Long Xuyên, Bản án số 42/2010/DS-ST của TAND huyện Châu Thành, Bản án số 122/2007/DS-ST của TAND thị xã Châu Đốc) và Án lệ số 39/2020/AL.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ CÓ ĐIỀU KIỆN

Chương 1 tập trung xây dựng khung lý thuyết nền tảng cho đề tài:

  • Thuật ngữ và khái niệm giao dịch dân sự: Luận án phân tích 3 luồng quan điểm: (1) Giữ nguyên thuật ngữ "giao dịch dân sự" vì đã quen thuộc từ BLDS 1995; (2) Thay bằng "hành vi pháp lý" theo xu hướng quốc tế (như Điều 112 BLDS Thái Lan, Điều 1100-1 BLDS Pháp, luật Nhật Bản); (3) Rút gọn thành "giao dịch" (tương tự Điều 50 BLDS Georgia) để bao quát cả quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động. Tác giả đồng tình với quan điểm dùng thuật ngữ "giao dịch" nhằm bảo đảm tính chất đạo luật gốc của BLDS.
  • Khái niệm, đặc điểm và phân loại GDDS có điều kiện: Luận án làm rõ GDDS có điều kiện là giao dịch mà việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực (toàn bộ hoặc một phần) phụ thuộc vào sự kiện do các bên thỏa thuận hoặc do người lập hành vi pháp lý đơn phương xác định. Về đặc điểm, giao dịch có điều kiện vừa mang tính chất của giao dịch chung (tính tự nguyện, ý chí nội tại thống nhất với bày tỏ ý chí, mục đích không trái luật), vừa có tính chất đặc thù là hiệu lực bị treo hoặc bị đe dọa chấm dứt bởi một biến cố tương lai. Phân loại gồm: điều kiện phát sinh (đình chỉ) và điều kiện hủy bỏ (chấm dứt); phân loại theo tính chất sự kiện (tự nhiên, hành vi của con người, hành vi của bên thứ ba).
  • Cơ sở học thuyết: Phân tích học thuyết tự do ý chí và học thuyết dung hòa giữa tự do ý chí và lợi ích xã hội để làm sáng tỏ ranh giới giữa quyền tự do xác lập điều kiện với giới hạn trật tự công và đạo đức xã hội.
  • Bản chất của điều kiện: Điều kiện phải là một sự kiện khách quan trong tương lai, không chắc chắn xảy ra, có tính khả thi, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Sự kiện điều kiện khác với "điều kiện có hiệu lực" của giao dịch quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015.
  • Lịch sử lập pháp: Khái lược sự hình thành và phát triển của các quy định về giao dịch có điều kiện qua các thời kỳ pháp luật dân sự Việt Nam.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ CÓ ĐIỀU KIỆN

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định:

  • Quy định chung về GDDS có điều kiện: Phân tích Điều 120 BLDS năm 2015. Luận án chỉ ra các khiếm khuyết trong kỹ thuật lập pháp: điều luật dùng cụm từ "các bên có thỏa thuận", vô hình trung loại bỏ hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện. Pháp luật chưa dự liệu đầy đủ hậu quả pháp lý khi một bên cố ý tác động làm cho điều kiện xảy ra hoặc không xảy ra; chưa có quy định bảo vệ bên ngay tình hoặc xử lý thiệt hại khi giao dịch bị hủy bỏ do điều kiện hủy bỏ phát sinh.
  • Quy định riêng về từng loại giao dịch có điều kiện:
    • Hợp đồng có điều kiện: Phân tích Điều 402 BLDS năm 2015 (phân loại hợp đồng) và các quy định về hợp đồng có điều kiện. Luận án chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa quy định chung về GDDS có điều kiện (Điều 120) và quy định về hợp đồng có điều kiện, chưa làm rõ ranh giới giữa điều kiện làm phát sinh hợp đồng với điều kiện thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
    • Di chúc có điều kiện: BLDS năm 2015 không có điều khoản trực tiếp quy định về di chúc có điều kiện. Mặc dù Điểm c Khoản 1 Điều 653 BLDS năm 2005 từng gián tiếp đề cập "xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản", nhưng BLDS năm 2015 đã lược bỏ cụm từ này, tạo khoảng trống pháp lý lớn khi người lập di chúc đưa vào các điều kiện nghĩa vụ đối với người thụ hưởng.
    • Hứa thưởng có điều kiện: Đánh giá chế định hứa thưởng (Điều 570 - 573 BLDS 2015) dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện, phân tích cơ chế trả thưởng khi nhiều người cùng hoàn thành công việc hoặc công việc hoàn thành một phần.

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ CÓ ĐIỀU KIỆN

Chương 3 tổng kết thực tiễn xét xử và xây dựng hệ thống giải pháp:

  • Thực tiễn áp dụng và các sai sót xét xử:
    • Khảo sát các tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có điều kiện thông qua các quyết định giám đốc thẩm của TANDTC (như Quyết định số 403/2011/DS-GĐT, 192/2006/DS-GĐT, 26/2007/DS-GĐT, 03/2014/DS-GĐT) và Án lệ số 39/2020/AL.
    • Chỉ ra 2 dạng nhầm lẫn điển hình của cơ quan tiến hành tố tụng:
      1. Nhầm lẫn giữa di chúc có điều kiện với giao nghĩa vụ cho người thừa kế: Tòa án thường đồng nhất việc giao nghĩa vụ thờ cúng hoặc chăm sóc người khác với điều kiện hưởng di sản mà không phân định rõ hậu quả pháp lý khi nghĩa vụ không được thực hiện.
      2. Nhầm lẫn giữa hợp đồng có điều kiện với thực hiện hợp đồng có điều kiện: Nhiều bản án coi việc thanh toán tiền, giao giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hoàn tất thủ tục sang tên (vốn là nghĩa vụ thực hiện hợp đồng) là "điều kiện phát sinh hiệu lực của hợp đồng".
  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Hoàn thiện quy định chung: Đổi tên thuật ngữ "giao dịch dân sự" thành "giao dịch"; sửa đổi Điều 120 BLDS năm 2015 theo hướng ghi nhận cả hành vi pháp lý đơn phương có điều kiện; quy định rõ các tiêu chí của sự kiện điều kiện; bổ sung quy định về cơ chế phục hồi tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại khi giao dịch bị hủy bỏ.
    • Hoàn thiện quy định riêng: Bổ sung các điều khoản độc lập về hợp đồng có điều kiện trong Phần nghĩa vụ và hợp đồng; bổ sung quy định ghi nhận quyền lập di chúc có điều kiện, quy định rõ nguyên tắc xử lý di sản khi người thừa kế vi phạm điều kiện hoặc chết trước khi hoàn thành điều kiện (hoàn trả di sản, khấu trừ chi phí hợp lý đã bỏ ra).

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận:

    • Luận án phân tích toàn diện bản chất pháp lý của giao dịch dân sự có điều kiện, xác định rõ mối quan hệ thứ bậc giữa quy định chung về giao dịch dân sự với các quy định riêng về nghĩa vụ, hợp đồng và di chúc.
    • Xây dựng định nghĩa hoàn thiện về giao dịch dân sự có điều kiện, khắc phục hạn chế loại bỏ hành vi pháp lý đơn phương trong cách diễn đạt của BLDS năm 2015.
    • Luận giải cơ sở lý thuyết xác định các tiêu chuẩn của sự kiện điều kiện (tính khách quan, tính tương lai, tính không chắc chắn và tính hợp pháp).
  2. Về mặt thực trạng quy định:

    • Chỉ ra sự thiếu đồng bộ và những khoảng trống lập pháp trong BLDS năm 2015 đối với hợp đồng có điều kiện, di chúc có điều kiện và hứa thưởng có điều kiện.
    • Phân tích sự thiếu vắng của chế tài bảo vệ bên ngay tình, bên yếu thế khi điều kiện hủy bỏ xảy ra hoặc khi giao dịch bị tuyên bố vô hiệu.
  3. Về mặt thực tiễn áp dụng:

    • Phát hiện và hệ thống hóa các dạng sai sót, nhầm lẫn phổ biến của Tòa án nhân dân các cấp giữa giao dịch dân sự có điều kiện với thực hiện nghĩa vụ có điều kiện, thực hiện hợp đồng có điều kiện và giao nghĩa vụ trong thừa kế.
    • Đánh giá giá trị áp dụng và các điểm còn bỏ ngỏ của Án lệ số 39/2020/AL về giao dịch dân sự có điều kiện.
  4. Về mặt giải pháp lập pháp:

    • Đề xuất sửa đổi kỹ thuật lập pháp từ "giao dịch dân sự" thành "giao dịch".
    • Đề xuất sửa đổi Điều 120 BLDS năm 2015 và bổ sung các điều khoản độc lập điều chỉnh di chúc có điều kiện, bao gồm cơ chế xử lý hoàn trả di sản và bồi hoàn chi phí hợp lý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực định chủ yếu xoay quanh các quy định của BLDS năm 2015 và các bản án công bố trong nước; nguồn tư liệu luật so sánh tập trung vào một số hệ thống pháp luật điển hình (Pháp, Nhật Bản, Nga, Thái Lan, Canada); chưa đi sâu vào toàn bộ các dạng giao dịch có điều kiện chuyên ngành trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng và tài chính quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu cơ chế vận hành của giao dịch có điều kiện trong các giao dịch thương mại chuyên ngành phức tạp; khảo sát chuyên sâu kinh nghiệm xét xử của hệ thống Common Law đối với các điều kiện phi tài sản; đánh giá tác động sau khi sửa đổi, bổ sung BLDS trong thực tiễn tư pháp.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp nguồn tài liệu chuyên khảo có hệ thống cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật khi nghiên cứu về chế định giao dịch dân sự, luật hợp đồng và luật thừa kế.
  • Đối với thực tiễn xét xử: Là tài liệu tham khảo cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên và Luật sư trong việc nhận diện chính xác giao dịch có điều kiện, tránh nhầm lẫn giữa điều kiện phát sinh hiệu lực với nghĩa vụ thực hiện hợp đồng hoặc giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
  • Đối với công tác lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học và các đề xuất điều khoản cụ thể cho Ban soạn thảo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình rà soát, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tác giả luận án đề xuất sử dụng thuật ngữ "giao dịch" thay vì "giao dịch dân sự" trong BLDS?

Văn bản luận án lập luận rằng thuật ngữ "giao dịch dân sự" bị giới hạn trong phạm vi dân sự thuần túy và không phản ánh đúng vai trò của BLDS là đạo luật chung điều chỉnh cả quan hệ hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Việc sử dụng thuật ngữ "giao dịch" (tương tự như quy định tại Điều 50 BLDS Georgia) vừa bao quát được cả giao dịch dân sự lẫn giao dịch thương mại, vừa giữ được sự quen thuộc trong ngôn ngữ pháp lý Việt Nam, phù hợp hơn việc thay thế hoàn toàn bằng thuật ngữ "hành vi pháp lý".

2. Tiêu chí nào xác định một sự kiện là "điều kiện" trong giao dịch dân sự có điều kiện?

Theo luận án, sự kiện được xác định là điều kiện phải thỏa mãn đầy đủ các thuộc tính: (i) là sự kiện thuộc về tương lai (xảy ra sau khi giao dịch được xác lập); (ii) mang tính chất khách quan, chưa chắc chắn xảy ra; (iii) việc xảy ra hay không xảy ra không phải do hành vi cố ý tác động trái pháp luật của một bên tham gia giao dịch hoặc bên thứ ba; (iv) nội dung sự kiện không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

3. Những nhầm lẫn phổ biến nào của cơ quan xét xử được luận án chỉ ra?

Luận án chỉ ra hai nhầm lẫn chủ yếu tại Tòa án:

  1. Nhầm lẫn giữa hợp đồng có điều kiện với thực hiện hợp đồng có điều kiện (hoặc thực hiện nghĩa vụ có điều kiện): Tòa án thường coi các nghĩa vụ phải làm sau khi ký hợp đồng (như trả tiền, bàn giao mặt bằng, hoàn tất thủ tục đăng ký biến động đất đai) là điều kiện phát sinh hiệu lực hợp đồng.
  2. Nhầm lẫn giữa di chúc có điều kiện với giao nghĩa vụ cho người thừa kế: Tòa án coi việc người lập di chúc giao trách nhiệm thờ cúng, chăm sóc thân nhân là điều kiện hưởng di sản mà không phân định rõ chế tài và hậu quả pháp lý khi nghĩa vụ đó không được thực hiện.

4. Luận án đề xuất cơ chế xử lý di sản thừa kế trong di chúc có điều kiện như thế nào?

Dẫn theo quan điểm nghiên cứu và kế thừa định hướng khoa học, luận án đề xuất quy định:

  • Nếu người hưởng di sản đã nhận tài sản nhưng vi phạm điều kiện trong di chúc thì phải hoàn trả di sản cho các người thừa kế khác, sau khi được khấu trừ chi phí làm gia tăng giá trị di sản và chi phí hợp lý đã bỏ ra để thực hiện điều kiện.
  • Nếu người hưởng di sản chưa nhận tài sản nhưng đã bỏ chi phí thực hiện điều kiện mà sau đó vi phạm, họ có quyền yêu cầu các thừa kế khác thanh toán chi phí hợp lý đã chi trả.
  • Trường hợp người hưởng di sản chết trước khi hoàn thành điều kiện, phần di chúc có điều kiện không phát sinh hiệu lực; các chi phí hợp lý người này đã bỏ ra sẽ được hoàn trả từ khối di sản và chuyển thành di sản của chính người đó.

5. Án lệ số 39/2020/AL có vai trò như thế nào trong luận án?

Án lệ số 39/2020/AL được luận án viện dẫn và phân tích như một nguồn thực tiễn tư pháp quan trọng của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về việc xác định giao dịch dân sự có điều kiện. Luận án sử dụng án lệ này để minh chứng cho thực trạng áp dụng pháp luật tại Tòa án, đồng thời chỉ ra rằng dù đã có án lệ nhưng nhiều khía cạnh lý luận và quy tắc xử lý quyền lợi bên yếu thế trong giao dịch có điều kiện vẫn chưa được luật hóa đầy đủ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Phùng Bích Ngọc là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về chế định giao dịch dân sự có điều kiện trong pháp luật dân sự Việt Nam. Luận án đã làm rõ cơ sở lý thuyết, phân tích các bất cập trong kỹ thuật lập pháp của BLDS năm 2015 và chỉ ra các sai sót nhầm lẫn điển hình trong thực tiễn xét xử của cơ quan tư pháp. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống kiến nghị sửa đổi quy định chung, quy định riêng về hợp đồng, di chúc và hứa thưởng có điều kiện tạo tiền đề khoa học hữu ích cho công tác hoàn thiện pháp luật dân sự trong thời kỳ hội nhập.