CHƯƠNG 1 CÁC YEU TO ANH HƯỚNG TỚI ĐẶC TRƯNG DIA HOA MOI TRƯỜNG 1. Điều kiện tự nhiên 1.VỊ trí địa lý vùng nghiên cứu Vùng biển ven bờ Rạch Giá-Vũng Tàu là phần tiếp giáp giữa đồng bằng Nam Bộ với biển Đông và Vịnh Thái Lan; thuộc lãnh hải của các tỉnh Kiên Giang, Ca Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tra Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa-Vũng Tàu. Phạm vi vùng nghiên cứu nằm trong giới hạn tọa độ: Kinh độ Đông: từ 103°50’ đến 107910”. Vĩ độ Bắc: từ 8°20’ đến 10°40’.
Vùng nghiên cứu có tông diện tích trên 41.000 km” với đường bờ biển kéo đài trên 700km; trong đó phần bờ biên thuộc vịnh Thái Lan là 290km thuộc bờ biển Đông là 43 Ikm (hình 1. Địa hình, địa mạo 1. Địa hình địa mạo day biển nông ven bờ (hình 1.2) Do vùng nghiên cứu phân bồ trên một diện kéo dài vì thế đặc điểm địa hình đáy biên rất phức tap. Có thé chia địa hình đáy biển thành bốn khu vực chính sau: - Khu vực biển phía Đông vịnh Thái Lan kéo dài từ vịnh Rạch Giá tới phía Tây mũi Cà Mau.
Nhìn chung địa hình đáy ở đây rất thoải. Tuy vậy địa hình có phân dị giữa đới sát bờ (0-15m nước) và phần ngoài khơi. Từ 0-15m nước địa hình thoải và bằng phẳng (các đường đăng sâu thường nằm song song với đường bờ). Ở đới 15-35m nước có bề mặt gỗ ghé, tạo nhiều rãnh sâu, cồn ngầm, nhiều đảo, quần đảo (Hòn Minh Hoà, quần đảo Nam Du.
- Địa hình biển khu vực Nam mũi Ca Mau (mũi Cà Mau-cửa sông Bồ Dé) khá phức tạp: thoải đều từ bờ ra đến 5m nước và khá đốc ở ngoài độ sâu 5m đến 25- 30m. Tại đây đường đăng sâu 25m nước nằm rất gần bờ biển. - Khu vực biên từ cửa sông Bồ Đề đến Vĩnh Châu (Sóc Trăng): địa hình đáy biển có những đặc điểm gần giống với khu vực biển phía Đông vịnh Thái Lan. Đó là thoải, khá bằng phăng ở đới sát bờ và thoải, gồ ghé lồi lõm ở ngoài 15m nước.
Khu vực ngoài 15m nước tồn tại nhiều cồn ngầm, tring ngầm. - Địa hình khu vực biển từ Vĩnh Châu (Sóc Trăng) đến Vũng Tàu đặc trưng cho vùng cửa sông lớn. Đó là sự tồn tại các avandelta của hệ thống sông Cửu Long. Địa hình có sự phân bậc rõ nét.
Ở đới sát bờ đến 5-7m nước địa hình đáy bị phân cắt bởi dòng chảy tạo nhiều lạch sâu cũng như bar cát ngầm, các cồn cát. Từ 5-7m đến 15-18m nước địa hình ít bi phân cắt nhưng có độ dốc lớn do ảnh hưởng của quá trình tích tụ trầm tích hiện đại. Phần ngoài 18-20m nước địa hình thoải và bằng 11 phẳng: khoảng cách giữa hai đường dang sâu 20 va 25m thường cách nhau tới 20- 30km. Địa hình địa mạo ven biển và các đảo Địa hình ven biển vùng nghiên cứu có đặc điểm khá phức tạp, tuy vậy có thể chia làm hai kiểu địa hình chính: địa hình đồng băng thấp ven biển với độ cao từ 0- 2m và địa hình đồi núi thấp.
Địa hình đồng bằng thấp ven biển với độ cao từ 0-2m: bị phân cắt bởi hệ thống sông nhỏ và kênh rạch dày đặc ăn thông ra biển. Kiểu địa hình này phân bố trên điện rộng từ Rạch Giá đến Vĩnh Châu (Sóc Trăng). Kiểu địa hình thứ hai đặc trưng cho vùng ven biển các cửa sông Cửu Long. Cũng vẫn là địa hình đồng bằng thấp nhưng bị chia cắt bởi các nhánh sông lớn; hình thành nhiều cù lao (đảo nằm giữa hai sông như củ lao Dung.) và cũng bị chia cắt bởi hệ thống kênh rạch.
Ngoài ra tại đây còn hình thành các giồng cát cao 3-4m. Các giồng cát thường năm song song hoặc hướng về phía bờ biển; giữa các gidng cát là tích tụ nước lo. Địa hình đồi núi thấp gặp chủ yếu ở các đảo, quần đảo chúng tập trung chủ yếu ở vùng biến vịnh Thái Lan và Nam ban đảo Cà Mau. Đó là các đảo Hòn Minh Hoà, Hòn Tre, Hòn Rái, quần đảo Nam Du, Hòn Đá Bạc, Hòn Chuối, Hòn Khoai, Hòn Sao.
Các đảo được cấu tạo chủ yếu bởi các thành tạo đá cứng chắc. Địa hình đặc trưng cho các đảo là địa hình bóc mòn xâm thực. Thời gian chiếu sáng và nhiệt độ không khí Vùng RG - VT nam trong vùng cận xích đạo nên có thời gian chiếu sáng dài, có nền nhiệt cao và ít biến đổi trong năm. Hàng năm trung bình có khoảng 2300- 2800 giờ nắng, tháng cao nhất khoảng 200-300 giờ nắng, tháng ít nhất cũng đạt khoảng 160-170 giờ nắng.
Tổng lượng bức xạ trong năm theo tính toán lý thuyết đạt 230-240Kcal/cmỶ, thuộc loại cao so với cả nước. Mặc dù vùng nghiên cứu kéo dài trên diện rộng nhưng nhiệt độ không khí trung bình tháng khá đều. Nhiệt độ trung bình hàng tháng có xu hướng giảm dần từ Rạch Giá tới Hòn Khoai và từ Vũng Tàu tới Hòn Khoai (bảng 1. Chênh lệch nhiệt độ giữa hai tháng liên tiếp thường nhỏ hơn 1°C.
Nhiệt độ trung bình trong mùa đông là 25-26°C va trong mùa hè là 27-28°C. Nhiệt độ không khí cao nhất tới 37,5°C, thấp nhất là 16°C. Biên độ năm của nhiệt độ không khí chỉ khoảng 3-4°C cho cả vùng biển va đất liền. Biên độ nhiệt độ ngày đêm là 1-2°C.
Chế độ mưa Vùng biển RG - VT có mùa mưa kéo dai từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa tập trung cao vào các tháng 7, 8, 9, 10 (bảng 1. Trung bình mỗi tháng trong mùa mưa có khoảng 16-18 ngày mưa. Tổng lượng mưa cả mùa chiếm tới 85-90% lượng 12 mưa trung bình cả năm. Khu vực biển thuộc vịnh Thái Lan có lượng mưa trung bình hàng năm thường trên 2000mm/năm cao hơn khu vực từ Cà Mau đến Vũng Tàu (dưới 1600mmm).
Lượng mưa có xu hướng giảm dần từ Nam lên Bắc vùng. Biển Cà Mau là khu vực có lượng mưa cao nhất và thường đạt trên 300mm/thang trong suốt năm tháng (tháng 6 đến tháng 10). Mùa khô trong vùng kéo dài từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Trung bình mỗi tháng có 4-5 ngày mưa.
Trừ thang 12 và tháng 4 có lượng mưa trên 40mm/tháng, còn lại là những tháng ít mưa điển hình. Tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 2 với lượng mưa chỉ khoảng 0-10mm/thang. Độ ẩm Độ âm không khí vùng RG - VT có sự khác biệt tương đối. Độ 4m trung bình năm là 80-90% (bảng 1.
Tương tự như chế độ mưa, độ ẩm có xu thé tăng dần từ Rạch Giá đến Hòn Khoai (Cà Mau) và từ Vũng Tàu đến Hòn Khoai. Khu vực Hòn Khoai độ âm trung bình tháng rất cao từ 86 đến 93%, ngược lại khu vực biển phía Đông Nam vùng nghiên cứu (gần Côn Đảo) có độâm thấp (77-83%). Sự biến đổi độ âm giữa các tháng liên tiếp là không lớn. Trong năm có hai mùa (khô và âm), thời kỳ âm rơi vào mùa mưa, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 với độâm trung bình trên 80%.
Trong mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) độ 4m thấp nhất thường rơi vào hai tháng 2 và 3. Khu vực Vũng Tàu có độ âm thấp nhất vùng; vào mùa khô độ ẩm chỉ đạt 76%. Chế độ gió Mặc dù có sự khác nhau trong từng khu vực nhưng nhìn chung chế độ gió vùng nghiên cứu có hai mùa và đổi hướng theo mùa phù hợp với hướng gió toàn vùng (bảng 1. Trong mùa hè hướng gió chính là Tây-Tây Nam, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10.
Như vậy thời gian mùa hè tính theo đặc điểm hướng gió ngắn hơn thời gian mùa hè tính theo chế độ mưa và nhiệt độ không khí. Tốc độ gió trong các tháng mùa hè từ 2,65m/s đến 4,35m/s. Ở khu vực ven bờ tốc độ gió trung bình có xu hướng giảm từ phía Nam lên Bắc, và càng ra xa bờ tốc độ gió càng lớn. Trong các vùng liền kề vùng nghiên cứu như biển Côn Đảo, Bạch Hồ tốc độ gió trung bình trên 4m/s.
Mùa đông kéo dai từ tháng 11 đến tháng 4 có hướng gió thịnh hành là Đông-Đông Bắc. Hướng gió Đông Bắc ở đây bắt nguồn từ cao áp á nhiệt đới ở Tây Thái Bình Dương chứ không phải là gió hanh khô được hình thành từ miền ôn đới; do vậy vùng nghiên cứu không có mùa đông lạnh. Tốc độ gió trung bình mùa đông là 3,1-4,3m/s, cực dai đạt 25-30m/s. Rat ít khi xuất hiện bão ở vùng biển RG - VT và nếu hình thành chỉ tập trung vào thời gian từ tháng 11 đến tháng 1.
Theo dự báo: bão cấp 8-9 xuất hiện với chu 13 kỳ 20 năm, hàng trăm năm mới có bão mạnh cấp 10-11 (cơn bão số 5 xảy ra ngày 5/11/1997 là một ví dụ). Cơn bão này đã gây thiệt hại lớn về người và kinh tế khu vực Nam Bộ. Tuy có ít bão nhưng vùng biển RG - VT thường có gió mạnh trên cấp 6 và dong (hang năm có tới 50-60 ngày có dông). Nhiệt độ không khí trung bình tháng (°C ) pom Trạm D2 |3 4) 5| 6|7|8 |9 |0 H,12 Nam Rạch Giá | 25,5 | 26,3 | 27,5 | 28,5 | 28,4 | 28,2 | 27,7 | 27,5 | 27.5 | 21,3 | 26,7 | 25,9 | 27,3 Khoai 23,3 | 24,1 | 25,4 | 26,8 | 26,4 | 25,5 | 25,3 | 25,0 | 24,9 | 24,8 | 24,6 | 23,6 | 25,0 Ca Mau | 24,9 | 25,4 | 26,6 | 27,6 | 27,4 | 27,1 | 27,0 | 26,8 | 26,8 | 26,5 | 26,2 | 25,5 | 26,5 Sóc Trăng | 25,2 | 26,0 | 27,2 | 28,4 | 27,9 | 27,2 | 27,0 | 27,0 | 26,9 | 26,8 | 26,4 | 25,5 | 26,8 Can Tho | 26,3 | 27,0 | 28,1 | 28.0 | 26,6 | 25,9 | 27,1 BénTre |25,6 | 25,8 | 27,3 | 28,5 | 28,5 | 27,8 | 27,2 | 27,1 | 27,1 | 26,9 | 26,5 | 25,4 | 27,0 Vũng Tàu | 25,4 | 25,8 | 27,1 | 28,6 | 28,8 | 28,3 | 27,5 | 27,9 | 27,2 | 27,2 | 26,9 | 25,8 | 27,2 Bang 1.