Chương 1. Tổng quan về đánh giá tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái rừng ngập mặn liên quan đến biến đổi khí hậu Chương 2. Cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái rừng ngập mặn Vườn quốc gia Mũi Cà Mau liên quan đến biến đổi khí hậu Chương 3. Kết quả đánh giá tổn thất và thiệt hại hệ sinh thái rừng ngập mặn Vườn quốc gia Mũi Cà Mau liên quan đến biến đổi khí hậu.
Khung logic của Luận án Câu hỏi Mục tiêu nghiên cứu Luận điểm bảo vệ Nội dung Đóng góp mới • Phương pháp • Tri thức của cộng đồng • Bằng cách kết hợp • Điều tra xã hội học để đúc kết (hoặc thu thập) tri Xác định được và quy trình nào là thông tin quý giá trong giữa tri thức cộng phương pháp và thức của cộng đồng về TT&TH đối với HST RNM. có thể được sử đánh giá TT&TH đối với đồng và tri thức khoa • Áp dụng phương pháp viễn thám - GIS và phương quy trình phù dụng để kết hợp HST RNM. Tuy nhiên tri học, luận án đã xây pháp lượng giá kinh tế để đánh giá định lượng hợp nhằm đánh tri thức của cộng thức của cộng đồng là dựng được phương TT&TH đối với TT&TH đối với HST RNM. đồng và tri thức chưa đủ, cần kết hợp với pháp và quy trình phù • Kết hợp giữa phân tích kết quả điều tra xã hội học, HST RNM VQG khoa học để tri thức khoa học để có hợp nhằm đánh giá Mũi Cà Mau liên phương pháp viễn thám – GIS, lượng giá kinh tế và đánh giá thể đánh giá TT&TH đối TT&TH đối với HST xây dựng quy trình phù hợp để đánh giá TT&TH đối quan đến BĐKH.
TT&TH đối với với HST RNM liên quan RNM VQG Mũi Cà với HST RNM tại VQG Mũi Cà Mau. HST RNM? đến BĐKH Mau liên quan BĐKH • HST RNM của VQG • Đánh giá TT&TH dựa vào kết quả điều tra xã hội • TT&TH đối Mũi Cà Mau chịu nhiều học về tri thức cộng đồng. với HST RNM TT&TH liên quan đến • Áp dụng công nghệ viễn thám/GIS kết hợp lượng VQG Mũi Cà BĐKH, trong đó các giá kinh tế để đánh giá diễn biến thay đổi RNM thông Mau liên quan Đánh giá được dịch vụ cung cấp thuỷ qua biến động đường bờ khu vực VQG Mũi Cà Mau đến BĐKH như • Luận án đã đánh giá TT&TH đối với hải sản, và dịch vụ dưới tác động của nước biển dâng. HST RNM tại thế nào trong 20- phòng, chống sạt lở bờ • Ước tính TT&TH đối với HST RNM thông qua được TT&TH đối với 30 năm vừa qua? HST RNM tại VQG VQG Mũi Cà biển là những TT&TH lượng giá giá trị: (i) Phòng hộ, chống sạt lở bờ biển, • Đâu là những Mũi Cà Mau liên quan Mau liên quan chính.
(ii) Dịch vụ cung cấp nguồn lợi thuỷ hải sản, (iii) BĐKH và đề TT&TH trọng Dịch vụ HST RNM. đến BĐKH và đề xuất xuất được các tâm? • Các giải pháp công • Dự báo xu thế về biến động HST rừng ngặp mặn được các giải pháp • Những giải nhằm giảm thiểu giải pháp nhằm trình và phi công trình VQG Mũi Cà Mau liên quan đến BĐKH. pháp nào có thể TT&TH. giảm thiểu có thể được áp dụng để • Đánh giá thiếu hụt trong ứng phó với BĐKH và giảm thiểu được giảm thiểu TT&TH các TT&TH ở VQG Mũi Cà Mau.
TT&TH đối với đối với HST RNM liên • Đề xuất giải pháp giảm thiểu TT&TH đối với HST RNM VQG quan đến BĐKH. HST RNM VQG Mũi Cà Mau và nhận định việc áp Mũi Cà Mau? dụng đối với tỉnh Cà Mau và các khu vực khác. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TỔN THẤT VÀ THIỆT HẠI HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. Cơ sở lý luận về đánh giá tổn thất và thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn 1.
Tổn thất và thiệt hại liên quan đến biến đổi khí hậu 1) Khái niệm “Tổn thất và thiệt hại” là một thuật ngữ chung được sử dụng trong các cuộc đàm phán về khí hậu của Liên Hợp Quốc để chỉ những hậu quả của biến đổi khí hậu vượt quá những gì con người có thể thích nghi hoặc khi có các lựa chọn nhưng một cộng đồng không có đủ nguồn lực để tiếp cận hoặc sử dụng chúng. Cho đến nay, không có định nghĩa chính thức về tổn thất và thiệt hại theo Liên Hợp Quốc [105]. Thuật ngữ “tổn thất và thiệt hại” lần đầu tiên được chính thức sử dụng trong Kế hoạch hành động Bali được thông qua tại Hội nghị các bên tham gia UNFCCC lần thứ 13 (COP 13) tại Indonesia năm 2007. Tại COP 19 (2013), UNFCCC đã thiết lập Cơ chế quốc tế Warsaw về tổn thất và thiệt hại (WIM) với vai trò giải quyết TT&TH từ các hiện tượng diễn biến chậm và các vấn đề thời tiết cực đoan ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của BĐKH.
Mặc dù không có định nghĩa chính thức trong các tài liệu nhưng UNFCCC (2012) đưa ra quan điểm: “TT&TH là những biểu hiện thực tế hoặc tiềm tàng liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu ở các nước đang phát triển có ảnh hưởng tiêu cực đến con người và hệ thống tự nhiên”, bao gồm tác động từ các hiện tượng diễn biến chậm và các vấn đề thời tiết cực đoan [77]. Bên cạnh đó, nhiều tác giả cũng như tổ chức nghiên cứu cũng đưa ra các khái niệm về tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu. Theo Bouwer, TT&TH 10 đơn giản là các mất mát do các hiện tượng thời tiết, theo đó, không bao gồm tổn thất và thiệt hại từ các hiện tượng diễn biến chậm và giới hạn phạm vi tác động trực tiếp [45]. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, TT&TH là tác động của BĐKH mà không ngăn chặn được bởi các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ, làm nổi bật sự tương tác giữa thích ứng, giảm nhẹ và các chính sách về TT&TH.
Cụ thể, theo Warner và Zakieldeen (2011), TT&TH là không thể tránh khỏi từ tác động bất lợi của BĐKH và là hậu quả của các giải pháp thích ứng, giảm thiểu không đầy đủ [84]. James và cộng sự (2014) định nghĩa “TT&TH xảy ra khi các nỗ lực giảm thiểu đã bị thất bại trong việc ngăn chặn sự gia tăng liên tục của phát thải khí nhà kính; còn các hoạt động thích ứng hiện tại không đủ để ngăn chặn tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu hiện tại và tương lai” [57]. Tương tự, Nishat và cộng sự (2013) cho rằng TT&TH là những tác động tiêu cực hiện tại hoặc trong tương lai của BĐKH mà sẽ không được giải quyết bằng các nỗ lực thích ứng [62]. Theo UNFCCC, TT&TH do BĐKH gây ra được hiểu là những thiệt hại không tránh khỏi sau khi đã thực hiện các biện pháp giảm nhẹ và thích ứng [103].
TT&TH được tạo thành từ 02 yếu tố chính: (i) Tác động từ các hiện tượng thời tiết cực đoan (extrem weather events) và; (ii) Tác động từ các hiện tượng diễn biến chậm (slow-on-set events), cụ thể: - Các hiện tượng thời tiết cực đoan như: (i) nắng nóng, rét đậm/rét hại; (ii) mưa lớn; (iii) các loại hình thiên tai như bão, lũ, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất… có thể dẫn tới những TT&TH về con người, cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp và vốn tự nhiên cũng như các tác động lâu dài về xã hội. Nhìn chung, các hiện tượng thời tiết cực đoan đã được quan tâm nghiên cứu ở quy mô toàn cầu từ sớm. Thông tin về các hiện tượng thời tiết cực đoan có thể được thu thập từ thiên tai trong 11 quá khứ. - Các hiện tượng diễn biến chậm là sự thay đổi dần dần các yếu tố khí hậu như: (i) sự thay đổi nhiệt độ trung bình, lượng mưa trung bình, gia tăng nhiệt độ trong các thủy vực như các con sông, hồ hay đại dương; (ii) sự dâng cao của mực nước biển; (iii) quá trình axit hóa đại dương.
Những TT&TH gây ra có thể là sự chuyển đổi hay tổn thất hệ sinh thái, đa dạng sinh học, xói lở bờ biển hay mất đất, thay đổi mùa màng nông nghiệp, suy thoái đất, mất đi các ngành nghề hay yếu tố văn hóa truyền thống… ([53]; [68]; [79]). 2) Nội hàm “tổn thất” và “thiệt hại” Mặc dù UNFCCC không phân biệt giữa “tổn thất” và “thiệt hại” và hai thuật ngữ này được coi là đồng nghĩa trong các báo cáo của UNFCCC [103], tuy nhiên, một số nhà khoa học cũng đã cố gắng phân biệt, tách bạch giữa các tổn thất (losses) và thiệt hại (damages). Theo đó, “tổn thất (losses)” gắn liền với sự mất mát không thể phục hồi, ví dụ, tử vong do thiên tai liên quan đến nắng nóng hoặc sự phá hủy vĩnh viễn các rạn san hô, trong khi “thiệt hại (damage)” được coi là các mất mát có thể được giảm nhẹ hoặc sửa chữa, phục hồi, chẳng hạn như thiệt hại đối với các tòa nhà, tài sản [89]. Huq (2013) cũng cho rằng “tổn thất” là mất mát mãi mãi và không thể khôi phục trở lại, ví dụ về cuộc sống của con người, môi trường sống và loài động thực vật.
Còn “thiệt hại” là có thể phục hồi, sửa chữa được như hệ thống đường giao thông, đê điều. Theo Ủy ban kinh tế Liên hiệp quốc khu vực Châu Mỹ Latinh và Caribe (ECLAC) (2014), đối với TT&TH về môi trường, “thiệt hại” đề cập đến sự phá hủy, suy giảm hoặc thay đổi số lượng/chất lượng về tài sản, hàng hóa môi trường – những loại hàng hóa được khai thác từ vốn tự nhiên, còn “tổn thất” được định nghĩa là những mất mát chất lượng/số lượng dịch vụ môi trường – những loại không xác định được giá trên thị trường, dẫn đến suy giảm hoặc thay đổi năng suất sản xuất hoặc dòng chảy của các dịch vụ này [49]. 12 3) TT&TH liên quan đến BĐKH và TT&TH do thiên tai Hiện nay, rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã và đang được thực hiện để làm rõ sự “đóng góp” của yếu tố BĐKH do con người tạo ra đối với các hiện tượng thiên tai, thời tiết cực đoan, vốn vẫn xảy ra trong tự nhiên. Theo Báo cáo SREX Việt Nam, “các hiện tượng cực đoan” (thời tiết hay khí hậu) đề cập đến các hiện tượng vật lý ban đầu trong đó có nguyên nhân do con người hơn là các nguyên nhân khí hậu khác [35].
Trên thực tế, các hiện tượng thiên tai, cực đoan (bão, lũ, sạt lở đất.