Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu Hệ sinh thái rừng là một hệ sinh thái (HST) có tính đa dạng sinh học cao và giữ vai trò quan trọng đối với đời sống con người. Hệ sinh thái rừng cung cấp cho con người nhiều dịch vụ HST quan trọng như: thực phẩm, dược phẩm, gỗ, điều hoà khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, điều tiết nước, ổn định đất, hấp thụ carbon, và giải trí (MEA, 2005). Các dịch vụ HST đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống của con người (Close et al. Dịch vụ HST rừng là nguồn sinh kế, sức khỏe và giảm nghèo cho nhiều nhóm cư dân có liên quan (De Groot et al.
Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên để đáp ứng nhu cầu ngắn hạn đã tạo áp lực cho HST rừng và ảnh hưởng đến chất lượng đời sống con người (De Clercke, 2014). Việc tăng cường thâm canh nông nghiệp để cải thiện sinh kế người dân trong HST rừng đã làm giảm giá trị dịch vụ của HST và mức độ thâm canh càng cao thì sự suy giảm này xảy ra càng nhanh (Borner et al. Vì vậy, đây là thách thức đối với nhà quản lý liên quan đến việc lựa chọn hay ra quyết định đánh đổi giữa bảo tồn tài nguyên rừng và phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, các quyết định mang lại lợi ích cho nhiều bên liên quan được quan tâm.
Cách tiếp cận đòi hỏi phải có cái nhìn hệ thống, quan hệ nhân quả từ nhiều góc độ và ở các thứ bậc khác nhau trong quá trình ra quyết định (Rodríguez et al. Mối quan hệ giữa HST, lợi ích tiềm năng của dịch vụ HST, quản lý và hưởng lợi từ HST cho sinh kế của các nhóm cư dân khác nhau trong bối cảnh môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội bên ngoài luôn thay đổi là quan tâm cốt lõi cho việc ra quyết định. Những nghiên cứu khoa học và ứng dụng cách tiếp cận như thế thì rất hạn chế ở các nước khác, Việt Nam và đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Việc tận khai tài nguyên của HST rừng như khai thác gỗ, canh tác nông nghiệp thâm canh, phát triển thủy điện làm giảm dịch vụ HST.
Cụ thể, mất rừng xảy ra chủ yếu ở các nước Đông Nam Á, đã làm mất đi nguồn tài nguyên rừng, giảm đa dạng sinh học, mất khả năng phòng hộ đầu nguồn, giảm điều hòa vi khí hậu, cung cấp nước, chống xói mòn và hạn chế lũ (Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm, 2010). Bên cạnh đó, thâm canh hai – ba vụ lúa trong năm, sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật đã gây tác hại đến môi trường và sự bền vững của hệ thống canh tác. Canh tác nông nghiệp không bền vững làm biến đổi dịch vụ HST do giảm đa dạng sinh học, tăng dịch bệnh và giảm độ phì của đất (Thiaw et al. Có lẽ đó là chỉ chú trọng giá trị dịch vụ HST rừng mà thiếu mối liên hệ giữa giá trị dịch vụ HST rừng và sinh kế của các 1 nhóm cư dân khác nhau trong bối cảnh tác động của môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội.
Việc phát huy lợi ích từ các dịch vụ HST có ý nghĩa rất quan trọng cho phát triển bền vững. Ở Việt Nam, lợi ích từ dịch vụ HST rừng, đặc biệt là các dịch vụ liên quan cung cấp thực phẩm và dược phẩm được khai thác, nên đời sống cư dân đã được cải thiện (MEA, 2007). Khu vực đất dốc ở Việt Nam, thời gian qua áp dụng canh tác nông-lâm kết hợp (NLKH) (Nguyễn Viết Khoa, 2006), đã mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội, lẫn môi trường (Lundgren and Raintree, 1983; Toralba et al., 2016), nên rất phù hợp canh tác trong điều kiện biến đổi môi trường như hiện nay. Ở vùng ĐBSCL, canh tác luân canh lúa – màu được đánh giá là hệ thống mang lại hiệu quả kinh tế cao so với thâm canh lúa và đang được nhân rộng.
Mô hình luân canh như một lúa – hai màu, hai lúa – một màu và một lúa – một màu (Nguyễn Duy Cần, 2009). Vùng núi tỉnh An Giang có nhiều điều kiện thuận lợi khai thác nông lâm kết hợp, có tiềm năng về dược liệu, có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, nhưng khai thác chưa hiệu quả. Hệ sinh thái rừng vùng núi tỉnh An Giang thuộc hạ lưu sông Mekong, là một HST rừng phòng hộ đồi núi đặc trưng của Việt Nam với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên chứa đựng đa dạng sinh học cao, là trung tâm cung cấp dịch vụ HST (Close et al. Năm 1989 - 1991, HST rừng tự nhiên tỉnh An Giang suy giảm mạnh do việc khai phá đất đồi núi để trồng trọt, săn bắt động vật hoang dã, khai thác rừng lấy củi, gỗ, đốt than và dược liệu, diện tích rừng tự nhiên chỉ còn 5.470 ha năm 1991, giảm 68,3% sau hai năm khai thác.
Sau năm 1999, áp dụng chính sách trồng mới năm triệu ha rừng và giao khoán đất rừng cho cư dân địa phương quản lý, HST rừng đã phục hồi trở lại, diện tích rừng năm 2019 là 11.590 ha, trong đó diện tích rừng trồng chiếm 67,8% (Cục Thống kê tỉnh An Giang, 2019). Sự thay đổi diện tích rừng tự nhiên sang rừng trồng đã làm thay đổi các lợi ích của HST rừng, nhiều lợi ích từ tự nhiên dường như không còn nữa và được thay thế bằng các hệ thống canh tác nông nghiệp. Nhiều loài thực vật quý hiếm, loài đặc hữu, và loài bị đe dọa có tên trong danh mục thực vật nguy cấp, quý, hiếm của Nghị định 32/2006/NĐ-CP của chính phủ. Diện tích đất canh tác nông nghiệp của hai huyện là 73.372 ha, chiếm 76,8% diện tích đất tự nhiên.
Canh tác nông nghiệp chủ yếu là trồng rừng, cây ăn trái, rau màu, lúa thâm canh hai – ba vụ trong năm. Trước năm 2000, canh tác lúa mùa trên một vụ và lúa thần nông hai vụ trong năm là chủ yếu, sau năm 2000, chính sách bao đê tăng vụ nên diện tích trồng lúa hai vụ và ba vụ trong năm đã tăng lên (Nguyễn Duy Cần, 2009; Nguyễn Văn Minh, 2011). 2 Hệ sinh thái rừng vùng núi tỉnh An Giang thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, có 11.400 ha đất rừng phòng hộ đồi núi, là vùng có đông người nghèo và người dân tộc Khmer sinh sống. Dân số hai huyện 257.064 người, sinh kế cư dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo các xã ven chân núi chiếm tỷ lệ cao, xã Lê Trì ven chân núi Dài 29,7%, xã Núi Tô ven chân núi Cô Tô 31,1%, so với bình quân chung của hai huyện là 9,7% và so với tỉnh An Giang là 6,7%.
Người Khmer ở hai huyện chiếm 32% dân số, sống tập trung ở các xã ven chân núi (Cục Thống kê tỉnh An Giang, 2019). Nghèo trong khi sinh kế dựa vào canh tác nông nghiệp là yếu tố quan trọng dẫn đến thâm canh nông nghiệp hoặc phá rừng để canh tác nông nghiệp, là nguy cơ đe dọa công tác bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường, dẫn đến suy giảm dịch vụ HST rừng. Đây là mối quan hệ nhân quả của nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên không bền vững. Ở tỉnh An Giang, ngành lâm nghiệp vẫn chưa có giải pháp đồng bộ để cải thiện sinh kế cho cư dân trong HST rừng vùng núi, công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng không tiến triển và còn nhiều khó khăn (Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang, 2018).
Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, việc khai thác có hiệu quả dịch vụ HST và giảm tác động đến tài nguyên rừng, thông qua phương pháp tiếp cận dịch vụ HST gắn với sinh kế cư dân địa phương là rất cần thiết. Qua đó, giúp đánh giá các lợi ích và định lượng được tầm quan trọng của dịch vụ HST rừng đối với đời sống cư dân địa phương, để đưa ra các quyết định tốt hơn cho việc quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và cải thiện sinh kế người dân. Kết quả đề tài có ý nghĩa lớn về khoa học và ứng dụng ở bốn lĩnh vực chính: (1) cải tiến giá trị dịch vụ HST rừng núi An Giang trong bối cảnh thay đổi môi trường và kinh tế - xã hội, (2) cải tiến cơ hội hưởng lợi từ dịch vụ HST rừng và cải tiến sinh kế của các nhóm cư dân và giảm nghèo bền vững, (3) bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường – sinh thái đặc trưng bản địa, và (4) bảo tồn giá trị văn hóa – lịch sử, an ninh và quốc phòng tiểu vùng biên giới Tây Nam. Nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận gắn kết dịch vụ HST và sinh kế cư dân địa phương.
Đây là phương pháp tiếp cận mới chưa được áp dụng trong nghiên cứu và ứng dụng cho HST rừng núi tỉnh An Giang nói riêng và rất hạn chế ở các nơi khác của Việt Nam và các nước khác nói chung. Kết quả của đề tài góp phần vào việc triển khai thành công ở địa phương các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, tái cơ cấu lại nông nghiệp, và phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Phân tích mối quan hệ giữa dịch vụ HST rừng vùng núi tỉnh An Giang với sinh kế của cư dân sống trong HST nhằm nhận ra các dịch vụ chưa khai thác hợp lý và hiệu quả, các cơ hội và giải pháp cải tiến giúp nâng cao giá trị dịch vụ HST, qua đó góp phần tạo cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập người dân và quản lý tài nguyên thiên nhiên hiệu quả trong tương lai.2 Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu có ba mục tiêu cụ thể sau: - Xác định các loại dịch vụ HST rừng và giá trị dịch vụ HST rừng mà hộ dân địa phương hưởng lợi tại bốn xã nghiên cứu ở hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên; - Xác định mối quan hệ giữa dịch vụ HST rừng mà hộ dân hưởng lợi và sinh kế hộ dân sống trong HST đó; - Nhận ra các động lực và trở lực, và đề xuất giải pháp để nâng cao giá trị dịch vụ HST rừng, cải tiến cơ hội tiếp cận hưởng lợi dịch vụ HST rừng để phát triển sinh kế các nhóm cư dân khác nhau.3 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu của luận án là dịch vụ HST rừng vùng núi tỉnh An Giang có mối liên quan chặt chẽ với sinh kế của cư dân sống trong HST đó.