Tổng quan luận án
Hệ sinh thái (HST) rừng vùng núi tỉnh An Giang thuộc khu vực hạ lưu sông Mekong, đại diện cho hệ sinh thái rừng phòng hộ đồi núi độc nhất tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Khu vực này có tính đa dạng sinh học cao nhưng đồng thời đối mặt với tình trạng suy thoái tài nguyên nghiêm trọng. Giai đoạn 1989–1991, việc khai phá đất đồi núi để trồng trọt, khai thác củi gỗ, than hầm và dược liệu đã làm diện tích rừng tự nhiên suy giảm 68,3% (từ 17.250 ha năm 1989 xuống còn 5.470 ha năm 1991). Mặc dù các chương trình phục hồi rừng (Quyết định 327-CT và Quyết định 661/QĐ-TTg) đã giúp nâng diện tích rừng lên 11.590 ha vào năm 2019, tỷ lệ rừng trồng chiếm tới 67,8%, khiến cấu trúc và chức năng sinh thái bị biến đổi sâu sắc.
Vấn đề cấp thiết đặt ra xuất phát từ áp lực sinh kế của cộng đồng địa phương tại hai huyện miền núi biên giới Tri Tôn và Tịnh Biên. Khu vực này có 257.064 nhân khẩu, đồng bào dân tộc Khmer chiếm 32% dân số và tập trung chủ yếu ở các xã ven chân núi. Tỷ lệ hộ nghèo tại các xã ven núi ở mức rất cao (xã Núi Tô chiếm 31,1%, xã Lê Trì chiếm 29,7%), cao hơn nhiều so với mức trung bình của hai huyện (9,7%) và của tỉnh An Giang (6,7%). Thu nhập bình quân đầu người của huyện Tri Tôn đạt 36,8 triệu đồng/năm và Tịnh Biên đạt 37,5 triệu đồng/năm, thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh (42,5 triệu đồng/năm). Nghèo đói gắn liền với sinh kế thuần nông đã thúc đẩy hoạt động thâm canh và tận khai tài nguyên rừng, tạo nên vòng luẩn quẩn giữa nghèo đói và suy thoái môi trường.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây về lượng giá dịch vụ HST rừng thường chỉ tiếp cận từ góc độ quản lý vĩ mô của nhà nước hoặc đánh giá lợi ích cộng đồng chung, xem tài nguyên rừng là chủ thể cô lập và bỏ qua vai trò của nông hộ. Rất ít công trình phân tích mối liên kết nhân quả giữa giá trị dịch vụ HST rừng với các nguồn lực sinh kế của từng nhóm hộ trong bối cảnh tự nhiên và kinh tế - xã hội đặc thù của vùng núi Tây Nam Bộ.
Mục tiêu chung của luận án là phân tích mối quan hệ giữa dịch vụ HST rừng vùng núi tỉnh An Giang với sinh kế của cư dân sống trong HST, nhằm nhận diện các dịch vụ chưa được khai thác hợp lý, các cơ hội và giải pháp cải tiến giúp nâng cao giá trị dịch vụ HST, qua đó góp phần tạo việc làm, cải thiện thu nhập và quản lý tài nguyên thiên nhiên hiệu quả.
Luận án xác định 03 mục tiêu cụ thể:
- Xác định các loại dịch vụ HST rừng và giá trị dịch vụ HST rừng mà hộ dân địa phương hưởng lợi tại 04 xã nghiên cứu thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên;
- Xác định mối quan hệ giữa dịch vụ HST rừng mà hộ dân hưởng lợi và sinh kế hộ dân sống trong HST đó;
- Nhận ra các động lực và trở lực, đề xuất giải pháp nâng cao giá trị dịch vụ HST rừng, cải tiến cơ hội tiếp cận và hưởng lợi dịch vụ HST rừng để phát triển sinh kế cho các nhóm cư dân khác nhau.
Giả thuyết nghiên cứu: Dịch vụ HST rừng vùng núi tỉnh An Giang có mối liên quan chặt chẽ với sinh kế của cư dân sống trong HST đó. Do đó, các giải pháp cải tiến nâng cao giá trị dịch vụ HST và phân bố lợi ích hợp lý cho cư dân có thể giúp cải thiện sinh kế của họ và từ đó góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng.
Luận án tập trung giải quyết 02 câu hỏi nghiên cứu:
(1) Giá trị dịch vụ HST rừng vùng núi tỉnh An Giang có mối liên quan như thế nào đến sinh kế của cư dân sống trong HST đó?
(2) Các cơ hội và giải pháp nào có thể giúp phát huy giá trị dịch vụ HST và phân bổ lợi ích hợp lý tài nguyên đó để nâng cao sinh kế của cư dân địa phương?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào hai nhóm đối tượng chính gồm (1) Dịch vụ HST rừng và giá trị thị trường của dịch vụ HST rừng mà sinh kế hộ hưởng lợi trực tiếp (canh tác nông lâm nghiệp, khai thác lâm sản tự nhiên, hoạt động phục vụ du lịch); (2) Sinh kế của các nhóm hộ cư dân sinh sống trong HST rừng.
- Phạm vi nội dung: Giới hạn ở việc đo lường các dịch vụ có giá trị giao dịch trên thị trường (dịch vụ cung cấp và dịch vụ văn hóa/du lịch). Các dịch vụ điều tiết và hỗ trợ không có giá thị trường không thuộc phạm vi định giá của nghiên cứu.
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại 04 xã đại diện gồm Núi Tô và Lương Phi (huyện Tri Tôn), Lê Trì và An Hảo (huyện Tịnh Biên), tỉnh An Giang.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát quá trình biến đổi quản lý HST từ năm 2000 đến nay; số liệu điều tra nông hộ được thu thập năm 2019, tính toán giá trị dịch vụ HST và tình trạng kinh tế - xã hội dựa trên kỳ số liệu năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được xây dựng có hệ thống từ cấp độ toàn cầu đến bối cảnh ĐBSCL và tỉnh An Giang theo bốn nhóm chủ đề chính:
Thứ nhất, về cấu trúc, chức năng và diễn thế của hệ sinh thái rừng: Tác giả kế thừa định nghĩa sinh thái học của Odum (1978), phân loại cấu trúc rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) và Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan (2005). Các nghiên cứu quốc tế của Keenan et al. (2015) và nghiên cứu trong nước của Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm (2010) cho thấy xu hướng suy giảm rừng nguyên sinh toàn cầu và sự gia tăng của rừng trồng đơn loài với phẩm chất gỗ và chức năng sinh thái suy giảm. Tại An Giang, các ghi nhận của Nguyễn Đức Thắng (2003) xác định hệ thực vật rừng vùng núi có 815 loài bậc cao, 20 loài gỗ quý ghi trong Sách Đỏ, cùng 680 loài cây dược liệu.
Thứ hai, về dịch vụ và lượng giá dịch vụ hệ sinh thái rừng: Dựa trên phân loại của Chương trình Đánh giá Thiên niên kỷ (MEA, 2005, 2007) thành bốn nhóm chức năng (cung cấp, điều tiết, văn hóa, hỗ trợ). Tác giả tổng thuật các nghiên cứu lượng giá kinh tế của Munang et al. (2011), Bladen (2013), Fisher et al. (2009), Bateman et al. (2011). Tại ĐBSCL, các nghiên cứu tập trung vào giá trị bảo tồn và dịch vụ cộng đồng như nghiên cứu tại Vườn quốc gia (VQG) Tràm Chim của Do Nam Thang and Bennett (2009), Đào Văn Thắng và ctv. (2019); VQG U Minh Hạ của Vo Quoc Tuan et al. (2014), Lê Văn Dũ và ctv. (2018); VQG U Minh Thượng của Trần Văn Kiệt và ctv. (2018); rừng bần Cù Lao Dung của Mai Văn Nam và Nguyễn Văn Hoà (2020); nghiên cứu sẵn lòng chi trả của Huynh Viet Khai and Yabe (2014, 2015); và nghiên cứu chuỗi giá trị nông nghiệp, thủy sản của Berg et al. (2012, 2017), Vũ Anh Pháp và ctv. (2014), Nguyễn Thị Kim Quyên và Yakupitiyage (2016).
Thứ ba, về sinh kế và tác động qua lại với hệ sinh thái: Khung sinh kế bền vững của DFID (1999) và mối quan hệ giữa kết quả sinh kế với các nguồn lực sinh kế của Brown et al. (2001) được tác giả phân tích sâu. Tác động tiêu cực của thâm canh nông nghiệp đến suy giảm dịch vụ HST được dẫn chứng từ Borner et al. (2007) ở rừng Amazon và Berg et al. (2017) ở ĐBSCL. Mô hình nông lâm kết hợp bền vững được phân tích qua các công trình kinh điển của Lundgren and Raintree (1983), Toralba et al. (2016), cùng các nghiên cứu chuyển đổi hệ thống canh tác lúa - màu vùng đồi núi của Đặng Kiều Nhân (2009), Nguyễn Duy Cần (2009), Nguyễn Văn Minh (2011), Đặng Thị Kim Phượng và Đỗ Văn Xê (2011).
Thứ tư, về chính sách và cơ chế quản lý dịch vụ hệ sinh thái: Tác giả điểm lại cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) trên thế giới qua Figueroa et al. (2016), Wegner (2015), Nguyen Thi Y Ly and Pham Thanh Nam (2014), và tại Việt Nam qua Phạm Thu Thuỷ và ctv. (2012, 2018), Do Trong Hoang et al. (2019), Nguyễn Thị Đông và Nguyễn Thu Huyền (2019). Các chính sách quốc gia (Nghị định 99/2010/NĐ-CP, Nghị định 156/2018/NĐ-CP, Quyết định 1976/QĐ-TTg, Nghị định 65/2017/NĐ-CP) và chính sách cấp tỉnh được tổng kết.
Vị trí và khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình tại ĐBSCL chưa gắn lượng giá kinh tế của dịch vụ HST trực tiếp với nông hộ và chưa kiểm định định lượng mối tương quan giữa các nhóm nguồn lực sinh kế với mức độ hưởng lợi từ HST. Luận án chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách đặt nông hộ làm trung tâm, phân tích đồng thời các chiều cạnh sinh kế và giá trị kinh tế trực tiếp tại vùng đồi núi An Giang.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu dựa trên sự tích hợp của ba mô hình lý thuyết: Khung đánh giá dịch vụ HST thiên niên kỷ (MEA, 2005), Khung thể hiện giá trị của HST và đa dạng sinh học (TEEB / Sukhdev et al., 2010) và Khung phân tích sinh kế bền vững (DFID, 1999). Theo khung lý thuyết này, dịch vụ HST rừng tạo ra các dòng giá trị cung cấp lợi ích cho sinh kế của cộng đồng địa phương. Mức độ hưởng lợi chịu sự chi phối của các yếu tố bên trong (năm nguồn lực sinh kế của hộ) và các yếu tố bên ngoài (điều kiện tự nhiên, thị trường, cơ sở hạ tầng, chính sách quản lý). Ngược lại, các quyết định và hoạt động sinh kế của hộ sẽ tác động trực tiếp lên cấu trúc và tính bền vững của HST rừng.
Thiết kế nghiên cứu sử dụng hướng tiếp cận phương pháp hỗn hợp (mixed methods), kết hợp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và phân tích thống kê đa biến:
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Phỏng vấn chuyên gia am hiểu (KIP): Thực hiện tại cấp tỉnh và cấp huyện với các cơ quan quản lý nông nghiệp, kiểm lâm nhằm nắm bắt bối cảnh chung; phỏng vấn KIP tại 07 ấp đại diện thuộc 04 xã nghiên cứu để thu thập thông tin về bối cảnh kinh tế - xã hội và sinh kế cộng đồng.
- Thảo luận nhóm tập trung (FGD): Tổ chức 04 cuộc thảo luận nhóm với sự tham gia của các tác nhân sinh kế đại diện nhằm nhận diện các loại dịch vụ HST, xác định các nhóm đối tượng hưởng lợi và phân loại các lát cắt sinh thái.
- Điều tra khảo sát nông hộ bằng bảng câu hỏi cấu trúc: Mẫu khảo sát gồm 223 hộ nông dân được lựa chọn theo phương pháp phân tầng đại diện tại 04 xã (Núi Tô, Lê Trì, Lương Phi, An Hảo). Nội dung phỏng vấn bao quát toàn diện các đặc điểm kinh tế - xã hội, các nguồn lực sinh kế, các loại hình dịch vụ HST rừng mà hộ khai thác, lượng giá kinh tế các sản phẩm và các trở ngại trong sản xuất.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
- Phương pháp tính toán giá trị kinh tế: Áp dụng phương pháp giá thị trường trực tiếp để tính toán doanh thu, chi phí và lợi nhuận từ ba nhóm dịch vụ: sản phẩm canh tác nông lâm nghiệp, sản phẩm lâm sản tự nhiên khai thác (củi, rau rừng, dược liệu, nước) và các hoạt động cung ứng dịch vụ phục vụ du lịch.
- Phân tích thống kê mô tả và so sánh: Sử dụng phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) để so sánh giá trị dịch vụ HST và các nguồn lực sinh kế giữa các nhóm hộ; sử dụng phân tích bảng chéo (cross-tabulation) với kiểm định Chi bình phương ($ \chi^2 $) để xác định mối liên hệ giữa nhóm hộ với việc tiếp cận các dịch vụ.
- Phân tích tương quan chính tắc (Canonical Correlation Analysis - CCA): Luận án sử dụng CCA để xác định mối quan hệ đa biến giữa nhóm biến nguồn lực và kết quả sinh kế (gồm 26 biến số $Y$) với nhóm biến giá trị thu nhập từ các dịch vụ HST rừng (gồm 04 biến số $X$: thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập từ khai thác sản phẩm tự nhiên, thu nhập từ dịch vụ du lịch, và thu nhập khác).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập cơ sở khoa học của đề tài. Tác giả luận giải tính cấp bách của việc cân bằng mục tiêu kép giữa phát triển sinh kế và bảo tồn rừng phòng hộ vùng Thất Sơn. Chương này xác định rõ mục tiêu nghiên cứu, giả thuyết và 02 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi. Tác giả vạch rõ giới hạn nghiên cứu: chỉ tập trung vào các dịch vụ có giá trị giao dịch thị trường (dịch vụ cung cấp và du lịch), không lượng giá dịch vụ điều tiết và hỗ trợ do thiếu công cụ định giá cấp hộ; phạm vi không gian đặt tại 04 xã đại diện cho hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Phần đóng góp mới nhấn mạnh việc phát triển khung lý thuyết lấy con người làm trung tâm và ứng dụng kỹ thuật thống kê tương quan chính tắc 26 biến sinh kế kết hợp 04 biến thu nhập.
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 2 cung cấp hệ thống cơ sở lý luận và bức tranh tổng quan về địa bàn nghiên cứu:
- Phân tích khái niệm, cấu trúc năm tầng tán của rừng nhiệt đới, chức năng sinh thái và quy luật diễn thế rừng tự nhiên và rừng trồng.
- Phân loại bốn nhóm dịch vụ HST theo MEA (2005) và các lý thuyết định giá tài nguyên (chi phí du hành, giá thị trường, chi trả dịch vụ môi trường).
- Tổng thuật các nghiên cứu thực nghiệm tại ĐBSCL về hệ thống canh tác lúa, thủy sản và rừng ngập mặn.
- Tổng quan điều kiện tự nhiên, tài nguyên sinh vật và bối cảnh kinh tế - xã hội vùng núi An Giang: Địa hình gồm 37 ngọn đồi núi dốc từ $15^\circ - 25^\circ$, độ cao 50–705 m (trong đó nổi bật là vùng Thất Sơn: Núi Cấm, Núi Dài, Núi Cô Tô...). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 28–$29^\circ\text{C}$, lượng mưa 1.500 mm/năm. Đất đai từ chân núi cao độ 30 m trở lên là đất xám phong hóa từ đá Granit nghèo mùn và nhiều cát, rất dễ bị rửa trôi.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết tiến trình nghiên cứu từ xây dựng khung lý thuyết đến triển khai thực địa:
- Xác định khung phân tích tích hợp giữa dịch vụ HST và sinh kế hộ.
- Trình bày phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Phân chia địa bàn thành 03 tiểu HST đặc trưng thông qua sơ đồ lát cắt sinh thái: (1) Tiểu HST đồi núi (cao độ từ 30 m trở lên đỉnh núi), (2) Tiểu HST ruộng trên (chân núi xuống vùng đất cao nhờ nước mưa, không ngập lũ), (3) Tiểu HST ruộng dưới (vùng đất thấp, ngập lũ từ 2–5 tháng).
- Thiết kế chọn mẫu điều tra: Phỏng vấn KIP cấp tỉnh/huyện, KIP 07 ấp; tổ chức 04 cuộc FGD; điều tra ngẫu nhiên phân tầng 223 hộ nông dân dựa trên tỷ lệ hoạt động sinh kế.
- Bảng mô tả chi tiết 26 biến nguồn lực sinh kế ($Y$) và 04 nhóm biến thu nhập dịch vụ ($X$), cùng quy trình xử lý dữ liệu qua phần mềm thống kê bằng các mô hình ANOVA, bảng chéo và CCA.
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Chương 4 là chương trọng tâm của luận án, được cấu trúc thành ba phần chính:
Phần 4.1: Dịch vụ hệ sinh thái và giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng
Kết quả khảo sát xác định ba nhóm dịch vụ HST có giá trị kinh tế trực tiếp: canh tác nông nghiệp, khai thác sản phẩm tự nhiên và phục vụ du lịch sinh thái.
- Dịch vụ nông nghiệp: Chiếm tỷ trọng kinh tế áp đảo, có 43,4% hộ hưởng lợi trực tiếp. Hiệu quả kinh tế phân hóa rõ rệt theo tiểu HST: Mô hình nông - lâm kết hợp (cây rừng kết hợp xoài, bưởi) ở tiểu HST đồi núi và mô hình chuyên canh khoai mì ở tiểu HST ruộng trên đem lại giá trị kinh tế cao nhất. Ngược lại, độc canh lúa ở ruộng dưới chịu rủi ro lớn từ biến động thị trường và lũ lụt.
- Sản phẩm rừng tự nhiên: Có 7,2% hộ khai thác củi với giá trị kinh tế bình quân đạt 14,4 triệu đồng/hộ/năm; 17% hộ khai thác rau rừng tự nhiên với giá trị bình quân khoảng 400.000 đồng/hộ/năm. Các sản phẩm dược liệu và nước tự nhiên từ đồi núi là nguồn bổ trợ sinh kế thiết yếu cho các hộ khó khăn.
- Dịch vụ du lịch: Có 12,6% hộ tham gia và hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động dịch vụ, xe thồ, ẩm thực, tập trung chủ yếu tại xã An Hảo (nơi có Khu du lịch Núi Cấm), giá trị thu nhập bình quân đạt 5,6 triệu đồng/hộ/năm.
Bảng tổng hợp đặc điểm khai thác và giá trị các dịch vụ HST rừng chính từ khảo sát:
| Loại hình dịch vụ HST rừng |
Tiểu HST phân bố chính |
Tỷ lệ hộ hưởng lợi trực tiếp (%) |
Giá trị kinh tế bình quân (triệu đồng/hộ/năm) |
Ghi chú đặc điểm kinh tế - xã hội |
| Canh tác nông nghiệp (Nông - lâm, hoa màu, lúa) |
Đồi núi, ruộng trên, ruộng dưới |
43,4% |
Đạt mức cao nhất trong các nguồn thu từ HST |
Nông - lâm kết hợp (đồi núi) và khoai mì (ruộng trên) cho hiệu quả cao nhất |
| Khai thác củi tự nhiên |
Đồi núi (núi Dài, núi Cô Tô...) |
7,2% |
14,4 |
Phục vụ nhu cầu chất đốt và bán lẻ sinh hoạt |
| Khai thác rau rừng |
Đồi núi |
17,0% |
~0,4 (khoảng 400.000 đồng) |
Khai thác theo mùa vụ, tính chất tự cung tự cấp và bán lẻ |
| Dịch vụ phục vụ du lịch |
Đồi núi, ven chân núi |
12,6% |
5,6 |
Tập trung chủ yếu tại xã An Hảo (Khu du lịch Núi Cấm) |
Phần 4.2: Mối quan hệ sinh kế với dịch vụ hệ sinh thái rừng
Phân tích bảng chéo và ANOVA cho thấy sự phân hóa sâu sắc theo nguồn lực hộ:
- Nhóm hộ khá có lợi thế vượt trội về diện tích đất canh tác nông nghiệp, nguồn nhân lực và vốn xã hội. Do đó, nhóm hộ này tiếp cận và thu được giá trị kinh tế từ dịch vụ nông nghiệp và sản phẩm rừng nhiều hơn hẳn nhóm hộ nghèo. Nhờ vị thế hạ tầng kinh tế tốt, hộ khá cũng dễ dàng tham gia và hưởng lợi cao hơn từ các dịch vụ du lịch.
- Phân tích tương quan chính tắc (CCA) giữa 26 biến nguồn lực sinh kế và 04 biến thu nhập cho ra 04 cặp tương quan có ý nghĩa thống kê. Đồ thị trọng số tương quan khẳng định các biến đất đai, số lao động, trình độ học vấn có tương quan thuận mạnh nhất với các biến thu nhập từ nông nghiệp và du lịch. Phát hiện này bác bỏ quan điểm truyền thống cho rằng người nghèo là đối tượng khai thác và hưởng lợi chính từ tài nguyên rừng.
Phần 4.3: Yếu tố chi phối và giải pháp nâng cao giá trị dịch vụ hệ sinh thái
- Động lực chi phối: Sự hình thành thị trường nông sản giá trị cao; các chính sách bảo vệ rừng (327, 661); quy hoạch phát triển dược liệu (Quyết định 1976/QĐ-TTg, Nghị định 65/2017/NĐ-CP); đầu tư hạ tầng du lịch Núi Cấm, Tức Dụp.
- Trở lực chi phối: Biến đổi khí hậu gây hạn hán khốc liệt và thiếu nước tưới trong mùa khô; đất đai phân tán; tình trạng thiếu vốn sản xuất của đồng bào Khmer; giá cả nông sản bấp bênh; cơ chế chuỗi liên kết dược liệu chưa kết nối doanh nghiệp; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) chưa hoàn thiện ở cấp địa phương.
Chương 5: Kết luận và đề xuất
Chương 5 đúc kết các kết luận khoa học rút ra từ toàn bộ quá trình nghiên cứu và đưa ra hệ thống kiến nghị chính sách nhằm phát huy giá trị dịch vụ HST rừng song hành với nâng cao sinh kế và bảo tồn tài nguyên.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã công bố các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:
Đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật:
- Thiết lập khung lý thuyết mới kết hợp giữa Khung đánh giá HST thiên niên kỷ (MEA), Khung kinh tế sinh thái (TEEB) và Khung sinh kế bền vững (DFID). Điểm cải tiến căn bản là đặt con người và nông hộ làm trung tâm của quá trình phân tích lượng giá, coi sinh kế là một thành phần hữu cơ không thể tách rời khỏi HST rừng.
- Ứng dụng kỹ thuật phân tích tương quan chính tắc (CCA) xử lý đồng thời tập hợp tuyến tính gồm 26 biến thuộc tính nguồn lực/kết quả sinh kế ($Y$) và 04 biến cấu trúc thu nhập ($X$). Phương pháp này chứng minh tính vượt trội về độ bao quát và độ tin cậy so với các phương pháp tương quan đơn biến thông thường, khắc phục tình trạng phân mảnh dữ liệu kinh tế - xã hội.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Phát hiện mang tính bước ngoặt về đối tượng hưởng lợi: Trái ngược với giả định phổ biến trước đây cho rằng người nghèo là đối tượng phụ thuộc nhiều nhất và là nguyên nhân chính gây tổn hại tài nguyên rừng, nghiên cứu tại vùng núi An Giang đã chứng minh rằng nhóm hộ khá (có diện tích đất lớn, nhiều lao động, vốn mạnh) mới chính là nhóm hưởng lợi nhiều nhất từ các dịch vụ cung cấp và dịch vụ du lịch của HST rừng.
- Cung cấp cơ sở định lượng về ba tiểu HST và phân bố lợi ích thực tế: Làm rõ giá trị vượt trội của mô hình nông - lâm kết hợp trên đất dốc và mô hình khoai mì trên đất ruộng trên, đồng thời định lượng hóa doanh thu từ khai thác củi (14,4 triệu đồng/hộ/năm), rau rừng (400.000 đồng/hộ/năm) và du lịch (5,6 triệu đồng/hộ/năm).
Các giải pháp và kiến nghị đề xuất từ kết quả nghiên cứu:
- Nâng cao hiệu quả sản xuất tại hai tiểu HST ruộng trên và ruộng dưới nhằm tạo việc làm và thu nhập tại chỗ, từ đó giảm áp lực khai thác xâm hại lên tiểu HST đồi núi; đồng thời phát triển giá trị thương mại của mô hình nông - lâm kết hợp (cây rừng kết hợp cây ăn trái), dược liệu bản địa và nguồn nước tự nhiên trên vùng đồi núi.
- Tăng cường năng lực của hộ nông dân thông qua khuyến nông, đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức về toàn bộ các giá trị dịch vụ HST; xây dựng các chính sách tín dụng và hỗ trợ chuyển đổi nghề cho nhóm hộ nghèo, hộ người Khmer thiếu đất sản xuất nhằm đa dạng hóa sinh kế và giảm nghèo bền vững.
- Hoàn thiện chính sách và cơ chế đầu tư từ chính quyền địa phương: Phân bổ ngân sách thực thi quy hoạch bảo tồn cây dược liệu, kết nối chuỗi giá trị nông sản - dược liệu với doanh nghiệp tiêu thụ; thiết lập cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) phù hợp với thực tế vùng núi để bảo đảm sự công bằng trong chia sẻ lợi ích và trách nhiệm bảo vệ rừng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi lượng giá: Nghiên cứu mới chỉ tập trung lượng giá các dịch vụ có giá trị giao dịch thị trường trực tiếp (dịch vụ cung cấp và dịch vụ văn hóa du lịch). Các dịch vụ điều tiết và hỗ trợ có giá trị phi thị trường vô hình (điều hòa vi khí hậu, chống xói mòn đất, lưu giữ nguồn nước ngầm, lưu trữ carbon, bảo tồn nguồn gen quý) chưa được định giá do hạn chế về phương pháp định giá ở cấp độ nông hộ.
- Về giới hạn không gian và dữ liệu: Nghiên cứu tập trung tại 04 xã đại diện của hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Số liệu lượng giá kinh tế và thuộc tính sinh kế dựa trên khảo sát thực địa của năm tài chính 2018–2019, chưa bao quát được các biến động chu kỳ nhiều năm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu áp dụng các phương pháp định giá phi thị trường (như đánh giá ngẫu nhiên - CVM, chi phí du hành mở rộng, hoặc mô hình phân tích chi phí - lợi ích mở rộng) để lượng giá toàn diện giá trị của các dịch vụ điều tiết và hỗ trợ của HST rừng vùng núi An Giang.
- Nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) tự nguyện giữa các đơn vị kinh doanh du lịch, công ty cấp nước, doanh nghiệp chế biến dược liệu với các cộng đồng bảo vệ rừng địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Phát triển nông thôn, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Quản lý đất đai, Kinh tế nông nghiệp và Lâm nghiệp: Cung cấp khung lý thuyết tích hợp và quy trình ứng dụng phân tích tương quan chính tắc (CCA) trong nghiên cứu kinh tế - sinh thái.
- Các nhà quản lý, hoạch định chính sách cấp tỉnh và cấp huyện (Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và PTNT, Ban Quản lý rừng phòng hộ, UBND huyện Tri Tôn và Tịnh Biên): Cung cấp bộ số liệu thực chứng để xây dựng các chính sách giảm nghèo có mục tiêu, chính sách giao khoán đất rừng, và các chương trình tái cơ cấu cây trồng phù hợp với đặc thù 03 tiểu HST.
- Các tổ chức phát triển nông thôn và bảo tồn đa dạng sinh học: Cung cấp bằng chứng thực địa về mối quan hệ giữa công bằng xã hội và hiệu quả bảo vệ tài nguyên thiên nhiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nam Bộ.
Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm: Bộ chỉ tiêu 26 biến sinh kế, sơ đồ phân chia lát cắt sinh thái 03 tiểu HST, và các bảng dữ liệu điều tra chi tiết về thu nhập từ nông lâm nghiệp và du lịch.
Câu hỏi thường gặp
-
Dịch vụ hệ sinh thái rừng nào mang lại giá trị kinh tế trực tiếp cao nhất cho người dân địa phương tại vùng núi tỉnh An Giang?
Dịch vụ canh tác nông nghiệp mang lại giá trị kinh tế cao nhất và chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng giá trị thu nhập từ HST rừng, với 43,4% hộ dân hưởng lợi trực tiếp. Trong đó, hệ thống canh tác nông - lâm kết hợp (cây rừng kết hợp cây ăn trái như xoài, bưởi) ở tiểu HST đồi núi và canh tác khoai mì ở tiểu HST ruộng trên là những mô hình đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
-
Phát hiện mới mang tính then chốt của luận án về mối quan hệ giữa tình trạng kinh tế của hộ (khá/nghèo) với mức độ hưởng lợi dịch vụ rừng là gì?
Nghiên cứu phát hiện ra rằng nhóm hộ khá (sở hữu diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn hơn, nhiều lao động và điều kiện vốn tốt hơn) lại là đối tượng tiếp cận và hưởng lợi nhiều nhất từ các sản phẩm nông nghiệp và lâm sản của HST rừng, đồng thời thu được lợi nhuận cao hơn từ dịch vụ du lịch. Kết quả này trái ngược với các nhận định truyền thống cho rằng người nghèo là đối tượng phụ thuộc nhiều nhất và là tác nhân chính gây tổn hại tài nguyên rừng.
-
Tỷ lệ tham gia và mức thu nhập bình quân từ việc khai thác củi, rau rừng và dịch vụ du lịch của người dân tại địa bàn nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?
- Khai thác củi: Có 7,2% số hộ tham gia khai thác, giá trị kinh tế thu được bình quân đạt 14,4 triệu đồng/hộ/năm.
- Khai thác rau rừng: Có 17% số hộ tham gia, giá trị kinh tế thu được bình quân khoảng 400.000 đồng/hộ/năm.
- Dịch vụ du lịch: Có 12,6% số hộ tham gia hưởng lợi trực tiếp, diễn ra chủ yếu tại xã An Hảo (nơi có Khu du lịch Núi Cấm), với thu nhập bình quân đạt 5,6 triệu đồng/hộ/năm.
- Luận án đã sử dụng kỹ thuật phân tích thống kê nào để giải quyết trọn vẹn mối quan hệ đa biến giữa sinh kế hộ và giá trị dịch vụ hệ sinh thái?
Luận án sử dụng phương pháp phân tích tương quan chính tắc (CCA). Mô hình phân tích tập hợp tuyến tính đồng thời giữa nhóm biến sinh kế gồm 26 biến số (thể hiện các thuộc tính nguồn lực nhân lực, vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và kết quả sinh kế) với nhóm biến kinh tế gồm 04 biến số thu nhập từ các dịch vụ HST (thu nhập nông nghiệp, thu nhập lâm sản tự nhiên, thu nhập du lịch, và thu nhập khác), xác định được 04 cặp tương quan có ý nghĩa thống kê.
Kết luận
Luận án của tác giả Đặng Thị Thanh Quỳnh đã giải quyết một cách toàn diện mối quan hệ biện chứng giữa giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng phòng hộ vùng núi tỉnh An Giang và sinh kế của cộng đồng nông hộ địa phương. Bằng cách tiếp cận hỗn hợp kết hợp giữa đánh giá có sự tham gia và phân tích tương quan chính tắc đa biến, công trình đã chứng minh vai trò kinh tế quyết định của các dịch vụ nông nghiệp, lâm sản và du lịch đối với từng tiểu hệ sinh thái. Phát hiện thực nghiệm quan trọng về việc nhóm hộ khá hưởng lợi vượt trội so với nhóm hộ nghèo đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc chính sách quản lý tài nguyên rừng theo hướng công bằng, kết hợp phát triển nông lâm kết hợp, quy hoạch dược liệu với hỗ trợ sinh kế cho các nhóm yếu thế.