Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU oạt động CT trong CSSKSS đối với NCNNC là một trong những vấn đề dành được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới cả về mặt l luận và thực ti n. hững vấn đề SKSS của lao động di cư nói chung và NCNNC nói riêng đã và đang trở thành những vấn đề xã hội cấp thiết; vì vậy, việc giải quyết thấu đáo những vấn đề này góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Ch nh vì thế, để có những cơ sở triển khai đề tài đã chọn, tác giả đã kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, đánh giá, phân t ch và đúc kết quan trọng liên quan đến những vấn đề nền tảng của luận án thông qua các công trình l luận và thực ti n trong và ngoài nước. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.
Các nghiên cứu liên quan đến thực trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản của nữ lao động di cư và nữ công nhân nhập cư Các nghiên cứu liên quan CSSKSS trên thế giới cho thấy nữ lao động di cư và NCNNC là nhóm d bị tổn thương khi đối diện các vấn đề SKSS, th o đó kế hoạch hóa gia đình; các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhi m khuẩn đường sinh sản, HIV/AIDS; quan hệ tình dục không an toàn và mang thai ngoài ý muốn được xem là những vấn đề SKSS phổ biến thường được đề cập trong nhóm cư dân này. Trong lĩnh vực kế hoạch hóa gia đình, nghiên cứu của p, Wan‐Yim và cộng sự (2011) về “ ế t ứ t độ ề tr t ữ độ ậ ưở r đạ ” Knowledge of and attitude to contraception among migrant woman workers in mainland China) chỉ ra rằng lao động nữ di cư tại Quảng Đông, Trung Quốc có những hiểu biết về tránh thai thấp cũng như có những nhận thức sai lệch về cách sử dụng các biện pháp tránh thai tương đối cao. Chẳng hạn họ tin rằng có thể chấp nhận và an toàn khi tham gia vào các hành vi tình dục mà không cần sử dụng các biện pháp tránh thai hay việc sử dụng biện pháp tránh thai sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và giảm sự thỏa mãn tình dục. Về hành vi, nghiên cứu “ tì d sử d ng bi n pháp tránh thai c động nữ trẻ ậ ư ư ậ đì tại 5 thành ph ở Trung Qu ” (Sexual behaviour and contraceptive use among unmarried, young women migrant workers in five cities in China) của Zheng và cộng sự (2001) cho thấy đa phần NCNNC trẻ chưa lập gia đình ở năm thành phố của Trung Quốc đều không bao giờ sử dụng biện pháp tránh thai trong quan hệ tình dục trước hôn nhân.
Họ chỉ nhận thức được các biện pháp tránh thai sau khi mang 11 thai ngoài ý muốn và bắt đầu sử dụng một phương pháp chỉ sau khi họ sinh con hoặc phá thai. Trong khi đó, nghiên cứu của Lu và cộng sự (2012) về “ ì trạng sức khỏe sinh sản, tình d c và kiến thức liên quan c a nữ động nhậ ư tại Quảng Châu, Trung Qu c: khảo sát cắt ” Sexual and reproductive health status and related knowledge among female migrant workers in Guangzhou, China: a cross-sectional survey) cũng cho thấy tồn tại tình trạng không sử dụng bao cao su thường xuyên trong nhóm C C chưa lập gia đình khi quan hệ tình dục dù đây được xem là biện pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Lí do chính cho việc không sử dụng các biện pháp tránh thai đến từ việc mất khoái cảm, không có phương pháp khi cần thiết và sự phản đối của đối tác [194] hoặc muốn làm hài lòng bạn tình, không có thông tin về nơi cung cấp các dịch vụ tránh thai, những rào cản về mặt xã hội, tâm lý và kinh tế [238]. Trong vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân, nghiên cứu của Zheng và cộng sự (2001) về “ tì d sử d ng bi n pháp tránh thai c động nữ trẻ ậ ư ư ậ đì tại 5 thành ph ở Trung Qu ” (Sexual behaviour and contraceptive use among unmarried, young women migrant workers in five cities in China) cho thấy NCNNC trẻ chưa lập gia đình cảm thấy có thể chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân nếu cả hai đã lên kế hoạch kết hôn hoặc đ nh hôn và cũng không nên can thiệp vì đó là vấn đề riêng tư cá nhân.
ề hành vi, ở Nepal, nghiên cứu “ r m y tì d độ trẻ ậ ưở Ne ” In forests and factories: sexual behaviour among young migrant workers in Nepal) của Puri, M. (2004) chỉ ra rằng tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân vẫn tồn tại trong nhóm những công nhân trẻ nhập cư bởi lẽ việc tiếp cận với môi trường mới, có cơ hội tương tác với bạn khác giới nhiều hơn đã dẫn đến các hành vi tình dục có xu hướng công khai hơn trước. Những NCNNC này có những hành vi tình dục nguy cơ khi thiếu các biện pháp bảo vệ an toàn. một góc nhìn khác, nghiên cứu của Nishigaya, K.
(2002) về “Nữ â m ym y mặ ở m d ư, mạ dâm IV/AIDS” (Female garment factory workers in Cambodia: migration, sex work and HIV/AIDS) đối với C C trong lĩnh vực may mặc ở Cambodia cho thấy do xuất phát từ nền tảng kinh tế hạn chế, học vấn thấp và nghĩa vụ chu cấp cho gia đình đã dẫn đến việc tham gia hành vi tình dục không an toàn trong nhóm cư dân này. Khi đối diện với việc mang thai ngoài ý 12 muốn, nghiên cứu của UNFPA (2014) “ ổ ề sức khỏe sinh sản, tình d c và quyền c a công nhân nhậ ư m y m y mặ ở m ” Literature Review on Sexual and Reproductive Health and Rights of Migrant Garment Factory Workers in Cambodia) cho thấy tình trạng nữ công nhân (75%) tìm kiếm các dịch vụ phá thai từ các bệnh viện và phòng khám tư nhân và hạn chế tìm đến bệnh viện công. Thậm chí, nghiên cứu của Wu Rulian (2011) “Sức khỏe sinh sản và nhận thức về gi i trong dân s d ư ở Thâm Quyến (Dựa trên nghiên cứu tại 10 doanh nghi p Thâm Quyế )” Re r d t e e t d Ge der Aw re ess S e z e ’s Migrant Population (Based on research within 10 Shenzhen enterprises) cho thấy một số lượng đáng kể phụ nữ có thai ngoài ý muốn (46%) sẽ phá thai tại nhà hoặc ở các phòng khám tư nhân nhỏ. Bên cạnh đó, công nhân nhập cư được xác định là nhóm dân số có nguy cơ cao nhi m các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS.
Kết quả nghiên cứu của Lu và cộng sự (2012) cho thấy tỉ lệ cao NCNNC mắc các triệu chứng bệnh nhi m khuẩn đường sinh sản chưa bao giờ điều trị. Đặc biệt đối với những nữ công nhân chưa lập gia đình càng trở nên khó khăn hơn bởi lẽ sự ngại ngùng, tính chính thống trong tìm kiếm thông tin liên quan. Trong khi đó, đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS, công nhân nhập cư trẻ trong nghiên cứu của Puri, Mahesh & John Cleland (2006) về “ tì d c và nhận thức về y ơ nhiễm IV/AIDS â m y trẻ ậ ư ở Ne ” Sexual behavior and perceived risk of HIV/AIDS among young migrant factory workers in Nepal) có nhận thức và thông tin liên quan không đầy đủ, thậm chí một số còn có những quan niệm sai lầm, chẳng hạn họ cho rằng bản thân có t nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS dù họ đang có hành vi tình dục với nhiều đối tác và việc sử dụng bao cao su không thường xuyên hay họ tin rằng các cô gái không thể mang thai từ lần quan hệ tình dục đầu tiên. Ngoài ra, những phát hiện trong nghiên cứu của Nishigaya, K.
(2002) về “Nữ â m y m y mặ ở m d ư, mạ dâm IV/AIDS” (Female garment factory workers in Cambodia: migration, sex work and HIV/AIDS) chỉ ra rằng với những người bạn trai, NCNNC trong lĩnh vực may mặc ở Cambodia xác định là người yêu chứ không phải là khách dù vẫn dựa trên quan hệ tình dục có trả tiền. Ch nh quan điểm này đã góp phần tạo nên tỉ lệ sử dụng bao cao su thấp và dẫn đến những nguy cơ lây nhi m 13 HIV. Việc nhi m HIV/AIDS dẫn đến nỗi sợ xung đột hôn nhân, mất hỗ trợ xã hội và tài chính, sự kỳ thị, phân biệt khiến NCNNC không tiết lộ cho chồng/đối tác về tình trạng nhi m HIV hay hạn chế về khả năng đàm phán với đối tác của họ về việc sử dụng bao cao su [106]. Các nguyên nhân tạo nên rào cản đối với việc tìm kiếm các dịch vụ CSSKSS của nữ lao động nhập cư và NCNNC chủ yếu đến từ: Nhận thức về CSSKSS còn hạn chế, chẳng hạn nghiên cứu của UNFPA (2014) ổ ề sức khỏe sinh sản, tình d c và quyền c a công nhân nhậ ư nhà máy m y mặ ở m ” Literature Review on Sexual and Reproductive Health and Rights of Migrant Garment Factory Workers in Cambodia) cho thấy nữ công nhân nhập cư hạn chế tiếp cận các dịch vụ phá thai uy tín vì thiếu nhận thức về việc phá thai là hợp pháp nên tìm kiếm các nhà cung cấp không đủ chuyên môn và uy t n.
Trong khi đó, NCNNC trẻ trong nghiên cứu của Zheng và cộng sự (2001) không biết các phương pháp tránh thai vì cho rằng biện pháp tránh thai chỉ dành cho phụ nữ có chồng có con hoặc phụ nữ lớn tuổi hơn mình hoặc họ không biết lí do vì sao mang thai và chưa bao giờ có các hành động phòng ngừa. Trong đó, học vấn là một yếu tố then chốt có mối tương quan chặt chẽ đến nhận thức SKSS của nữ lao động di cư [192], [158], [217], [233] và hành vi tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe [192]. Th o đó, học vấn càng cao thì sự hiểu biết kiến thức tình dục càng tốt [217] và giảm thiểu những hành vi tình dục mang t nh nguy cơ và khả năng bắt đầu những mối quan hệ tình dục, mang thai và sinh con sớm [161]. Bảo hiểm y tế cho người di cư là một trong những quan trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Peng, Y. và cộng sự (2010) về “ yếu t đến hành vi tìm kiếm sức khỏe c a ườ động nhậ ư ở Bắc Kinh, Trung Qu ” (Factors associated with health- seeking behavior among migrant workers in Beijing, China) cho thấy có đến 94% lao động nhập cư không có bất kỳ bảo hiểm nào ở Bắc Kinh.