Mở đầu cho hướng nghiên cứu này là các công trình nghiên cứu của Docutsaev - người đầu tiên thực hiện nguyên tắc tong hợp trong nghiên cứu các ĐKTN của các địa phương cụ thé. 12 Sau Docutsaev, rất nhiều những công trình nghiên cứu về SDHLTN, BVMTV dựa trên quan điểm tổng hop của các nhà địa lý Xô Viết như S. Ixatsenko, đã hoàn thiện lý luận và thực tiễn nghiên cứu tổng hợp cho mục đích phát triển nền kinh tế quốc dân. Trong những năm gần đây, Klemen Prah (2012) đã sử dụng cách tiếp cận địa lý, coi LVS là đơn vị chủ quản cơ bản bắt nguồn từ định hướng nghiên cứu địa lý thủy văn và là cần thiết để xác định sự khác biệt địa lý thủy văn giữa các các bộ phận của LVS và để xác định tốt hơn các biện pháp quản lý [122].
Nghiên cứu của Ermoshin (2015) đã đề xuất một số ứng dụng cho không gian thông tin địa lý của LVS Amur [133]. Ở Ấn Độ, Tập bản đồ LVS của Ấn Độ do Dadhwal (2017) chủ trì coi các LVS là đơn vị thủy văn cơ bản dé lập kế hoạch và quản lý tài nguyên nước, quốc gia này được chia thành 25 lưu vực và 101 tiểu lưu vực theo dự án India-WRIS dựa trên mô hình số độ cao [142]. Bên cạnh đó, Ajay Kumar (2020) đã dựa trên phân tích địa lý về nguồn nước uống sẵn có ở LVS Suketi, Himachal Pradesh đã chỉ ra rằng có mối quan hệ thuận giữa dân số và nguồn nước [151]. Jinadasa Katupotha (2020) đã nghiên cứu sự phân bố của các loài cá nước ngọt trong hệ thống sông Mississippi-Missouri, tập trung vào kích thước và sự phân bố không gian của các dải địa lý.
Sau đó, sử dụng chỉ số địa lý sinh học xác định mức độ mắt tương đồng trong không gian trung bình theo từng điểm của cộng đồng dé xác định các vùng dia lý sinh học của LVS [116]. Baranyai, Gabor (2020) với nghiên cứu về các LVS xuyên biên giới có mặt khắp nơi trên thế giới. Trong số 263 lưu vực xuyên biên giới của thế giới chiếm khoảng 60% lưu lượng sông toàn cầu, là nơi sinh sống của khoảng 40% dân số toàn cầu. Mặc dù tất cả các LVS xuyên biên giới đều khác nhau, nhưng dựa trên các đặc điểm khí hậu thủy văn, chúng có thể được gom lại thành các loại lớn cũng thông báo về những thách thức cơ bản của hợp tác chính trị [155].
Tại Việt Nam, việc kế thừa và vận dụng các hệ thống phân vùng, phân loại cảnh quan hau hết được tiếp nhận từ các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ). Cùng với việc nghiên cứu đặc trưng riêng của lãnh thô, các nhà cảnh quan học Việt Nam đã có những nghiên cứu cụ thé, phù hợp với đặc điểm tự nhiên của nước ta. Tiếp cận tông hợp đã được áp dụng vào Việt Nam cả về lý thuyết lẫn trong thực tiễn nghiên cứu địa lý trong các công trình của nhiều nhà khoa học như Nguyễn Văn Chiên, Vũ Tự Lập, Lê Bá Thảo, v. Năm 1970, Tổ phân vùng thuộc UBKH&KT Nhà nước đã có công trình nghiên cứu “Phân vùng địa lý tự nhiên - phần miền Bắc” [74].
Đây được xem là công trình phân vùng địa lý tới cấp vùng đầu tiên ở Việt Nam. 13 Trong một vài thập niên gần đây, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan cũng như đánh giá tong hợp nhằm mục đích sử dụng hợp lý lãnh thé và BVMT như các công trình mang tính chất lý thuyết cảnh quan ứng dụng của các tác giả Vũ Tự Lập [41], Phạm Hoàng Hải [26], Nguyễn Cao Huan (31],. Nam 1976, trong cuốn “Cảnh quan Địa lý miễn Bắc Việt Nam” [41], Vũ Tự Lập đã trình bay về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tổng hợp cảnh quan. Qua công trình này, quan điểm tông hop trong nghiên cứu dia lý tự nhiên đã được dé cao và quan điểm tổng hợp đã chinh phục được nhiều người bởi tính logic của nó.
Quan điểm tông hợp đã có những đóng góp to lớn trong nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất. Năm 1997, trong cuốn “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh tho Việt Nam”, các tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh [26] đã đề cập khá đầy đủ về những biến đồi của tự nhiên dưới các tác động của con người, đưa ra các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Gần đây, cũng có một số nghiên cứu vận dụng tiếp cận liên quan đến địa lý tổng hợp như: Nguyễn Đăng Độ (2011) với đặc điểm phân hóa tự nhiên và sự hình thành các đơn vị cảnh quan lưu vực sông Hương [19]; Nguyễn Thị Huyền (2015) nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ lưu vực sông Lai Giang [36]; Trịnh, Minh Ngọc ( 2018). "Cơ sở địa lý cho quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Tri [53]; Tóm lại, dựa trên tiếp cận địa lý phục vụ định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường LVS đã được nhiều tác giả áp dụng và ứng dụng rộng rãi, mang lại kết qua mang tính logic về mặt không gian, phản ánh được mỗi quan hệ chặt chẽ giữa các hợp phần của địa lý trong lãnh thô nghiên cứu.
Các nghiên cứu xói mòn đất lưu vực sông Ảnh hưởng của xói mòn đến môi trường đã được tổng kết bởi nhiều tác giả khác nhau và đây cũng là một trong những hướng nghiên cứu xói mòn quan trọng. Nhiều tác giả cho rằng thay đổi của kiểu sử dụng đất là nguyên nhân chính của xói mòn đất và ô nhiễm dòng chảy mặt. Xói mòn và ô nhiễm dòng chảy mặt là đặc biệt nghiêm trọng với đất nông nghiệp do bón phân, làm ô nhiễm dòng chảy tràn là nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm nguồn nước. Hiện nay, có rất nhiều hướng tiếp cận trong nghiên cứu thực nghiệm xác định lượng đất mat: Những công trình đầu tiên nghiên cứu về xói mòn và dòng chảy được Volni - nhà khoa học Đức tiễn hành nghiên cứu từ 1877 đến 1895 bằng việc nghiên cứu hàng loạt các ô thí nghiệm nhỏ.
Tiếp theo là các công trình nghiên cứu về dòng chảy và xói mòn được triển khai mạnh mẽ ở Mỹ và Liên Xô (cũ), các nước ở châu Phi, châu Au, châu Mỹ, châu Uc và châu A. Miler năm 1917 đã tiến hành các 6 thí nghiệm ngoài thực địa của bang Missouri và công bố kết quả vào năm 1923. Vào 14 những năm 1938-1943, Bennet đã lập ra một mạng lưới gồm 44 trạm thí nghiệm nghiên cứu chế độ dòng chảy từ các máng nhỏ thu nước, dé cuối cùng đi đến những nhận xét xác đáng về ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật canh tác đối với lượng đất bị xói mòn và sự thay đổi của chế độ dòng chảy [92]. Cùng với thời gian trên, Borot, Laws và Haillet cũng có hướng nghiên cứu như trên.
Trên thế giới có nhiều mô hình nghiên cứu định lượng xói mòn đất và được chia thành ba nhóm mô hình chính: 7) Nhóm mô hình thực nghiệm có Phương trình mat đất pho dung (Universal Soil Loss Equation - USLE), Phương trình mat đất pho dung hiệu chỉnh (Revised Universal Soil Loss Equation - RUSLE). 2) Nhóm mô hình bán thực nghiệm có Phương trình mat đất phổ dung cải tiễn (Modified Universal Soil Loss Equation - MUSLE) và Mô hình Morgan Morgan va Finney (MMF). 3) Nhóm mô hình dựa trên các quá trình vật lý có Mô hình dự báo xói mon do mưa (WEPP) và Mô hình xói mòn áp dụng cho vùng lãnh thổ của Thornes (1985 và 1989) [38]. Các mô hình này làm sáng tỏ vai trò của từng nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn.
Nó có tác dụng định hướng cho nhiều nghiên cứu nhằm xác định quy luật xói mòn ở các khu vực có điều kiện địa lý khác nhau. Đồng thời, việc xác định, phân cấp được lượng đất mắt trong lưu vực sẽ là cơ sở cho các việc đề xuất các mô hình canh tác, sử dụng hợp lý đất đai. Chen Lin (2015) trong nghiên cứu xác định các khu vực đầu nguồn nhạy cảm với xói mòn dat và góp phần vào hiện tượng phú dưỡng hồ - Nghiên cứu điền hình ở lưu vực hồ Taihu (Trung Quốc) [134] đã chỉ ra rằng xói mòn đất có thể được sử dụng như một chỉ số dé xác định các khu vực bảo vệ đầu nguồn. Gan đây, Djazia Bouderbala (2018) đã thành lập bản đồ và giám sát xói mòn đất ở LVS Fergoug (phía tây Algeria) bị xói mòn nước nghiêm trọng và suy thoái đất đe dọa tính bền vững nông nghiệp đối với người dân địa phương [144].
Bang cách biết từng mô hình ước tính xói mòn, hy vọng có thé chon mô hình phù hợp theo nghiên cứu sẽ tiến hành [147]; Branko Ristanovié (2019) đã ứng dung GIS dé xác định các yếu tổ địa lý về cường độ xói mòn ở các LVS Serbia (Nghiên cứu điền hình: LVS Likodra) đã cung cấp một ví dụ 15 về việc phát hiện sớm các van đề thủy văn có thé xảy ra ở một dòng sông và đề xuất các giải pháp sẽ được áp dụng làm chìa khóa dựa trên quan hệ nhân quả [146]. Bên cạnh đó, Samira Boufeldja (2020) đã đánh giá tác động của hiện tượng xói mòn đối với LVS Bechar, một khu vực có đặc điểm khí hậu khô căn. Phương trình mất đất phô biến đã được sử dụng. Mô hình này dựa trên sự kết hợp của năm yêu tố (xói mòn, địa hình, lớp phủ thực vật và các hoạt động hỗ trợ) ảnh hưởng trực tiếp đến hiện tượng này [157].
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, khí hậu và địa hình phân hóa phức tạp do đó hiện tượng xói mòn diễn ra rộng khắp và đa dạng, công tác nghiên cứu xói mòn đất cũng vì thế đã được quan tâm từ rất sớm. Tuy nhiên, các nghiên cứu xói mòn đất và các biện pháp chống xói mòn trong giai đoạn trước những năm 1960 hầu như chưa dem lại kết quả gì đáng ké và chỉ dựa chủ yếu vào kinh nghiệm thực tiễn. Từ năm 1961, một số tác giả đã nghiên cứu xói mòn đất ở Đông Bắc, Tây Bắc bằng các phương pháp đơn giản là trực quan như đóng cọc, dùng dây dọi hoặc mô tả, đánh giá định tính quá trình xói mòn trong 4 năm (1961-1964). Những công trình đầu tiên nghiên cứu xói mòn ở Việt Nam đáng ghi nhận là của các tác giả Nguyễn Quí Khải (1962), Nguyễn Xuân Khoát (1963), Tôn Gia Huyén (1963, 1964), Bùi Quang Toản (1965), Trần An Phong (1967).