Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam - Luận án TS Đỗ Lâm Hoàng Trang

Luận án phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp đến năm 2030.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

205
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của Tăng trưởng Kinh tế với Công bằng Xã hội

Tăng trưởng kinh tếcông bằng xã hội là hai mục tiêu cốt lõi trong phát triển bền vững của các quốc gia. Tại Việt Nam, việc gắn kết tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã trở thành một thách thức lớn. Luận án của Đỗ Lâm Hoàng Trang từ Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (năm 2020) tập trung phân tích mối quan hệ phức tạp này. Công bằng xã hội không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn là điều kiện cần thiết để đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững. Khi có công bằng xã hội, các tầng lớp dân cư có cơ hội tiếp cận tài nguyên, giáo dục và việc làm công bằng, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện và lâu dài.

1.1. Khái niệm Tăng trưởng Kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thời gian. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tếtính hai mặt: nó mang lại tăng trưởng về mặt định lượng nhưng không phải lúc nào cũng đảm bảo công bằng trong phân phối lợi ích. Các thước đo tăng trưởng kinh tế bao gồm GDP, GNP và GNI, giúp đánh giá sức mạnh kinh tế của một quốc gia.

1.2. Khái niệm và Ý nghĩa Công bằng Xã hội

Công bằng xã hội là một khái niệm rộng lớn liên quan đến sự công bằng trong quyền lợi, cơ hội và kết quả xã hội. Nó khác biệt với bình đẳng xã hội - công bằng xã hội tập trung vào công bằng về cơ hội và kết quả xứng đáng với nỗ lực, trong khi bình đẳng là sự giống nhau hoàn toàn. Chỉ số GINIhệ số giãn cách thu nhập là những công cụ đo lường bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.

II. Thực trạng Tăng trưởng Kinh tế gắn với Công bằng Xã hội ở Việt Nam

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra những hạn chế đáng lưu ý về công bằng xã hội. Luận án phân tích rằng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam chưa được gắn chặt với công bằng xã hội một cách hiệu quả. Khoảng cách giữa thành phố và nông thôn, giữa các vùng miền vẫn còn lớn. Lực lượng lao động chất lượng thấp gặp khó khăn trong tiếp cận việc làm tốt. Tăng trưởng bao trùm - một mô hình phát triển mới - được đề xuất như là giải pháp để đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế.

2.1. Những Thành tựu đạt được

Việt Nam đã ghi nhận tăng trưởng kinh tế ấn tượng với GDP tăng trung bình hơn 6% hàng năm trong hai thập kỷ qua. An sinh xã hội (ASXH) được cải thiện, tỷ lệ người sống dưới mức nghèo giảm đáng kể. Hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH)bảo hiểm y tế (BHYT) được mở rộng phạm vi. Giáo dục và y tế đạt được nhiều tiến bộ, góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI).

2.2. Những Hạn chế và Thách thức

Bất chính là bất bình đẳng (BBĐ) thu nhập vẫn ở mức cao, chỉ số GINI chưa giảm đáng kể. Lao động nông thôn có thu nhập thấp hơn lao động thành phố. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu tập trung ở kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (KTCVĐTNN), trong khi kinh tế Nhà nước (KTNN)kinh tế Tư nhân (KTTN) phát triển không đồng đều. Cơ hội tiếp cận giáo dục và việc làm còn bất công bằng.

III. Mô hình Tăng trưởng Kinh tế và Công bằng Xã hội từ các Quốc gia

Nghiên cứu luận án đã phân tích kinh nghiệm từ các quốc gia khác nhau để rút ra bài học cho Việt Nam. Brazil áp dụng các chính sách an sinh xã hội mạnh mẽ kết hợp với tăng trưởng kinh tế. Hàn Quốc đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nhờ vào chính sách giáo dục và công nghiệp hóa có kế hoạch. Trung Quốc sử dụng mô hình tăng trưởng bao trùm để giảm bất bình đẳng khu vực. Những mô hình này cho thấy rằng tăng trưởng kinh tếcông bằng xã hội không phải là mâu thuẫn mà có thể được kết hợp hiệu quả thông qua chính sách phù hợp và điều hành Nhà nước tốt.

3.1. Mô hình Brazil Chính sách Xã hội và Tăng trưởng

Brazil áp dụng chính sách công bằng xã hội qua các chương trình hỗ trợ lao động, giáo dục miễn phí và chương trình giảm nghèo. Kết hợp với tăng trưởng kinh tế từ khai thác tài nguyên và công nghiệp nông nghiệp, Brazil đạt được sự cân bằng tương đối. Kinh nghiệm cho Việt Nam là cần xây dựng hệ thống an sinh xã hội bền vững song song với tăng trưởng kinh tế.

3.2. Mô hình Hàn Quốc Đầu tư Giáo dục và Công nghệ

Hàn Quốc đạt tăng trưởng kinh tế cao thông qua đầu tư mạnh vào giáo dục và nâng cao năng suất lao động (NSLĐ). Chính sách này giúp công bằng xã hội phát triển song song vì lao động chất lượng cao có cơ hội việc làm tốt hơn. Việt Nam nên học từ kinh nghiệm này bằng cách ưu tiên đầu tư giáo dục và đào tạo kỹ năng cho lao động.

IV. Giải pháp Gắn Tăng trưởng Kinh tế với Công bằng Xã hội đến năm 2030

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện để gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các giải pháp được chia thành nhiều nhóm: thứ nhất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mang tính đột phá thông qua hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) tốt hơn, phát triển kinh tế tri thức (KEI). Thứ hai, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội bằng cách phân phối lợi ích công bằng, giảm bất bình đẳng thu nhập. Thứ ba, phát huy vai trò Nhà nước trong điều tiết kinh tế và bảo vệ xã hội. Cuối cùng, nâng cao vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam và các tổ chức xã hội trong thực hiện công bằng xã hội.

4.1. Giải pháp Thúc đẩy Tăng trưởng Kinh tế Đột phá

Cải thiện hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) bằng đầu tư công nghệ và nâng cao năng suất lao động (NSLĐ). Phát triển kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo. Tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt với ASEAN. Cơ cấu lại các bộ phận kinh tế, giảm phụ thuộc vào công nghiệp truyền thống. Hỗ trợ kinh tế Tư nhân (KTTN)kinh tế Nhà nước (KTNN) phát triển cân bằng.

4.2. Giải pháp Gắn Tăng trưởng với Công bằng Xã hội

Xây dựng hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân, đặc biệt trong lao động tự do và nông thôn. Cải cách chính sách lương để giảm bất bình đẳng thu nhập. Phát triển tăng trưởng bao trùm đảm bảo tất cả tầng lớp dân cư hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế. Ưu tiên đầu tư phát triển các vùng kinh tế yếu kém, giảm khoảng cách thành thị - nông thôn.

22/12/2025
Luận án tiến sĩ kinh tế tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Mối quan hệ giữa TTKT với CBXH đã và đang là chủ đề được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm, nghiên cứu. Đã có nhiều nghiên cứu nỗ lực đi tìm câu trả lời cho câu hỏi rằng có hay không sự mâu thuẫn giữa mục tiêu TTKT với mục tiêu CBXH? Một quốc gia liệu có phải đánh đổi, hay lựa chọn một trong hai mục tiêu TTKT và CBXH hay không? Bên cạnh đó, có nhiều tác giả cố gắng đánh giá mức độ công bằng thông qua việc xem xét mức độ bất bình đẳng và tác động của bất bình đẳng đến TTKT như thế nào? Hay TTKT có tự động mang lại CBXH không? Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ này rất phong phú và đa dạng cả trong và ngoài nước. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài về mối quan hệ giữa TTKT với CBXH Các nghiên cứu định tính Trong nghiên cứu “ Distribution income and wealth among individuals” (Stiglitz, 1969), Stiglitz cho rằng người giàu có xu hướng tiết kiệm biên cao hơn người nghèo. Khi tỷ lệ tiết kiệm tăng lên, tốc độ tăng trưởng GDP sẽ tăng lên.

Do đó, nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn khi phân phối thu nhập bất bình đẳng so với một nền kinh tế có phân phối thu nhập công bằng. Ông giải thích rằng: việc đánh thuế lũy tiến cao để tái phân phối thu nhập sẽ làm giảm tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế, từ đó làm giảm TTKT. Stiglitz cho rằng có sự đánh đổi giữa công bằng và hiệu của sự phát triển. Ông khẳng định: “Để đạt được công bằng nhiều hơn phải hy sinh một số lượng hiệu quả nào đó”(Stiglitz, 1995, p.

132) Mankiw thì cho rằng việc hướng tới mục tiêu CBXH hay đảm bảo bình đẳng trong phân phối thu nhập sẽ đi ngược lại với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn. Trong bài “ Principles of economics” (Mankiw, 2014), Mankiw lý giải rằng: để thực hiện CBXH, chính phủ thường 7 thực hiện chính sách tái phân phối thu nhập thông qua việc đánh thuế thu nhập lũy tiến và đầu tư vào các chương trình phúc lợi. Thông qua đó, người có thu nhập càng cao thì phải đóng thuế càng nhiều, chính phủ sẽ trợ cấp cho người nghèo qua các chương trình phúc lợi. Hậu quả là người giàu sẽ bị giảm động lực lao động, người nghèo thì nảy sinh tư tưởng ỷ lại, trông chờ, ít có động lực lao động chăm chỉ.

Từ đó, tổng thu nhập của toàn xã hội giảm, gây tổn thất cho xã hội, ảnh hưởng tới mục tiêu TTKT và do đó, phần thu nhập nhận được của mỗi người cũng giảm xuống. Như vậy, Mankiw là người ủng hộ quan điểm chấp nhận phân phối BBĐ để đạt được TTKT cao. Trái với quan điểm của Mankiw, Stiglitz về việc chấp nhận tình trạng BBĐ thu nhập để thúc đẩy TTKT, một số nhà kinh tế khác cho rằng BBĐ thu nhập sẽ tác động tiêu cực đến TTKT. Theo Aghion và Bolton trong bài “A theory of trickle-down growth and development” (Aghion & Bolton, 1997) và (Todaro, 1994) với mức thu nhập và mức sống thấp, người nghèo sẽ phải chấp nhận chế độ dinh dưỡng và tình trạng sức khỏe kém, ít có cơ hội tiếp cận với hệ thống giáo dục tiên tiến dẫn đến năng suất lao động thấp cũng như ít có cơ hội tham gia vào hoạt động kinh tế (cơ hội việc làm).

Điều này sẽ tác động xấu đến TTKT. Do đó, đầu tư vào giáo dục, y tế là đầu tư vào con người, tạo cơ hội cho người nghèo có việc làm với năng suất cao hơn, nâng cao thu nhập và thoát nghèo, giúp kinh tế tăng trưởng tốt hơn. Cũng cùng quan điểm này nhưng với góc nhìn khác, trong bài “Distributive politics and economic growth” (Alesina & Rodrik, 1994), “Is inequality harmful for growth?” (Persson & Tabellini, 1994) các tác giả đã lý giải những ảnh hưởng tiêu cực của BBĐ thu nhập đến TTKT như sau: Mức thuế và tỷ lệ chi tiêu công để thực hiện tái phân phối thu nhập càng cao sẽ làm giảm tốc độ TTKT do tích lũy tư bản bị giảm xuống. Người giàu thường mong 8 muốn chính phủ áp dụng một mức thuế suất trên thu nhập thấp để giảm phần phải đóng góp, ngược lại, người nghèo mong muốn mức thuế suất cao để được hưởng lợi nhiều hơn từ các chương trình chi tiêu công của chính phủ.

Khi BBĐ thu nhập trong xã hội càng cao, áp lực buộc chính phủ tăng thuế càng mạnh nhằm làm giảm bớt BBĐ, từ đó làm giảm TTKT. Nghiên cứu của Benhabib và Rustichini trong “Social conflict and growth” (Benhabib & Rustichini, 1996) cũng nhấn mạnh, BBĐ làm gia tăng xung đột xã hội, bất ổn về chính trị và tác động tiêu cực đến TTKT (do tỷ lệ rủi ro tăng và những kỳ vọng về lợi ích đầu tư bị giảm xuống). Trong bài “Growth, income, distribution and democracy: What the data say?”, Perotti (1996) cũng khẳng định BBĐ thu nhập tác động tiêu cực đến TTKT thông qua quyết định lựa chọn đầu tư vào việc tăng quy mô gia đình (sinh thêm nhiều con) hay đầu tư vào chất lượng nguồn nhân lực (đầu tư vào giáo dục). Perotti cho rằng, các hộ gia đình nghèo thường lựa chọn tăng quy mô gia đình thay vì đầu tư cho giáo dục.

Tuy nhiên, TTKT lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng nguồn nhân lực hơn là số lượng lao động tăng thêm. Ông kết luận, một xã hội có BBĐ cao, nhiều hộ nghèo dễ dẫn đến nguy cơ bùng nổ dân số làm cho thu nhập bình quân đầu người thấp, BBĐ gia tăng và TTKT giảm xuống. Trong bài báo “Thị trường lao động, CBXH và hiệu quả kinh tế”, (Kitson, Martin, & Wilkinson, 2000), và trong bài “Tại sao công bằng tốt hơn cho mọi người” của (Wilkinson & Pickett, 2010) nêu rõ, học thuyết kinh tế truyền thống cho rằng tồn tại mối quan hệ giữa CBXH và hiệu quả kinh tế. Trên thực tế, các thể chế KTTT và kinh tế khác bị thống trị bởi các mối quan hệ quyền lực, vì vậy CBXH là một yếu tố quan trọng.

Các chính sách kinh tế tự do mới gỡ bỏ các hạn chế thực hiện quyền lực, BBĐ đã làm gia tăng bất công và tạo ra đường trôn ốc kinh tế - xã hội đi xuống. Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi một cuộc cách mạng trong học thuyết và chính sách kinh tế, tập 9 trung vào tận dụng nguồn nhân lực, hoạt động của thị trường lao động, tổ chức công việc và tổ chức gia đình. Adelman and Morris (1973) trong bài viết “Economic growth and social equality in Developing countries” đã phê phán giả thuyết của Kuznets và chỉ ra rằng TTKT làm gia tăng bất công bằng, hơn nữa nó còn làm xấu đi tình trạng nghèo đói đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Theo đó, nhóm giàu ngày càng giàu trên sự nghèo đi của nhóm thu nhập trung bình và nhóm nghèo.

Họ khẳng định không có cơ sở để lý giải về hiện tượng trickle-down mà Kuznets đã đưa ra trước đó. Các tác giả này cho rằng muốn đạt được TTKT nhanh và công bằng thì phải phân phối lại tài sản, tiến hành việc cải cách đất đai trên quy mô lớn, thực hiện phổ cập giáo dục và tổ chức các chương trình tích lũy vốn con người. Các nghiên cứu định lượng Có phải xã hội công bằng hơn là cần thiết cho tăng trưởng tốt hơn? Alesina and Rodrik (1994), (Persson & Tabellini, 1994) và (Perotti, 1996) ghi nhận một sự kết nối tích cực giữa sự công bằng và tăng trưởng. Tuy nhiên, một vài đóng góp gần đây và đặc biệt là hai bài báo của (Forbes, 2000) và (Barro, 2000) – đã thách thức cho quan điểm này và gợi ý một sự kết nối tiêu cực giữa sự công bằng và tăng trưởng, ít nhất là ở những nước đã phát triển.

Forbes phân tích mẫu của 45 nước, sử dụng dữ liệu bảng trong giai đoạn 1965-1995. Hơn một nửa của mẫu bao gồm các nước đã phát triển. Sự bất công bằng được thu thập ở chỉ số Gini. Theo như kết quả mà Forbes nghiên cứu, sự bất công càng cao có tương quan một cách tích cực với sự tăng trưởng của GDP.

Barro lại cho rằng mối quan hệ giữa bất công bằng và tăng trưởng có thể không cùng mức độ với tăng trưởng GDP. Barro (2000) nghiên cứu mẫu 10 tạo ra bởi 84 nước, cả những nước đang phát triển và phát triển. Tác giả sử dụng 2 thước đo của bất công bằng, chỉ số Gini và một lựa chọn dựa trên phân chia ngũ vị phân; kết quả của cả hai thước đo là tương tự như nhau. Tác giả tiếp tục ước lượng một vài dữ liệu bảng.

Việc hiệu chỉnh có thể nội sinh của một số biến hồi qui độc lập bằng việc sử dụng hồi quy bình phương tối thiểu ba giai đoạn. Mối quan tâm hàng đầu của Barro là xem xét mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và TTKT ở các quốc gia khác nhau. Tác giả đã chia mẫu thành hai loại, bao gồm những nước thu nhập cao và thu nhập thấp. Đối với những nước thu nhập thấp, giữa BBĐ và tăng trưởng có mối quan hệ tiêu cực.

Ngược lại, ở các nước thu nhập cao, mối quan hệ giữa BBĐ và tăng trưởng là tích cực. Tóm lại, theo Barro, mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và TTKT dường như là có hình dạng gù: trong giai đoạn phát triển thấp ở những quốc gia đang phát triển hoặc có thu nhập thấp, công bằng hơn làm gia tăng tăng trưởng. Tuy nhiên, đối với những nước đã phát triển, mức độ công bằng cao hơn có thể phá hủy tăng trưởng. Nghiên cứu này bổ sung vào các bằng chứng thực nghiệm đang tồn tại dựa trên hai mẫu khác biệt: sự kết nối giữa công bằng và tăng trưởng dường như thay đổi ở nhiều giai đoạn phát triển.

Khi một nước có thu nhập thấp, công bằng nhiều hơn sẽ gia tăng tăng trưởng bằng việc giảm những bất ổn chính trị xã hội và sự bất ổn về thể chế. Ngược lại, đối với những nước giàu, sự công bằng nhiều hơn có thể phá hủy sự tăng trưởng. Một nguyên nhân có thể kể đến là chi phí xã hội được Nhà nước sử dụng để giảm BBĐ sẽ làm giảm sự đầu tư cho sản xuất, do đó ảnh hưởng một cách tiêu cực đến tăng trưởng. Trong bài báo “Giáo dục, CBXH và TTKT: Một cái nhìn toàn cảnh” của (Gylfason & Zoega, 2003), các tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa giáo dục, CBXH và TTKT, trong đó coi giáo dục là nhân tố cơ bản có ảnh hưởng quan trọng đến TTKT và CBXH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ