Luận án quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của hộ nông dân tại vùng trung du miền núi phía bắc

Luận án phân tích quyết định sản xuất chè theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt của hộ nông dân vùng trung du miền núi phía bắc.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Nghiệp

Chuyên ngành

Kinh Tế Nông Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2018

188
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THEO TIÊU CHUẨN GAP

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHÈ THEO TIÊU CHUẨN GAP VÙNG TDMNPB

5. CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LỰA CHỌN SẢN XUẤT CHÈ THEO TIÊU CHUẨN GAP

6. CHƯƠNG 6: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HỘ NÔNG DÂN LỰA CHỌN VÀ DUY TRÌ SẢN XUẤT CHÈ THEO TIÊU CHUẨN GAP

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nông sản sạch ngày càng tăng cao trong bối cảnh người tiêu dùng lo ngại về an toàn thực phẩm. Tình trạng ô nhiễm thực phẩm, tồn dư hóa chất độc hại đã dẫn đến nhiều bệnh tật, trong đó có ung thư. Theo WHO, Việt Nam có khoảng 1.000 ca ung thư mới mỗi năm do tiêu dùng sản phẩm không an toàn. Sản xuất chè là một trong những giải pháp quan trọng để đáp ứng nhu cầu này. Chè không chỉ là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao mà còn chứa nhiều yếu tố vi lượng có lợi cho sức khỏe. Dự báo nhu cầu tiêu dùng chè toàn cầu sẽ tăng 3,7% mỗi năm đến năm 2024. Tuy nhiên, sản phẩm chè Việt Nam chủ yếu xuất khẩu ở dạng thô và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế. Việc áp dụng tiêu chuẩn nông nghiệp tốt (GAP) trong sản xuất chè là cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và duy trì sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP của hộ nông dân tại vùng trung du miền núi Bắc. Nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi về sự khác biệt giữa sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP và phương pháp truyền thống, tình trạng áp dụng GAP tại vùng TDMNPB, và các nhân tố quyết định đến việc áp dụng và duy trì sản xuất chè theo tiêu chuẩn này. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp đề xuất giải pháp thúc đẩy sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là quyết định sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP tại vùng TDMNPB. Phạm vi nghiên cứu bao gồm thời gian khảo sát từ tháng 6/2017 đến tháng 6/2018 và không gian nghiên cứu tập trung vào các tỉnh có diện tích chè lớn như Thái Nguyên, Phú Thọ và Yên Bái. Nghiên cứu sẽ phân tích thực trạng sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP và các nhân tố quyết định tới sự lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn này. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở cho việc đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP tại Việt Nam.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng. Phương pháp nghiên cứu tại bàn sẽ thu thập tài liệu lý thuyết và dữ liệu thứ cấp. Phương pháp phỏng vấn sẽ được thực hiện với các hộ trồng chè để tìm hiểu khó khăn và thuận lợi khi áp dụng GAP. Phương pháp khảo sát sẽ giúp phân tích thực trạng sản xuất chè theo GAP và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng và duy trì sản xuất chè theo tiêu chuẩn này. Phân tích thống kê mô tả và hồi quy sẽ được sử dụng để đánh giá tác động của các nhân tố đến quyết định sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP.

V. Đóng góp của luận án

Luận án sẽ đóng góp vào lý luận và thực tiễn về sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP. Nghiên cứu sẽ chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn và duy trì sản xuất chè theo tiêu chuẩn GAP, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy sản xuất chè an toàn và bền vững. Các yếu tố như yêu cầu kỹ thuật, chi phí đăng ký chứng nhận GAP và hỗ trợ của nhà nước sẽ được phân tích để hiểu rõ hơn về quyết định của hộ nông dân. Kết quả nghiên cứu sẽ có giá trị thực tiễn cao trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm chè và đáp ứng nhu cầu thị trường.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Sản xuất nông nghiệp theo hướng vệ sinh an toàn thực phẩm Sản xuất nông nghiệp không chỉ để phục vụ nhu cầu lương thực phẩm ngày càng tăng mà còn phải đảm bảo an toàn cho cả người sản xuất, người tiêu dùng và bảo vệ môi trường sinh thái. Braun (1991) cho“thấy rằng nếu tăng trưởng nông nghiệp được thực hiện bởi phương thức dẫn tới suy thoái môi trường thì tình trạng sức khỏe- dinh dưỡng của người dân nông thôn sẽ bị ảnh hưởng một cách trực”tiếp. Theo FAO (trích dẫn Đinh Phi Hổ (2011): “Vấn đề cốt lõi của sự mất cân bằng sinh thái không phải là do tốc độ phát triển nông nghiệp hoặc tăng trưởng nông nghiệp, mà là do phương thức thực hiện sự tăng trưởng”.

Theo Aleves (1991) “Con đường phát triển nông nghiệp phải qua phương thức thâm canh. Phương thức này đòi hỏi việc sử dụng các kỹ thuật sinh học và giống mới; nhiều phân bón hơn, thay đổi vể cơ cấu cây trồng trên đất, kết hợp nông – lâm – nuôi trồng thủy sản, các kỹ thuật hóa – sinh để chống lại sâu bệnh, nếu các kỹ thuật này có thể đảm bảo không làm suy thoái môi trường thì tăng trưởng nông nghiệp chắc chắn bền vững”. Braun (1991) cho rằng phương thức thâm canh có thể bổ sung thêm và tạo cân bằng chất dinh dưỡng trong đất. Việc sử dụng đúng liều lượng, chủng loại thuốc trừ sâu và đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi đủ số lượng và đảm bảo chất lượng có thể ngăn chặn tình trạng nhiễm độc nguồn nước.

Đánh giá vấn đề sản xuất nông nghiệp tại các nước đang phát triển, Bull (1982) đã chỉ ra “Việc sử dụng lượng thuốc trừ sâu không hợp lý đã dẫn tới ngộ độc, cụ thể là 10.000 người chết vì ngộ độc thuốc trừ sâu mỗi năm ở các nước đang phát triển”. Theo FAO (2003), GAP là “quy trình sản xuất (của một đơn vị cụ thể) nhằm đảm bảo cho môi trường, kinh tế xã hội của đơn vị được bền vững, sản phẩm làm ra phải tốt và an toàn”. Ở trong nước, một số công trình tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng ATVSTP đối với hàng nông sản có nghiên cứu của Đào Đức Huấn,2009; Hoàng Xuân Phương, 2010; Đào Thế Anh, 2011; Lê Trọng Hải, 2011; Nguyễn Thị Liên, 2011. Các nghiên cứu này đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: phương pháp thu thập thông tin sơ cấp, phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp hội thảo chuyên gia, phương pháp đánh giá nhanh chuỗi giá trị và phương pháp phân tích kinh tế học thể chế.

Kết luận được rút ra từ các nghiên cứu đó là có sự chồng chéo trong các chính sách về ATVSTP như: quy định, quy chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm còn thiếu, phân công quản lý nhà nước về kiểm tra kiểm soát vấn đề ATVSTP chưa rõ ràng, chế tài xử lý vi phạm ATVSTP còn bất cập, hệ thống giám sát ATVSTP còn thiếu. 8 Nguyễn Hồng Sơn (2011), Phạm Đình Hải (2014) và Nguyễn Hồng Trang (2016) nghiên cứu thực trạng và cơ sở khoa học, đặc điểm và“chuỗi giá trị của sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn GAP và các yếu tố ảnh hưởng tới việc áp dụng tiêu chuẩn GAP. Nguyễn Hồng Sơn (2011) đề cập hình thức liên kết hiệu quả trong sản xuất rau an toàn áp dụng GAP gồm: nhóm hộ, doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh kiểu mới. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết sản xuất rau theo tiêu chuẩn GAP.

Còn Phạm Đình Hải (2014) lại đánh giá thực trạng tổ chức, chính sách GAP trong sản xuất chè búp tươi ở thành phố Bảo Lộc, giai đoạn 2010 – 2013, từ đó xây dựng các giải pháp để hoàn thiện tổ chức, chính sách nhằm thúc đẩy áp dụng GAP trong sản xuất chè búp tươi ở thành phố Bảo Lộc. Nguyễn Hồng Trang (2016) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới việc áp dụng tiêu chuẩn GAP cho sản xuất rau được thực hiện trên khảo sát 130 cơ sở sản xuất rau (doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất kinh doanh cá thể) từ 26 tỉnh thành thuộc 7 vùng sinh thái nông nghiệp của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ quan trọng của ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn GAP đó là: Nhóm nhân tố thuộc về cơ sở sản xuất rau, nhóm nhân tố thuộc về khách hàng và nhóm nhân tố thuộc về nhà nước. Tuy nhiên, Nguyễn Hồng Trang (2016) chưa nghiên cứu cụ thể và chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc duy trì tiêu chuẩn GAP của các cơ sở sản xuất rau nói chung và sản xuất rau ở cấp độ hộ sản xuất nông nghiệp nói riêng.

Lựa chọn sản xuất theo tiêu chuẩn GAP 1. Nghiên cứu nhân tố quyết định lựa chọn sản xuất theo tiêu chuẩn GAP Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng công nghệ sản xuất nói chung và sản xuất theo tiêu chuẩn GAP của hộ gia đình nói riêng được đề cập trong nhiều nghiên cứu (Sriwichailamphan và cộng sự, 2008; Canavari và cộng sự, 2008; Mariano và cộng sự, 2012; Trương Thị Ngọc Chi và Ryuichi Yamada, 2002). Mariano và cộng sự (2012) chỉ ra hộ có thể và sẵn sàng lựa chọn công nghệ sản xuất mới vì những rào cản và thách thức mà họ phải đối mặt. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc áp dụng bao gồm: Chính sách của chính phủ, sự thay đổi của công nghệ, nguồn lực thị trường, các yếu tố môi trường, yếu tố địa lý.

Trươnguong Thị Ngọc Chi và Ryuichi (2002) đã cung cấp bằng chứng cho thấy việc áp dụng công nghệ sản xuất cho hệ thống trang trại phụ thuộc vào yếu tố: Vốn, đào tạo kỹ thuật của trung tâm khuyến nông, giới tính, độ tuổi, trình độ văn hóa… Cụ thể, những người trẻ tuổi, có trình độ thường có xu hướng tin vào công nghệ, mạnh dạn áp dụng công nghệ vào sản xuất hơn là những người lớn tuổi thường bảo thủ, tin vào kinh nghiệm thay vì công nghệ. Kết quả nghiên cứu này cũng trùng với kết quả nghiên cứu của Sriwichailamphan và cộng sự (2008) khi nhiên cứu về việc áp 9 dụng tiêu chuẩn GAP cho sản xuất Dứa ở Thái Lan. Tuy nhiên, ngoài những yếu tố trên, nghiên cứu của Sriwichailamphan và cộng sự (2008) còn cho thấy yếu tố về số năm kinh nghiệm, sản lượng bình quân, giá sản phẩm nông nghiệp trung bình, có hợp đồng đầu ra với các công ty thu mua, yêu cầu về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của các nước nhập khẩu cũng ảnh hưởng quan trọng đến quyết định áp dụng tiêu chuẩn GAP của hộ nông dân. Cả hai nghiên cứu của Sriwichailamphan và cộng sự (2008) và Canavari và cộng sự (2008) đều cho rằng động cơ, sự quan tâm đến bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật có ảnh hưởng đến việc áp dụng.

Khác với nghiên cứu của Sriwichailamphan và cộng sự (2008), kết quả trong nghiên cứu của Canavari và cộng sự (2008) còn chỉ ra yếu tố kỹ năng quản lý, công nghệ sản xuất, nhãn hiệu địa phương, quan điểm của chính quyền địa phương về tiêu chuẩn GAP là những yếu tố chính tác động đến việc áp dụng tiêu chuẩn này cho sản xuất nông nghiệp. Một số nghiên cứu hướng vào nghiên cứu động lực của việc áp dụng các kiểm soát an toàn thực phẩm (Holleran và cộng sự, 1999; Hobbs, 2003; Jayasinghe Mudalige, 2005; Wannamolee, 2008; Zhou và Jin, 2009). Theo đó, động lực áp dụng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm bao gồm: (i) động lực kinh tế như lợi ích về danh tiếng, lợi ích về lợi nhuận, lợi ích về cải thiện việc tiếp cận thị trường. (ii) Động lực pháp lý như trách nhiệm pháp lý trong việc thực nhiện các quy định của chính phủ.

(iii) Động lực nguồn nhân lực bao gồm tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, nguồn nhân lực có cơ hội tiếp cận những kỹ năng mới. Ngoài ra, Wannamolee (2008) cho rằng động lực của việc áp dụng các tiêu chuẩn GAP trong chuỗi sản xuất thực phẩm đó là duy trì niềm tin của người tiêu dùng vào chất lượng, ATVSTP và giảm thiểu tác động tiêu cực của sản xuất tới môi trường. Pongvinyoo và cộng sự (2014), Vu Thi Han và cộng sự (2016) nghiên cứu hướng vào nhận thức, thái độ của người nông dân về phương thức sản xuất theo tiêu chuẩn GAP. Hai nghiên cứu này đều chỉ ra rằng nhóm hộ nông dân tự tin tác động tích cực đến việc áp dụng tiêu chuẩn GAP, trong khi nhóm nông hộ sợ rủi ro, sản xuất theo kinh nghiệm lại có tác động tiêu cực đến việc áp dụng tiêu chuẩn GAP.

Ngoài ra Pongvinyoo và cộng sự (2014) còn chỉ ra yếu tố dịch vụ khuyến nông còn hạn chế, thị trường không hiệu quả, thủ tục kiểm tra GAP còn rườm rà là những yếu tố tác động tiêu cực đến việc áp dụng tiêu chuẩn GAP. Ở trong nước, nghiên cứu liên quan đến xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các phương thức sản xuất có nghiên cứu của Hồng Trang (2016). Sử dụng phương pháp định tính và định lượng thông qua khảo sát bảng hỏi đối với các cơ sở sản xuất rau phân bố tại 46 tỉnh thành có áp dụng GAP, kết quả cho thấy nhân tố ảnh hưởng đến việc áp 10 dụng tiêu chuẩn GAP của các hộ trồng rau bao gồm 3 nhóm: nhóm nhân tố cơ sở sản xuất, nhóm nhân tố thuộc về khách hàng, nhóm nhân tố nhà nước. Như vậy, các nghiên cứu trong nước và trên thế giới về các nhân tố tác động đến áp dụng tiêu chuẩn GAP chủ yếu được chia thành 2 nhóm: Nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài.

Nhóm yếu tố bên trong bao gồm các nhân tố về cơ sở sản xuất: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn (Sriwichailamphan và cộng sự, 2008; Truong và Yamada, 2002), Số năm kinh nghiệm (Sriwichailamphan và cộng sự 2008), nông dân cấp tiến (Sriwichailamphan và cộng sự, 2008; Pongvinyoo, 2008) trình độ quản lý (Zhou và Jin, 2009), vấn đề tài chính (Canavari và cộng sự, 2008; Truong và Yamada, 2002) , quy mô diện tích (Zhou và Jin, 2009; Hồng Trang, 2016), sự quan tâm đến vấn đề môi trường (Sriwichailamphan và cộng sự, 2008; Canavari 2008), có hợp đồng đầu ra, sản lượng bình quân, giá sản phẩm trung bình nhận thức về các vấn đề lợi ích, (Sriwichailamphan và cộng sự, 2008), thái độ của nông dân với việc đổi mới sản xuất, sản phẩm có nhãn hiệu địa phương (Canavari, 2008).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Lựa Chọn Sản Xuất Chè Theo Tiêu Chuẩn Nông Nghiệp Tốt Tại Trung Du Miền Núi Bắc" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng các tiêu chuẩn nông nghiệp tốt trong sản xuất chè tại khu vực trung du miền núi phía Bắc. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định về an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường, từ đó giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng cường giá trị kinh tế cho nông dân. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các phương pháp sản xuất bền vững, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành chè.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp nông nghiệp bền vững, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk", nơi trình bày các biện pháp kỹ thuật trong canh tác hồ tiêu. Ngoài ra, tài liệu "Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về kỹ thuật bón phân cho cây trồng. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật tại kho thuốc hòn trơ xã diễn yên huyện diễn châu tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp xử lý" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc quản lý hóa chất trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá để bạn khám phá thêm về các phương pháp sản xuất nông nghiệp bền vững.