MỞ ĐẦU Đồng bằng Nha Trang là một đồng bằng nhỏ thuộc dải đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ. Vì vậy khu vực này chịu ảnh hƣởng điều kiện khí hậu và địa chất chung gần giống nhƣ các đồng bằng trong khu vực, là đồng bằng nhỏ hẹp bị xen kẹp giữa các dãy núi. Do sông nằm trong đồng ngắn dốc có đặc điểm của sông miền núi nhƣng do chiều dài của sông ngắn, lòng sông nhỏ hẹp và ít phân lƣu lại sát biển nên chịu nhiều ảnh hƣởng của biển. Tuy vậy trong khi các đồng bằng khác của khu vực đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ nằm ở khu vực biển hở thì đồng bằng Nha Trang chịu tác động của điều kiện đặc biệt nhƣ nhiều vũng vịnh và hệ thống đảo chắn nên có nhiều đặc điểm khác biệt về các quá trình thành tạo địa tầng, trầm tích, địa mạo[30]…Quá trình hình thành và phát tiển đồng bằng đã tạo nên cảnh quan tiêu biểu của đồng bằng Nha Trang mang nhiều ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng: Đây là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, cảnh quan tự nhiên đa dạng, vùng đồng bằng vùng phù sa phì nhiêu là diện tích trồng lúa quan trọng; các vùng đất ngập nƣớc và bãi cát ven biển đan xen khai thác rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản và du lịch… Vì vậy nghiên cứu đặc điểm trầm tích Đệ Tứ, lớp trầm tích gắn liền với đời sống kinh tế - xã hội và và lịch sử phát triển trầm tích Đệ Tứ đồng bằng Nha Trang cung cấp thêm cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội khu vực.
Nghiên cứu trầm tích Đệ Tứ ở Việt Nam và đồng bằng Nha Trang nói chung thƣờng đƣợc gắn liền với những công trình nghiên cứu về trầm tích Đệ Tứ thuộc nhiều hƣớng nghiên cứu địa chất khác nhau, ví dụ nhƣ điều tra đo vẽ bản đồ (địa chất, địa mạo, địa chất thủy văn- địa chất công trình, địa chất đô thị…), thành lập bản đồ địa chất khoáng sản hay các công trình điều tra nghiên cứu cơ bản khác… (Saurin E. Các công trình điều tra đo vẽ bản đồ các loại chủ yếu nhằm phân chia các phân vị địa tầng Đệ Tứ và xác lập ranh giới của chúng trên bản đồ. Các nghiên cứu về địa chất khá nhiều, thƣờng gắn liền với các mục tiêu cụ thể nhằm phục vụ phát triển KTXH còn các hƣớng nghiên cứu về lịch sử phát triển địa chất chung, hay lịch sử tiến hóa trầm tích trong Đệ Tứ thì còn sơ lƣợc. 7 z Theo đó, học viên lựa chọn đề tài: “Lịch sử phát triển trầm tích Đệ Tứ đồng bằng Nha Trang” đƣợc lựa chọn nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đặc điểm thành phần trầm tích, tƣớng trầm tích và phân bố của chúng trong kỷ Đệ Tứ.
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ ĐỊA CHẤT KHU VỰC 1. Vị trí địa lý Vùng nghiên cứu có diện tích 385km2, bao gồm chủ yếu là đồng bằng Nha Trang, thuộc địa phận Thành phố Nha Trang và phần phía Đông của huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa (hình 1.1), đƣợc giới hạn trong khoảng tọa độ sau: 12°9’35” đến 12° 18’16” vĩ độ Bắc 108°59’57’’ đến 109°13’2" kinh độ Đông Hình 1.1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu 1. Địa hình - địa mạo 1. Đặc điểm địa hình Vùng nghiên cứu nằm ở phía Đông dải Trƣờng Sơn mang các đặc trƣng của miền đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ có độ cao thấp dần từ Tây sang Đông và cao dần từ trung tâm ra hai phía Bắc và Nam.
có thể chia ra hai dạng địa hình chính nhƣ sau: 9 z a. Địa hình đồi núi: Phân bố xung quanh đồng bằng Nha Trang, bao gồm các núi sót và dãy núi thấp có độ cao từ 183m (Hòn Sạn) đến 650 m (Núi Chúa). Các dãy núi thƣờng có đỉnh nhọn, sƣờn dốc 30° đến 40o. Điều kiện đi lại khó khăn.
Địa hình đồng bằng ven biển: Bề mặi địa hình tƣơng đối bằng phẳng; thấp dần từ Tây sang Đông và bị phân cắt bởi các dòng chảy mặt. Độ cao địa hình thay đổi từ 3m đến 6,5m. Điều kiện đi lại khá thuận tiện. Chắn phía ngoài bờ biển là hệ thống 19 đảo nhỏ trên vịnh Nha Trang.
Đặc điểm địa mạo: Khu vực nghiên cứu có 2 nhóm kiểu địa hình là địa hình bóc mòn và địa hình tích tụ. a- Nhóm kiểu địa hình bóc mòn: Bao gồm các kiểu địa hình: Bề mặt san bằng Pliocen đang bị rửa trôi- xâm thực yếu đƣợc bảo tồn dƣới dạng các mảnh sót nhỏ, rải rác trên các đỉnh núi vây quanh; Sƣờn xâm thực đổ lở phát triển trên các đá granitoit Mesozoi muộn đang bị xâm thực ở mức độ khác nhau; Sƣờn bóc mòn tổng hợp phát triển trên các đá phun trào, trầm tích Jura và Kreta; Sƣờn xâm thực phát triển theo các khe rãnh dọc theo sƣờn núi; Thềm mài mòn Pleistocen muộn cao 30-40m đang bị rửa trôi, xâm thực yếu. b- Nhóm kiểu địa hình tích tụ: Bao gồm các kiểu địa hình: thềm tích tụ biển, đồng bằng aluvi, đồng bằng sông - biển, đồng bằng tích tụ sông - đầm lầy, bãi bồi cao, bãi bồi thấp và lòng sông hiện đại, dải tích tụ hiện đại ven biển. và bề mặt tích tụ đa nguồn gốc Đệ Tứ không phân chia (Q).
Đặc điểm khí hậu Vùng nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm. Do chịu ảnh hƣởng của khí hậu đại đƣơng nên mát mẻ, ôn hòa và có thể chia ra làm hai mùa: + Mùa mƣa (từ tháng 9 đến tháng 12): Lƣợng mƣa thay đổi từ 91,0mm/tháng đến 338,0 mm/tháng và lƣợng mƣa lớn nhất trong năm thƣờng tập trung trong tháng 10 và tháng 11. Vào thời gian này nhiệt độ không khí thay đổi từ 25,5oC đến 27oC, 10 z lƣợng bốc hơi từ 85,6mm/tháng đến 148,2mm/tháng, độ ẩm bình quân đạt 8,4%. + Mùa khô (Từ tháng 1 đến tháng 8): Lƣợng mƣa trung bình từ 2,4mm/tháng đến 109,9mm/tháng, lƣợng bốc hơi từ 117,5mm/tháng đến 166,1mm/tháng, độ ẩm bình quân đạt 80%.
Vào những tháng đầu mùa khô khí hậu mát mẻ, biển lặng. Tuy nhiên, trong mùa này cũng có thời gian nóng bức (từ tháng 6 đến tháng 8) có lúc nhiệt độ lên tới 34,7°C. Hƣớng gió thịnh hành thay đổi theo mùa. Từ tháng 4 đến tháng 9 chủ yếu hƣớng Nam - Đông Nam (mùa gió nhẹ) và từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau gió có hƣớng Đông Bắc - Bắc (mùa gió mạnh).
Mạng thủy văn, hải văn 1. Thủy văn: Hệ thống sông lớn chi phối gần nhƣ toàn bộ đồng bằng Nha Trang là Sông Cái, ngoài ra còn có hệ thống sông Quán Trƣờng. Sông Cái (còn có tên gọi là sông Phú Lộc, Sông Cù) có chiều dài 75km, bắt nguồn từ đỉnh Chƣ Tgo cao 1.475m, chảy qua các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh và thành phố Nha Trang rồi đổ ra biển ở Cửa Lớn (Đại Cù Huân). Đoạn hạ lƣu thuộc địa phận Nha Trang có chiều dài khoảng 10km.
Sông Quán Trƣờng (hay Quán Tƣờng) là 1 hệ thống sông nhỏ có chiều dài khoảng 15km, chảy qua địa phận các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thái, Phƣớc Đồng và 3 phƣờng Phƣớc Long, Phƣớc Hải, Vĩnh Trƣờng rồi đổ ra Cửa Bé. Sông chia thành 2 nhánh: nhánh phía Đông (nhánh chính) có chiều dài 9km và nhánh phía Tây (còn gọi là Sông Tắc) dài 6km. Hải văn Thành phố Nha Trang có bờ biển chạy dài từ Bắc xuống Nam với chiều dài khoảng 12km. Nha Trang có bãi biển đẹp, sóng nhỏ phát triển du lịch rất tốt.
Thủy triều vùng biển Nha Trang thuộc dạng nhật triều không đều, biên độ trung bình lớn nhất từ 1,4-3,4m. Độ mặn biến thiên theo mùa từ 1-3,6%. Sóng có độ lớn cao nhất l ± 2 m (về mùa Đông) dƣới dạng sóng lừng. Đặc điểm địa chất 1.
Địa tầng trước Đệ Tứ Vùng nghiên cứu có mặt phổ biến các thành tạo trầm tích và trầm tích phun trào phun trào Jura, Ktera thuộc các hệ tầng La Ngà, đèo Bảo Lộc và Nha Trang. Hệ tầng La Ngà (J2 ln): phân bố thành chỏm nhỏ ở khu vực thôn Diên Mỹ phía Tây Bắc và Vĩnh Phƣơng phía Bắc vùng nghiên cứu. Mặt cắt hệ tầng ở đây không đầy đủ gồm: - Tập 1: Bột kết màu xám sẫm và cát kết màu đen phân lớp mỏng xen kẽ nhau, mặt lớp có nhiều tinh thể pyrit. Chiều dày khoảng 300m.
- Tập 2: Cát kết ít khoáng hạt vừa màu xám vàng, phần trên có xen các lớp cát bột kết, bột kết và s t kết. Có thể gặp trầm tích thuộc tập 2 của hệ tầng ở đáy một số lỗ khoan sâu ở Nha Trang (LK14, LK23, LK27). Hệ tầng đèo Bảo Lộc (J3 ddbl): Các thành tạo trầm tích phun trào của hệ tầng phân bố chủ yếu ở Tây, Tây Bắc và phía Bắc khu vực nghiên cứu. Thành phần thạch học của hệ tầng bao gồm: Andesit, andesitodacit, dacit và tuf của chúng.
Các đá có màu đen, xám đen phớt lục, kiến trúc porphyr, cấu tạo khối. Chiều dày của hệ tầng khoảng 500 600m. Có thể gặp các đá của hệ tầng ở đáy một số lỗ khoan sâu trong phạm vi đồng bằng. Hệ tầng Nha Trang (K nt): Phân bố khá rộng rãi ở các khu vực Bắc, Tây Bắc (Núi Cô Tiên, núi Gòng, Hòn Ngang) và phía Đông Nam, Nam (núi Chín Khúc, Hòn Rớ,.) vùng nghiên cứu, tạo thành những dãy núi lớn bao quanh vùng đồng bằng… Thành phần thạch học bao gồm: Ryolit, ryodacit, andesit và tuf của chúng.
Ngoài ra còn có một luợng đáng kể các đá ignimbit ryolit, ignimbrit dacit. Chiều dày chung của hệ tầng khoảng 500 700m. Tƣơng tự, có thể gặp các đá của hệ tầng Nha Trang ở phần đáy các lỗ khoan trên phạm vi đồng bằng Nha Trang. Địa tầng Đệ Tứ Các thành tạo trầm tích Đệ Tứ phân bố trên phạm vi đồng bằng Nha Trang và dọc theo các lòng sông ở khu vực đồi núi.
Thống Pleistocen Phụ thống P eistocen trên đới trên trầ tích biển (mQ13) Trầm tích biển Pleistocen muộn phân bố dƣới dạng thềm biển với bề ngang thay đổi từ vài ba trăm m t tới khoảng 3-4km, tạo nên các bề mặt nghiêng thoải có độ cao 10 30m. Chúng lộ ra ở Phò Thiên, Trƣờng Lạc, Trung Nam, ven rìa các khối núi phía Tây Nha Trang. Mặt cắt tổng hợp theo tài liệu lỗ khoan gồm hai tập: - Tập trên: S t, s t bột, s t cát loang lổ; dày trung bình 7,5m; các đặc điểm chỉ thị môi trƣờng biển vũng vịnh. - Tập dƣới: Cát, cát sạn, cuội sỏi; dày trung bình 4,5m.
Các thông số trầm tích đặc trƣng cho môi trƣờng đới triều. Đây là các thành tạo trầm tích Đệ Tứ lót đáy đồng bằng Nha Trang.