Chương 1 TÌNH HÌNH KINH TẾ TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 1895 - 1930 1. Khái quát về vùng đất Bắc Giang trước năm 1895 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Bắc Giang là một tỉnh miền núi trung du ở phía Đông Bắc thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc. Hiện nay, «tỉnh nằm trong phạm vi từ 21037 (thuộc xã Canh Nậu huyện Yên Thế, đến 2107 vĩ độ Bắc (thuộc xã Đồng Phúc huyện Yên Dũng) và từ 1050 kinh Đông (xã Đại Thành huyện Hiệp Hoà) đến 107010 kinh Đông (xã An Lạc huyện Sơn Động)» [45].
Địa giới của tỉnh theo sách Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ năm 1930 cho biết: «Tỉnh Bắc Giang giáp Lạng Sơn, nam giáp Bắc Ninh và Hải Dương, đông giáp Quảng Yên và tây giáp Thái nguyên, diện tích đo được ngót 991.500km vuông) » [22; tr. Lãnh thổ Bắc Giang có diện tích tự nhiên là 3822,5 km2, trải dài từ tây sang đông, nơi dài nhất khoảng 120 km (từ An Lạc, Sơn Động đến Đại Thành, Hiệp Hoà); từ phía bắc xuống phía nam nơi rộng nhất khoảng 48 km (từ xã Tân Sơn, Lục Ngạn đến xã Lục Sơn, Lục Nam), nơi hẹp nhất dài 20 km (từ bắc xã Bảo Sơn xuống nam xã Huyền Sơn, Lục Nam). Như vậy, Bắc Giang có vị trí địa - chính trị cực kì quan trọng. Vị trí địa lý đó đã tạo điều kiện thuận lợi trong giao thoa văn hóa ngược - xuôi, phát triển kinh tế liên vùng, giao lưu kinh tế - xã hội với đồng bằng duyên hải, vùng đồng bằng sông Hồng, các tỉnh Đông Bắc Việt Nam và với các tỉnh thành khác trong cả nước và với các tỉnh của Trung Quốc.
Nhờ vị trí địa lý đó, Bắc Giang có thể phát huy lợi thế sẵn có của một vùng đất nhiều tiềm năng về đất, rừng và nguồn lực con người, đưa lãnh thổ này trở thành một đầu mối kinh tế quan trọng nối giữa các tỉnh đồng bằng và thủ đô Hà Nội với miền trung du và núi phía Bắc rộng lớn cũng như đất nước Trung Hoa, tạo điều kiện cho sự giao lưu trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị giữa miền xuôi, miền ngược và quốc tế được thuận lợi. Đồng thời đã tạo cho vùng đất này có vị trí chiến lược quan trọng trong vai trò trấn giữ miền biên ải phía Ðông của đất nước. Dưới con mắt các nhà thực dân và quân sự Pháp, khu vực Bắc Giang có một vai trò đặc biệt quan trọng ở Bắc Kỳ về nhiều lĩnh vực kể cả giai đoạn xâm lược và khai thác sau này. Thành Phủ Lạng Thương là cửa ngõ của núi rừng đông bắc, có hệ thống đường thủy dễ dàng liên hệ với Hải Phòng và đường bộ đi Thái Nguyên, Lạng 14 Sơn, Quảng Yên.
Kép có vị trí cơ động đặc biệt đối với Yên Thế, Hữu Lũng, Lục Ngạn. Chũ là địa điểm tập kết lý tưởng cho các cuộc hành binh đánh chiếm Lạng Sơn và vùng đông bắc nhờ địa hình rộng thoáng, lại có sông Lục Nam đủ sâu và rộng cho chiến thuyền. Nhã Nam nằm ở ngã ba các ngả tiến lên Thái Nguyên, Lạng Sơn. Ở phía đông bắc của tỉnh là ba huyện Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động án ngữ một vùng cửa ngõ chiến lược từ xưa tới nay, là khu đệm của núi rừng và trung du bán sơn địa.
Điều kiện tự nhiên Địa hình: Tỉnh Bắc Giang cho đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là một vùng đất rộng lớn, mang đặc trưng của địa hình vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam là một tỉnh nửa thượng du nửa trung châu, phía đông bắc có núi non, phía nam có « đồng bằng» [22; tr. Lãnh thổ của Bắc Giang được hình thành do kết quả tác động của các nhân tố nội lực và ngoại lực. Cách đây 230 triệu năm, Bắc Giang nằm trong khu vực bị sụt lún thành biển, 120 triệu năm sau mới được nâng lên thành lục địa. Nhưng vùng này lại phải trải qua một thời kỳ bào mòn lục địa, địa chất nâng lên, hạ xuống nhiều đợt, làm cho địa phận Bắc Giang có chỗ cao (khu đồi núi hiện nay), có chỗ thấp (khu vực đồng bằng ven sông).
Lịch sử hình thành tự nhiên như vậy để lại cho Bắc Giang có địa hình đa dạng với nhiều cảnh quan đồi núi, đồng bằng: «Tỉnh Bắc Giang tuy có nhiều vùng phong cảnh khác nhau, nhưng địa thế cùng chung một dải, cho nên địa thế dù rộng mà muốn phân tách các vùng lần lượt đã chỉnh lý, cũng khó làm vậy» [34; tr. Bắc Giang có các vùng địa hình sau: Vùng núi ở phía bắc và phía đông gồm các huyện Yên Thế, Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, đặc điểm của vùng này là cao nghiêng 300-500 m. «Các phủ huyện vùng hạ du rải rác có những núi đất, hoặc núi đất xen đá. Các huyện vùng thượng du như Yên Thế, Hữu Lũng, Bảo Lộc, Lục Ngạn thì cả núi đất núi đá khắp nơi đều có.
Nêu những núi có tên thì: Huyện Việt Yên có núi Tam Tằng. Huyện Lục Ngạn có núi Huyền Đính, núi Tượng Phục (Voi Phục). Huyện Yên Dũng có núi Nham Biền. Huyện Yên Thế có núi Chung Sơn.
Huyện Bảo Lộc có núi Bảo Đài» [30; tr. Vùng núi phía tây bắc (phía bắc huyện Yên Thế) hầu hết là những đồi tròn có độ cao từ 100-200m, thấp dần về phía nam thành miền đồi thấp trung du của Bắc Giang với độ cao phổ biến dưới 50 m. Từ cuối thế kỷ XIX, người Pháp đã nhận xét: « Yên Thế có những cánh rừng khó lòng vào được và với địa dư đặc biệt thuận lợi nằm giữa các cánh đồng giàu có của vùng đồng bằng với vùng núi non hiểm trở Cai Kinh và Bảo Đài. Rừng ở đây thuộc loại rừng hiểm, dây leo chằng chịt, quấn ép những 15 thân cây to khiến cho bề sâu thăm thẳm của rừng trở thành bất khả xâm phạm.
Rừng rậm đã ngốn hết các con đường cũ và chứa đầy sự im lặng» [55]. Vùng trung du chủ yếu là đồi thấp xen kẽ với đồng bằng độ cao trung bình dưới 100 m gồm thành phố Bắc Giang, một phần huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Tân Yên. Vùng đồng bằng phù sa cổ ven sông Cầu, sông Thương.thuộc địa phận của các huyện Việt Yên, Tân Yên, Hiệp Hoà, Yên Dũng, Lạng Giang. Vùng này «cảnh trí thực là thanh nhã, không khác gì miền trung tâm nước Pháp.
Giữa các dải núi thiên hình vạn trạng, có nhiều thung lũng màu mỡ, đồng ruộng tươi tốt, xen với cây cối xanh um, cảnh vật thanh u, dân cư đông đúc và giàu thịnh» [34; tr. Nhìn chung, đặc điểm địa hình của tỉnh Bắc Giang thể hiện mức độ chia cắt diễn ra không đều qua các vùng. Địa hình đa dạng là điều kiện để tỉnh phát triển nông lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá với nhiều cây trồng, vật nuôi có giá trị. Đặc điểm này cũng quyết định đối với thương nghiệp: Sự giao lưu kinh tế giữa các vùng sẽ xuất hiện một cách tự nhiên do nhu cầu đời sống của con người ở những vùng sinh thái khác nhau.
Sản phẩm trao đổi phong phú và đa dạng hơn bởi nó mang dấu ấn của tự nhiên và của con người sống trên những vùng địa hình rất khác nhau. Khí hậu: Bắc Giang là một vùng có địa hình khá phức tạp và đa dạng, nên là có khí hậu đặc trưng của vùng Đông Bắc Việt Nam, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, phân biệt 4 mùa rõ rệt: «Các huyện trong tỉnh hạt mùa xuân ấm áp, mùa hè nóng bức, mùa thu mát mẻ, mùa đông lạnh rét, đại khái là như vậy. Nhưng kể chung trong năm thì ấm nhiều lạnh ít, vì vậy nhà nông có 2 vụ lúa, nuôi tằm được 8 lứa. Các huyện vùng hạ du đều như vậy, duy có các huyện vùng thượng du như Yên Thế, Hữu Lũng, Lục Ngạn thì khí lạnh nhiều, khí ấm ít, nghề nông thì cũng có nơi làm được 2 vụ, nhưng nghề dâu tằm thì không bằng các huyện hạ du.
Lại vì khe sâu núi hiểm, hàng năm vào khoảng tháng 3, tháng 9 chướng khí bốc lên hầm hập» [30; tr. Mùa lạnh ở Bắc Giang bắt đầu tháng 11 và kết thúc vào tháng 3. Tuy vậy ngày bắt đầu và ngày kết thúc mùa lạnh mỗi năm mỗi khác, có năm bắt đầu sớm, có năm bắt đầu muộn. Mùa nóng ở Bắc Giang có thể bắt đầu xảy ra vào cuối tháng 4 và kết thúc vào cuối tháng 9 đầu tháng 10.
Ngoài hai mùa nóng và lạnh, còn có nhiệt độ trung bình ngày ổn định trong khoảng 20 đến 25°C đó là thời kỳ chuyển tiếp mùa. Những vùng khí hậu chính của Bắc Giang là: Vùng núi phía bắc bao gồm Yên Thế và một phần của Lạng Giang: Lạnh, mùa đông thường có sương muối, lượng 16 mưa tương đối cao; Vùng núi phía đông bắc bao gồm Lục Ngạn và một phần của Lục Nam, lạnh, mùa đông có sương muối và có thể có băng giá, ít mưa, điển hình là thung lũng Lục Ngạn; Vùng núi Sơn Động rất lạnh, sương muối và băng giá thường xuyên xảy ra về mùa đông, mưa tương đối lớn (nhất là các thung lũng phía nam của huyện Sơn Động (đây là vùng có lượng mưa cao nhất tỉnh). Không khí tương đối khô hạn, biên độ nhiệt lớn. Vì thế có thể coi vùng này là vùng có khí hậu khắc nhiệt nhất của tỉnh: lam chướng rất nặng, khí rét cũng sớm, ngoài ra thì nóng lạnh đều nhau» [29; tr.77]; « Vùng trung du: Bao gồm các huyện Tân Yên, Hiệp Hoà và một phần của Lạng Giang và Việt Yên: tương đối lạnh, mưa vừa phải; Vùng đồng bằng (bao gồm một phần huyện Việt Yên, Yên Dũng).tương đối ấm hơn các vùng khác, mưa ở đây vừa phải, độ ẩm không khí tương đối cao và điều hoà hơn các vùng khác.
Khí hậu Bắc Giang thích hợp với nhu cầu sinh trưởng của các cây trồng nhiệt đới. Mùa nào cũng có sản vật đặc trưng từ thực vật (hoa màu, phong cảnh. Vùng đồi trung du do lạnh vừa và ẩm, điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả (cam, chanh, dứa, vải) và phát triển cây công nghiệp. Vùng núi lạnh và ẩm, thuận lợi cho trồng cây gây rừng, trồng chè, các loại rau ôn đới, chăn nuôi gia súc.
Thủy văn - nguồn nước Bắc Giang có 3 con sông lớn là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam chảy qua với chiều dài qua tỉnh là 347km: «Ba con sông cái: sông Thương, sông Lục Nam, sông Cầu chảy qua các vùng có núi làm giới hạn (núi yên Thế, Bảo Đài, Cai Kinh. Các sông ấy đã để cho tỉnh Bắc Giang hai chữ Bắc Giang là sông miền Bắc, ở mé trên tỉnh Bắc Ninh (xứ Bắc yên ổn)» [34; tr.