phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC THANH NIÊN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG (2000 - 2005) 1. Những yếu tố tác động đến công tác thanh niên tỉnh Hải Dương 1. Điều kiện tự nhiên, cư dân và truyền thống * Điều kiện tự nhiên Hải Dương nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ - cái nôi của nền văn minh Sông Hồng, với diện tích tự nhiên 1.660,9 km2, được tách ra từ tỉnh Hải Hưng (bao gồm Hải Dương và Hưng Yên hiện nay) vào ngày 1-1-1997.
Hải Dương là một trong 7 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tiếp giáp với các vùng sau: phía đông giáp Thành phố Hải Phòng, phía tây giáp tỉnh Hưng Yên, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang. Hải Dương nằm ở giữa khu vực tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và nằm trong Quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội, là điểm trung chuyển giữa Thành phố cảng Hải Phòng và thủ đô Hà Nội, cách Hải Phòng 45km về phía Đông và cách Hà Nội 57km về phía Tây. Phía Bắc của tỉnh có hơn 20km quốc lộ 18 chạy qua, nối sân bay quốc tế Nội Bài với cảng Cái Lân, tạo điều kiện giao lưu hàng hóa từ vùng Bắc Bộ ra biển và giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới. Từ sau khi tái lập tỉnh, Hải Dương có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh và 10 huyện: Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang.
Về địa hình, Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự 9 z nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm. Về khí hậu, Hải Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,3 0C, nhiệt độ cao nhất vào mùa hè không quá 24°C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1524 giờ, lượng mưa trung bình hàng năm 1.700 mm, độ ẩm trung bình là 85 - 87%.
Các điều kiện tự nhiên của Hải Dương tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một nền kinh tế nông nghiệp với ngành trồng lúa nước và ngành công nghiệp phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. * Điều kiện kinh tế - xã hội - Giao thông và cơ sở hạ tầng: Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển. Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh. Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường cấp I, cho 4 làn xe đi lại thuận tiện.
Đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh. Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua huyện Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm nông thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân, cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh. Đường thuỷ: với 400 km đường sông cho tàu, thuyền 500 tấn qua lại dễ dàng. Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn/năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi.
10 z Nhìn chung, hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương đi cả nước và nước ngoài rất thuận lợi. - Cơ cấu các ngành nghề: kinh tế tỉnh Hải Dương với cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ - thương mại và du lịch. Đặc biệt là sau hơn 25 năm đổi mới, Hải Dương đang chuyển mình từ một tỉnh nông nghiệp thành một tỉnh công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 10 năm trở lại đây đạt trung bình 10%/năm, quy mô nền kinh tế tăng gấp 2,5 lần, tổng thu ngân sách Nhà nước tăng gấp 5 lần.
Cơ cấu kinh tế ngày càng chuyển dịch theo hướng tích cực. Năm 2008, Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 10,5%; Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,9%; Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 13 %. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 13,5%. Giá trị hàng hoá xuất khẩu ước đạt 420 triệu USD, tăng 73,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, chủ yếu tăng do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tăng 85,7%).
Tổng giá trị nhập khẩu ước đạt 440 triệu USD, tăng 47,9% so với cùng kỳ năm trước. Đến nay, Hải Dương đã quy hoạch 10 khu công nghiệp với tổng diện tích 2. Với chính sách thông thoáng, ưu đãi các nhà đầu tư trong và ngoài nước, với lợi thế vị trí thuận lợi, Hải Dương đã thu hút nhiều nhà đầu tư vào khu công nghiệp. Đến hết tháng 10/2008 đã thu hút 350,2 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho 37 dự án (tăng 9 dự án), tăng 39,2% so với cùng kỳ năm 2007.
Ước tính vốn đầu tư thực hiện của các dự án năm 2008 đạt 300 triệu USD, tăng 27,6% so với năm 2007.12] - Về dân số, năm 2009, dân số của tỉnh có hơn 1.492 người (nam: 833.459 người, nữ: 870. Thanh niên Hải Dương hiện nay có gần 45 vạn thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30, chiếm khoảng 25,72% dân số và gần 49% lực lượng lao động xã hội; trong đó thanh niên nông thôn 11 z chiếm 39%, thanh niên học sinh, sinh viên 29%; thanh niên công nhân, viên chức 19,3%, thanh niên lực lượng vũ trang 3,7%, thanh niên đô thị 8%, thanh niên dân tộc, tôn giáo 1%. Đây là lực lượng nòng cốt cho sự phát triển kinh tế tỉnh nhà nói riêng và cho cả nước nói chung.1] Xét về quy mô dân số thì Hải Dương là một tỉnh có mật độ dân số đông, đứng thứ 11/63 tỉnh thành trong cả nước và đứng thứ 5/11 tỉnh thành trong vùng đồng bằng sông Hồng. Nhìn chung, với quy mô dân số như hiện nay, Hải Dương vẫn còn nhiều tiềm năng và ưu đãi của tự nhiên với bình quân đất tự nhiên/người còn khá cao (1.029 người/km2).
Mặt khác, trong cơ cấu dân thành thị và nông thôn vẫn cho thấy, Hải Dương có dân số tập trung đông ở các vùng nông thôn (chiếm hơn 80% dân số toàn tỉnh). Trên địa bàn tỉnh có 10 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 1.426 người, chiếm 99,74%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Sán dìu có 1.516 người, chiếm 0,09%; dân tộc Tày có 469 người, chiếm 0,0028%; dân tộc Nùng có 75 người, chiếm 0,0045%; dân tộc Thái có 65 người, chiếm 0,0039%; dân tộc Mông có 17 người, chiếm 0,001%; dân tộc Dao có 27 người, chiếm 0,0016%; dân tộc Thổ có 21 người, chiếm 0,0012% và các dân tộc khác chiếm 0,213%. Trình độ dân trí: Tính đến năm 2011 đã phổ cập giáo dục THPT cho 12 huyện, thành phố với tổng số 263 xã, phường, thị trấn; số người trên 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo là 41% (chủ yếu là đào tạo nghề 31,54%) trong đó có trình độ đại học trở lên là 2,9%, tăng 1,62% so với 2004, số người tốt nghiệp cao đẳng là 2,1% tăng 0,97% so với năm 2004 (1,13%) số người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 5,8% tăng 2,58% so với năm 2004 (3,22%), số người có chứng chỉ, công nhân kỹ thuật nghiệp vụ chiếm 3,2%. Có thể nói, Hải Dương có nguồn nhân lực dồi dào với đức tính cần cù, hiếu học, nghiêm túc trong lao động và có trình độ văn hóa, khả năng 12 z tiếp cận với những tiến bộ khoa học công nghệ tốt.
Đó là những điều kiện quan trọng để hình thành đội ngũ công nhân, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và lao động chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh. - Về văn hóa: toàn tỉnh hiện có 1.098 di tích lịch sử, văn hoá, danh thắng; trong đó có 133 di tích được xếp hạng quốc gia, tiêu biểu là Côn Sơn, Kiếp Bạc, Phượng Hoàng (Chí Linh) An Phụ, Kính Chủ (Kinh Môn). Các di tích trên địa bàn mang dấu ấn của nhiều thời đại: thời đồ đá cũ có niên đại trên 3 vạn năm ở hang Thánh Hoá - núi Nhẫm Dương (Kinh Môn), thời đại đồ đồng với những di chỉ, di vật quý tại Đồi Thông (Kinh Môn), Hữu Chung (Tứ Kỳ), làng Gọp (Thanh Hà). Văn hoá Lý - Trần, Lê, Nguyễn là một dòng chảy đậm đặc và liên tục trên vùng đất này, để lại dấu ấn đậm nét trong hàng loạt di tích, gắn liền với những sự kiện kịch sử trọng đại, những danh nhân nổi tiếng.
Chỉ riêng huyện Chí Linh đã có hàng trăm di tích quý như thế; trong một không gian chừng 10km2 thuộc bốn xã Hưng Đạo, Văn An, Lê Lợi, Cộng Hoà đã có hàng chục di tích lưu giữ những kỷ niệm về 3 danh nhân vĩ đại: Trần Hưng Đạo - danh nhân quân sự (Kiếp Bạc), Nguyễn Trãi - danh nhân văn hoá (Côn Sơn), Chu Văn An - danh nhân giáo dục (Phượng Hoàng). Chính những nét văn hóa truyền thống của tỉnh đã góp phần giáo dục thế hệ thanh niên ngày nay phấn đấu, noi gương thế hệ cha anh đi trước. Hải Dương còn là quê hương của nhiều làng nghề truyền thống danh tiếng như chạm khắc đá Kính Chủ (Kinh Môn), chạm khắc gỗ Đông Giao (Cẩm Giàng), kim hoàn Châu Khê và gốm Cậy (Bình Giang); gốm Chu Đậu (Nam Sách); khắc ván in Hùng Lục, Liễu Tràng (Gia Lộc), thêu Xuân Nẻo (Tứ Kỳ), dệt chiếu Tiên Kiều (Thanh Hà). Sản phẩm của các làng nghề truyền thống thể hiện sự sáng tạo, khéo léo, tài hoa của người xứ Đông, được khách hàng trong nước và quốc tế ưa chuộng.