Chương 1: Chủ trương phát triển công tác thanh niên của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang từ năm 1997 đến năm 2013 Chương 2: Quá trình chỉ đạo công tác thanh niên Bắc Giang tham gia củng cố hệ thống chính trị, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1997-2013) Chương 3: Quá trình chỉ đạo công tác thanh niên Bắc Giang tham gia phát triển kinh tế và văn hóa (1997-2013) Chương 4: Một số nhận xét và kinh nghiệm. 7 z Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC THANH NIÊN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2013 1. Quá trình chỉ đạo công tác thanh niên ở Bắc Giang trƣớc năm 1997 1. Vài nét về tự nhiên và xã hội ở Bắc Giang * Điều kiện tự nhiên Bắc Giang là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, là tỉnh có vị trí nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh phía Đông Bắc với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội.
Phía Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp với tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương, phía Đông giáp với tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp với thủ đô Hà Nội và tỉnh Thái Nguyên. Vị trí của tỉnh nằm trên hành lang kinh tế Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, cạnh tam giác trọng điểm phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh) rất thuận lợi cho việc phát triển và liên kết vùng. Địa hình Bắc Giang gồm 2 tiểu vùng miền núi và trung du có đồng bằng xen kẽ, vùng trung du bao gồm các huyện Hiệp Hòa, Việt Yên và thành phố Bắc Giang, vùng miền núi bao gồm 7 huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang. Trong đó, một phần của các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế và Sơn Động là vùng núi cao.
Đặc điểm chủ yếu về địa hình miền núi (chiếm 72% diện tích toàn tỉnh) là chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệch về độ cao lớn. Nhiều vùng đất đai tốt, nhất là ở các khu vực còn rừng tự nhiên. Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp như: Vải thiều, cam, chanh, na, hồng, chè, đậu tương, lạc…thuận tiên để chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, thủy sản. Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du (chiếm 28% diện tích toàn tỉnh) là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng tùy theo từng khu vực [1, tr.
Bắc Giang còn có tiềm năng lớn về đất đai, nhất là đất đồi rừng. Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 3.380 km2, chiếm 1,2% diện tích đất tự nhiên của Việt Nam. Theo số liệu thống kê năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên của Bắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%, đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%, còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất khác. 8 z Đến năm 2006, đất sử dụng và nông nghiệp chiếm 26% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, đất sử dụng và lâm nghiệp chiếm 32,6% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, đất sử dụng vào các mục đích chuyên dung như khai thác thủy sản, giao thông, thủy lợi chiếm 13,5% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, đất dùng vào mục đích thổ cư là 3%.
Đất chưa sử dụng còn khoảng 80.000 ha, trong đó đất có khả năng làm nông nghiệp khoảng 42.000 ha, đất có khả năng làm lâm nghiệp khoảng 70.500 ha, còn lại là đất cho mục đích khác [1, tr. Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Bắc Giang có nhiều mặt thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi thì vẫn còn nhiều khó khăn bởi điều kiện địa lý, điều kiện tự nhiên của Bắc Giang nói riêng và của nước ta nói chung luôn mang những yếu tố khắc nghiệt. Do đó, có thể khẳng định những đặc điểm địa lý, tự nhiên trên đã ít nhiều tác động tới việc chỉ đạo công tác thanh niên của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang.
* Tình hình xã hội Bắc Giang là miền quê có truyền thống văn hiến lâu đời trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Bắc Giang gắn liền với những sự tích oai hùng như chiến tuyến sông Như Nguyệt và các địa danh Xương Giang, Cần Trạm, Hố Cát trong kháng chiến chống ngoại xâm phương Bắc, Hoàng Hoa Thám và cuộc khởi nghĩa Yên Thế trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông, tuổi trẻ Bắc Giang đã không ngừng rèn luyện, cống hiến và trưởng thành, đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc để xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, văn minh. Truyền thống văn hiến của con người Bắc Giang còn được biểu hiện đậm nét qua tinh thần cố kết cộng đồng rất bền chặt, qua cách ứng xử, phong cách giao tiếp thân thiện, lối sống nhân hậu, đầy tình người.
Tình hình và đặc điểm cư dân của tỉnh là một cơ sở khách quan trong việc hoạch định và thực hiện công tác thanh niên của tỉnh. Bắc Giang là một tỉnh hội tụ khá nhiều đồng bào các dân tộc,trong số 21 dân tộc thì người Kinh chiếm đa số, có số dân đông nhất với 1.855 người 9 z (năm 2009), chiếm 87,4% dân số toàn tỉnh, còn lại các dân tộc thiểu số với số dân 192.865 người chiếm 12,6% dân số của tỉnh [63]. Dân số của các dân tộc không đều là một đặc điểm khá phổ biến ở nước ta và ở các quốc gia đa dân tộc trên thế giới, và nó ảnh hưởng tới quá trình chỉ đạo của Đảng, trong đó có quá trình chỉ đạo đối với công tác thanh niên. Bắc Giang cũng là một tỉnh có số lượng dân công giáo không nhiều, do đó trong cách mạng và ngay cả trong thời bình, kẻ thù vẫn luôn tìm cách chia rẽ tôn giáo hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc là hết sức cần thiết. Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, tự tôn dân tộc cho đoàn viên, thanh thiếu niên, nhi đồng nhất là thanh niên công giáo với nhiều phương thứ đa dạng, khéo léo, củng cố niềm tin của thanh niên vào Đảng, vào chính quyền, vào con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân Việt Nam lựa chọn [4, tr. Với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thuận lợi, công cuộc đổi mới của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang đã gặt hái được những thành quả quan trọng: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ luôn đạt mức tăng trưởng khá, tình hình chính trị, xã hội ổn định. Tuy nhiên, nền kinh tế của tỉnh “phát triển chậm, lợi thế cạnh tranh trong tham gia hội nhập kinh tế còn yếu” [1, tr.7], khu vực kinh tế nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng thất nghiệp vẫn chưa được giải quyết triệt để, vấn đề giải quyết việc làm cho bộ phận người dân, nhất là lực lượng thanh niên đang còn nhiều hạn chế, tệ nạn xã hội gia tăng.
Do vậy, đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của bộ phận thanh thiếu niên trong toàn tỉnh. Từ thực tế trên, vấn đề thanh niên và công tác vận động, đoàn kết, tập hợp thanh niên vào một khối thông qua các phong trào, các hoạt động thanh niên luôn được các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Phong trào thanh niên ở Bắc Giang trước năm 1997 Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tuổi trẻ Bắc Giang hòa cùng không khí đấu tranh của dân tộc đã không ngừng vươn lên phấn đấu đáp ứng mọi yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thanh niên Bắc Giang đã hăng hái tòng quân, lên đường chiến đấu, lập được nhiều chiến công oanh liệt, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
Đứng trước thực trạng khó khăn của nền kinh tế đất nước, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được triệu tập tại thủ đô Hà Nội (12/1986). Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội đã đánh giá những thành tựu cũng như chỉ ra hạn chế còn tồn tại của nền kinh tế đất nước trong thời gian qua, đồng thời đề ra đường lối đổi mới đồng bộ toàn diện đất nước từ kinh tế, tư tưởng - chính trị, văn hóa – xã hội. Thành công của Đại hội mở ra những bước ngoặt quan trọng cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo và kịp thời đó đã được toàn Đảng, toàn dân ta hưởng ứng, trong đó, tuổi trẻ là lực lượng năng động và sáng, đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp Đổi mới.
Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V và Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ IX (1987) thành công, mở ra hướng đi mới đầy sáng tạo cho công tác Đoàn và phong trào thanh niên Bắc Giang, được đông đảo ĐVTN trong tỉnh hưởng ứng một cách tích cực. Với phẩm chất năng động, sáng tạo, với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ thời đại mới, mọi khó khăn đó không làm “chùn” bước tiến mạnh mẽ của lớp thanh niên Bắc Giang. BCH Tỉnh Đoàn tập trung chỉ đạo củng cố, xây dựng tổ chức Đoàn và tập hợp đoàn kết rộng rãi các tầng lớp thanh niên nhằm phát huy cao độ trí tuệ và sức mạnh tuổi trẻ trong việc thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng đề ra. Trước hết, đó là cuộc vận động “Xây dựng chi đoàn mạnh”.
Trong những năm 1987-1992, theo tinh thần NQ 02/N-TW của BCH Trung ương Đoàn, BCH Tỉnh Đoàn đã có NQ 03/NQ-TĐ để triển khai với những nội dung cụ thể, nhằm 11 z nâng cao chất lượng đoàn viên và chất lượng tổ chức cơ sở Đoàn. Quá trình thực hiện đã có 80% số chi đoàn ở khu vực nông thôn được sắp xếp theo hệ thống thôn, bản. Số lượng đoàn viên trong mỗi chi đoàn cũng phù hợp hơn, đảm bảo được sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ tới chi đoàn. Không còn hiện tượng một chi đoàn có số lượng đoàn viên quá đông hay quá ít hoặc chịu sự lãnh đạo chồng chéo của hai hay nhiều chi bộ Đảng.
Mặt khác, những nơi tổ chức Đoàn hoạt động, nay đã được củng cố duy trì hoạt động trở lại, và ngày càng đi vào nền nếp, có hiệu quả. Sau 5 năm toàn tỉnh đã củng cố được 1300 chi đoàn yếu kém đi vào hoạt động thường xuyên, xóa được 36 thôn bản trắng đoàn [15, tr.