mở đầu là vua Lê Thái Tổ (1428 – 1433) và kết thúc là đời vua Lê Cung Hoàng (1522-1527). Giai đoạn phát triển cực thịnh của thời Lê sơ đồng thời cũng là đỉnh cao của thể chế chính trị 17 z pháp lý và đời sống kinh tế - văn hoá của chế độ phong kiến Việt Nam là triều vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497). Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua đánh dấu việc chấm dứt giai đoạn chiến tranh và chuyển sang thời kì hoà bình lâu dài của dân tộc. Kinh nghiệm, tri thức thời kì chiến tranh rất lớn nhƣng cũng chƣa thực sự đủ để đƣa đất nƣớc vào con đƣờng thái bình, thịnh trị.
Thực tế cho thấy các tƣớng lĩnh của thời kì Lam Sơn tụ nghĩa là những võ tƣớng anh dũng trên chiến trƣờng và sau khi chiến tranh kết thúc, hầu hết những ngƣời này đều tham gia vào bộ máy chính quyền các cấp. Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đƣợc hình thành từ trong quá trình tổ chức và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, vừa kháng chiến vừa xây dựng chính quyền, quản lí các vùng giải phóng, đã từng bƣớc vƣơn lên đảm nhiệm chức năng của nhà nƣớc độc lập, tự chủ. Đó là đội ngũ dạn dày kinh nghiệm chiến tranh, quen thử thách ác liệt của trận mạc, đã hiến dâng tuổi xuân, sức lực và tiền của của bản thân họ cho kháng chiến cứu nƣớc. So với các nhà nƣớc tự chủ trƣớc đó, khó có triều đình nào lại có đội ngũ công thần khai quốc nhiều chiến công, chiến tích và đông đảo nhƣ triều Lê sơ.
Ngay từ thời vua Lê Thái Tổ, tình trạng quan lại cậy thế công thần để kết bè kéo đảng để trục lợi riêng và lấn át nhà vua đã là hiện tƣợng phổ biến. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu vua Lê Thái Tổ với uy tín của vị lãnh tụ kháng chiến vẫn khống chế đƣợc đội ngũ công thần và điều hành tốt công việc triều chính. Nhƣng ngay sau đó chính nhà vua cũng mắc phải nhiều sai lầm khiến các mâu thuẫn cung đình ngày càng căng thẳng, đồng thời gây ra sự bất bình lớn từ phía dân chúng. Hành vi giết hại một số công thần nhƣ Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo và hạ ngục cả Nguyễn Trãi đã đẩy nhà vua đến chỗ phải đối diện với sự bất hợp tác của quần thần cũng nhƣ quần chúng.
Những nhân tố tiêu cực trên đây cứ âm ỉ cháy trong cung đình nhà Lê và đến khi Thái Tổ 18 z từ trần nó có dịp bộc phát gây nên nhiều sóng gió cho các triều vua kế tiếp khiến cho triều đình Lê sơ nhiều phen chao đảo. Triều vua Lê Thái Tông (1433-1442) bắt đầu khi ông mới lên 10 tuổi. Các quan đại thần là Tƣ đồ Lê Sát, Tƣ khấu Lê Ngân, Đô đốc Phạm Văn Vấn làm phụ chính. Đây là những tƣớng soái tài ba của quân đội Lam Sơn, đã từng có công lớn trong sự nghiệp bình Ngô nhƣng họ chỉ là những võ quan có tài trận mạc mà không phải là những ngƣời có tài văn trị nên tỏ ra lúng túng trong cách điều hành đất nƣớc thời hòa bình.
Hơn nữa, xuất phát từ quyền lợi vị kỷ của cá nhân, họ thƣờng tỏ ra đa nghi, ghen ghét, kết vây cánh, thao túng triều chính và cô lập những ngƣời có tài năng. Họ đã giết Nguyễn Trãi, Lƣu Nhân Chú, truất quyền Trịnh Khả, ép vua Thái Tông bãi chức Bùi Ƣ Đài. là những ngƣời không thuộc phe cánh và có quan điểm canh tân đất nƣớc gây nguy hại đến đặc quyền, đặc lợi của họ. Khoảng 15 tuổi, Thái Tông bắt đầu nắm giữ triều chính, trực tiếp điều hành công việc của đất nƣớc.
Vua lập Hoàng tử Nghi Dân làm thái tử, nhƣng lại phế (1441) để lập Hoàng tử Bang Cơ mới sinh là con của Thần phi Nguyễn Thị Anh. Việc phế lập này đã tạo cơ hội cho bọn quyền thần có mƣu đồ riêng ngấm ngầm gây dựng thế lực bất chính nhằm gây hoạ cho triều đình nhà Lê sơ về sau. Vua Lê Nhân Tông (1443-1459) nắm quyền điều hành chính sự khi lên 12 tuổi, đang cùng với các triều thần ra sức chấn chỉnh kỷ cƣơng và chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá thì cuối năm 1459 lại xảy ra vụ chính biến do Lạng Sơn Vƣơng Lê Nghi Dân cầm đầu. Cuộc chính biến cung đình này đã gây ra tâm lý hoang mang cho toàn thể quần thần cũng nhƣ dân chúng.
Tuy nhiên, triều đại của Nghi Dân chỉ tồn tại 8 tháng. Đến tháng 6 năm Canh Thân 1460, nhóm đại thần khai quốc đã xƣớng nghĩa trừ khử nghịch đảng, phế Nghi Dân làm Lệ Đức Hầu rồi đƣa hoàng tử Tƣ Thành lên ngôi Hoàng đế, trở thành vua Lê Thánh Tông nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. 19 z Lê Thánh Tông (1460-1497) lên ngôi vua giữa lúc triều chính hỗn loạn. Sự phế lập Hoàng đế là một biểu hiện rõ nét cho những xung đột quyền lực gay gắt chốn cung đình.
Điều này đã gây cản trở lớn cho công cuộc tái thiết và xây dựng đất nƣớc trên nhiều phƣơng diện, đe doạ đến cả sự tồn tại của triều Lê. Trong suốt thời gian chấp chính, Lê Thánh Tông đã đề ra và thực hiện thành công nhiều biện pháp, chính sách quan trọng nhằm mục tiêu củng cố chế độ quân chủ tập quyền quan liêu, giữ vững độc lập dân tộc, tăng cƣờng nền quốc phòng và thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đất nƣớc. Ông xây dựng một thiết chế quân chủ tập quyền mạnh nhằm tập trung quyền lực vào tay Hoàng đế, hạn chế sự tham chính của tầng lớp quý tộc hoàng gia, loại trừ khả năng lộng quyền của các triều thần từ trung ƣơng và tệ nạn lạm dụng quyền lực của các quan lại địa phƣơng. Lê Thánh Tông tập trung xây dựng chế độ quân chủ tập quyền quan liêu lấy Nho giáo làm hệ tƣ tƣởng nòng cốt cho các chủ trƣơng chính sách của nhà nƣớc.
Xã hội thời Lê sơ đã chính thức đƣợc quan liêu hoá với một bộ máy nhà nƣớc đồ sộ chƣa từng thấy trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Về kết cấu xã hội: Thời Lê sơ, xã hội đƣợc chia thành hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân, ngoài ra còn có các tầng lớp thợ thủ công, thƣơng nhân và nô tì. Giai cấp địa chủ phong kiến bao gồm những địa chủ - quan lại giữ những trọng trách trong bộ máy thống trị, đứng đầu là vua và các địa chủ bình dân vừa và nhỏ. Giai cấp địa chủ phong kiến thời Lê làm giàu nhờ một phần dựa vào việc bóc lột địa tô nhƣng phần lớn dựa vào bóc lột thuế thông qua nhà nƣớc.
Chính vì vậy, quyền lợi của giai cấp địa chủ gắn liền với quyền lợi của nhà nƣớc phong kiến. 20 z Giai cấp nông dân có số lƣợng đông đảo nhất trong xã hội Lê sơ. Họ là lực lƣợng sản xuất chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển và phồn vinh của đất nƣớc. Chính vì vậy họ đƣợc nhà nƣớc phong kiến hết sức quan tâm và bảo vệ.
Tầng lớp thợ thủ công và thƣơng nhân trong xã hội Lê sơ còn nhỏ bé và đại bộ phận chƣa hoàn toàn tách khỏi sản xuất nông nghiệp. Thời kỳ này, thợ thủ công giỏi bị trƣng tập, tổ chức lại thành các bộ phận nhƣ binh lính, đƣợc cấp lƣơng, làm việc dƣới sự quản lý của nhà nƣớc và không có quyền bỏ việc. Vị trí, địa vị và vai trò của tầng lớp này trong xã hội chƣa thực sự đƣợc chú trọng. Tầng lớp thƣơng nhân cũng có sự phát triển hơn các triều đại trƣớc, do thời kỳ này nhà Lê chú trọng vào việc thành lập các chợ để nhân dân có điều kiện trao đổi hàng hoá nhƣng chỉ trong phạm vi địa phƣơng.
Tuy nhiên, nhà Lê vẫn thực thi chính sách ức thƣơng đối với trong nƣớc và cả với nƣớc ngoài nên nền kinh tế hàng hoá của thời này vẫn chƣa có bƣớc phát triển lớn. Chế độ nô tì thịnh hành dƣới thời Lý, Trần đến thời Hồ đã tan rã về căn bản sau chính sách hạn nô (1401) của Hồ Quý Ly. Sang triều đại nhà Lê đã cho phép nô tì đƣợc chuộc thân để tự giải phóng. Mặc dầu có giảm đi về số lƣợng, song nô tì vẫn còn là một tầng lớp đáng kể trong xã hội, và dƣới triều đại Lê sơ thì chiến tranh xâm lƣợc vẫn là nguồn bổ sung nô tì đáng kể cho xã hội.
Việc mua bán nô tì vẫn đƣợc duy trì. Địa vị và thân phận nô tì thấp kém nhất trong xã hội. Do chính sách độc tôn Nho giáo của triều Lê sơ đã dẫn đến một thực trạng là tầng lớp Nho sĩ ngày càng phát triển đông đảo và chiếm vị trí quan trọng góp phần tạo ra một diện mạo mới cho xã hội Lê sơ. Nho học và thi cử để tuyển chọn nhân tài bổ sung cho bộ máy nhà nƣớc ngay từ thời Lê Thái Tổ 21 z đã đƣợc coi trọng.
Tuy nhiên, giai đoạn này vị trí của Nho quan nói chung còn thấp kém hơn so với đội ngũ công thần rất nhiều. Theo thời gian, tầng lớp Nho quan trong bộ máy nhà nƣớc ngày càng đông đảo. Đặc biệt, đến Lê Thánh Tông đã lấy trình độ học vấn Nho giáo làm tiêu chuẩn cho quan lại. Các hoàng thân quốc thích đƣợc ban cấp hơn hẳn các quan chức, song nếu không đỗ đạt thì không đƣợc làm quan.
Đội ngũ Nho sĩ nếu đỗ đạt trở thành quan lại trong bộ máy nhà nƣớc sẽ góp phần luật hóa các quan hệ xã hội cơ bản thời Lê sơ theo tƣ tƣởng Nho giáo. Về kinh tế: Trƣớc vƣơng triều Lê sơ chế độ phong kiến quân chủ tập quyền đã đƣợc xác lập và phát triển dựa trên nền tảng của loại hình kinh tế đại điền trang thái ấp mang nặng đặc trƣng của “phƣơng thức sản xuất châu Á” và một quá trình phong kiến hoá xã hội còn thấp. Nền kinh tế điền trang thái ấp cơ bản đã bị thủ tiêu từ triều đại nhà Hồ sau một loạt chính sách cải cách của Hồ Quý Ly. Hoà bình lập lại, nhà nƣớc Lê sơ có điều kiện nắm trong tay số ruộng đất khá lớn của các quan chức, các nhà quyền thế tiền triều, của nguỵ quan, của những ngƣời tuyệt tự, hay của dân li tán… Và yêu cầu lúc này đƣợc đặt ra là nhà nƣớc phải có các biện pháp nhằm khôi phục nền kinh tế nông nghiệp bị tàn phá trong chiến tranh.