mở đầu bài diễn thuyết hoặc bài giảng. Ví dụ: “Nhiều người trong số các bạn đã từng yêu, đang yêu. Tình yêu thật là kỳ diệu phải không các bạn? Nhưng đã bao giờ các bạn tự hỏi mình rằng, tại sao con người yêu nhau chưa? Đã bao giờ các bạn băn khoăn, tại sao có những mối tình khởi đầu rất đẹp nhưng kết cục lại không được như vậy chưa? Bài nói chuyện của tôi hôm nay sẽ giúp các bạn giải đáp một phần những thắc mắc đó”. * Dùng câu hỏi để đưa ra một lời đề nghị Trong trường hợp này, câu hỏi được đưa ra là một đề xuất, một ý kiến nhằm thăm dò cách thoát ra khỏi một tình huống nào đó.
Câu hỏi mang tính đề nghị cũng là một thủ thuật tinh tế để giải quyết những xung đột hoặc căng thẳng và làm cho cuộc tiếp xúc có hiệu quả hơn. Ví dụ: Đang tranh luận nhau một vấn đề gì đó rồi dẫn đến rất căng thẳng. Một trong hai người đã nhận ra vấn đề này và muốn thay đổi không khí: “À! Ở đây có một quán cà phê rất nổi tiếng, bây giờ chúng ta ra đó để ngồi một chút đi” * Dùng câu hỏi để giảm tốc độ nói của người khác Trong trường hợp khi người đối thoại cứ thao thao bất tận, bạn có thể làm giảm tốc độ nói của họ bằng cách đặt ra cho họ những câu hỏi nhất định. * Dùng câu hỏi đề kết thúc vấn đề 17 Khi bạn muốn kết thúc câu chuyện mà không làm phật ý người đối thoại, bạn có thể dung câu kết thúc vấn đề.
Ví dụ: Chúng ta đã gặp nhau và tâm sự với nhau rất nhiều điều thật bổ ích, thỉnh thoảng chúng ta lại gặp nhau nhé. Bây giờ, chúng ta về thôi. Những lưu ý khi đặt câu hỏi trong giao tiếp Hãy lấy những câu hỏi bắt buộc phải hỏi làm trọng tâm, sau đó là những câu cần hỏi. Nếu còn thời gian, chúng ta mới đặt những câu hỏi nên hỏi (câu hỏi nên hỏi là những câu mang tính chất tìm hiểu thêm); Hãy tập hỏi những câu hỏi ngắn gọn, cụ thể vào vấn đề, tốt nhất mỗi một vấn đề là một câu hỏi; Không nên hỏi quá nhiều, không hỏi những câu hỏi mang tính thách đố; Khi đặt câu hỏi, chúng ta nên hỏi đúng người thì câu trả lời sẽ mang lại những thông tin bổ ích; Câu hỏi đưa ra cần đúng lúc, đúng chỗ.
Đừng ngắt lời của người nói và có thái độ tôn trọng người nói; Có thái độ tự tin, bình tĩnh, tôn trọng, lịch sự khi đặt câu hỏi. Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ hiệu quả Giao tiếp phi ngôn từ là một bộ phận quan trọng trong quá trình giao tiếp của con người. Nó bao gồm việc sử dụng những tín hiệu trực quan như ngôn ngữ cơ thể (cử chỉ), khoảng cách (không gian giao tiếp), tính chất vật lý của giọng nói và tiếp xúc (xúc giác). Nó còn có thể bao gồm thời gian (sự sử dụng thời gian) và trực quan (giao tiếp bằng mắt và các hoạt động nhìn khi nói và lắng nghe, tần số của ánh mắt, sự giãn nở của đồng từ, hình mẫu cố định và tỉ lệ chớp mắt).
Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, quá trình giao tiếp hàng ngày bao gồm ba yếu tố (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và giọng điệu). Ngôn ngữ đóng góp 7%, giọng điệu chiếm 38% và yếu tố phi sở hữu được 55% trong việc tác động đến người giao tiếp (A. Knapp, 1972), giao tiếp phi ngôn từ hàm chỉ các hành động hoặc các biểu hiện ngoài ngôn từ. Các hành động hoặc biểu hiện vốn có ý nghĩa được chia sẻ về mặt xã hội đó được gửi đi một cách có chủ đích hoặc được diễn giải có chủ đích và được gửi đi hoặc tiếp nhận một cách có ý thức.] Giao tiếp phi ngôn từ là một thuật ngữ để miêu tả tất cả các sự kiện giao tiếp vượt lên trên ngôn từ khẩu ngữ và bút 18 ngữ.
Giao tiếp phi ngôn từ là ngôn ngữ “im lặng”, bao gồm việc sử dụng cử chỉ, diện hiện trên khuôn mặt, nhãn giao (tiếp xúc ánh mắt) và khoảng cách đối thoại. Adelman, 1993) Giao tiếp phi ngôn từ bao gồm toàn bộ các bộ phận của thông điệp không được mã hóa bằng từ ngữ (J. Giao tiếp phi ngôn từ là toàn bộ các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp không thuộc mã nguồn từ, có nghĩa là không được mã hóa bằng từ ngữ nhưng có thể thuộc về cả hai kênh ngôn thanh và phi ngôn thanh. Nó bao gồm các yếu tố cận ngôn (phi ngôn từ - ngôn thanh) như tốc độ, cường độ,…; các yếu tố ngoại ngôn (phi ngôn từ - phi thanh) thuộc ngôn ngữ thân thể như cử chỉ, dáng điệu,…; thuộc ngôn ngữ vật thể như áo quần, trang sức,… và thuộc ngôn ngữ môi trường như khoảng cách đối thọa, địa điểm giao tiếp,… (Nguyễn Quang, 2007) Vì vậy, giao tiếp phi ngôn ngữ có thể miêu tả một thông điệp với cả giọng điệu và ký hiệu cơ thể và cử chỉ chính xác.
Nó bao gồm những đặc trưng vật lý, cử chỉ và ký hiệu có ý thức hay vô thức, sự giao thoa của không gian cá nhân. Tuy nhiên, giao tiếp phi ngôn từ thường đi kèm với lời nói nhằm làm tăng ý nghĩa, củng cố và làm rõ thông điệp. Giọng nói Giọng nói phản ánh chân thực cảm xúc và tình cảm của người nói nên sức truyền cảm to lớn. Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, cách phát âm chuẩn, rõ ràng, âm của giọng nói và tốc độ nói ảnh hướng đến hiệu quả trong quá trình giao tiếp.
Những yếu tố này bị chi phối bởi những đặc điểm về giới tính, cấu tạo thanh quản và môi trường ngôn ngữ của mỗi người. * Rèn luyện một phong thái tốt khi nói Nói to hơn Trong quá trình nói, mọi người phải nghe được nội dung đang giao tiếp nên hãy nói to. Nếu chúng ta nói thầm thì, lẩm bẩm hoặc cúi đầu khi nói thì bạn sẽ bị người khác nói át đi hoặc phớt lờ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là hét lên, nên điều chỉnh âm lượng tùy vào tình huống.
Nói chậm lại 19 Nói quá nhanh là một thói quen xấu và khiến người nghe khó theo kịp hoặc thậm chí không hiểu nội dung đang giao tiếp. Điều đó sẽ dễ làm mọi người mất tập trung và không lắng nghe. Do đó, người nói cần điều chỉnh tốc độ bằng cách nói chậm hơn và ngắt giọng giữa các câu. Điều này giúp nhấn mạnh những điều mà chúng ta đang truyền đạt, đồng thời dành thời gian để thở.
Tuy nhiên, chúng ta không nên nói quá chậm. Nói quá chậm sẽ khiến người nghe cảm thấy đơn điệu, họ có thể mất kiên nhẫn và không tập trung nữa. Tốc độ nói lý tưởng là khoảng 120 đến 160 từ một phút. Nếu đang thuyết trình, nên điều chỉnh tốc độ tùy vào nội dung những gì đang nói – nói chậm có thể giúp nhấn mạnh một ý, trong khi nói nhanh hơn có thể gây ấn tượng về sự say mê và nhiệt thành.
(Toastmasters International, 2011) Phát âm rõ Nói rõ ràng là điều quan trọng nhất trong việc cải thiện giọng nói. Chúng ta phải thật tập trung từng từ nói ra – phát âm tròn trịa và phát âm đúng. Khi nói, chúng ta nên mở miệng, thả lỏng môi, giữ lưỡi và răng đúng vị trí khi nói chuyện. Điều này loại bỏ hoặc sửa được tật nói ngọng.
Ban đầu, chúng ta sẽ cảm thấy không quen, khi liên tục luyện tập phát âm đúng thì sẽ cảm thấy tự nhiên. Tập thở sâu Thở sâu là điều cần thiết để có giọng nói tròn trịa và đầy đặn. Phần đông mọi người thở quá nhanh và nông trong khi nói, kết quả dẫn đến là nói giọng mũi và không tự nhiên. Hơi thở cần phải từ cơ hoành, không phải từ ngực.
Để biết mình thở có đúng hay không, bạn đặt nắm tay lên bụng, ngay bên dưới xương sườn cuối cùng. Nếu thở đúng, bạn sẽ cảm thấy bụng phồng lên, đồng thời vai nhô lên hạ xuống khi hít thở. Tập thở bằng cách hít sâu để không khí tràn vào đầy bụng. Hít vào trong 5 giây, sau đó thở ra trong 5 giây nữa.
Làm quen với phương pháp hít thở này, sau đó cố gắng áp dụng vào cách nói hàng ngày của bạn. Nhớ rằng tư thế ngồi hoặc đứng thẳng, cằm nâng cao và vai đưa về sau sẽ giúp bạn thở sâu hơn và dễ dàng nói to hơn. Tư thế này cũng tạo vẻ tự tin cho bạn trong khi nói. Cố gắng hít thở sau mỗi câu nói – nếu áp dụng phương pháp thở sâu, bạn sẽ có đủ không khí để nói hết câu kế tiếp mà không phải dừng lại để thở.
Điều này cũng giúp người nghe có thể theo kịp những điều bạn đang nói. 20 Thay đổi âm sắc Âm sắc của giọng nói thực sự có thể tác động đến chất lượng lời nói và tác động cả đến người nghe. Âm sắc run run, lên xuống thất thường sẽ gây cảm giác hồi hộp, trong khi âm sắc đều đặn nghe bình tĩnh và thuyết phục hơn (Lisa B. Chúng ta có thể tập kiểm soát âm sắc của mình bằng cách ngân nga một giai điệu, hoặc đơn giản đọc to một đoạn văn.
Tập đọc to Nhịp điệu và âm lượng là điều cần thiết trong việc tập phát âm. Chọn một đoạn trong sách hoặc tạp chí hoặc bài phát biểu nổi tiếng và đọc to lên. Đồng thời, đứng thẳng, thở sâu và mở to miệng khi nói. Đứng trước gương nếu chúng ta thấy điều này là hữu ích, tiếp tục thực hành đến khi hài lòng với giọng nói của mình.
Sau đó, chúng ta cố gắng áp dụng kỹ thuật này khi nói chuyện hàng ngày. Mỉm cười khi nói Mọi người sẽ ưu ái hơn khi đánh giá bạn và những lời bạn nói nếu giọng của bạn cởi mở, thân thiện và khích lệ (ngược với giọng hung hăng, mỉa mai hoặc đơn điệu). Để có giọng nói thân thiện và nồng ấm là mỉm cười khi nói chuyện. Chúng ta không nên cười toe toét, nhưng chỉ cần hai mép hơi nhích lên là giọng nói của bạn sẽ nghe hấp dẫn hơn (ngay cả khi nói qua điện thoại).Tuy nhiên, không mỉm cười khi đang thảo luận về một vấn đề nghiêm túc.
Nụ cười, nụ hôn trong giao tiếp Hình 4.7 - Nụ cười trong giao tiếp Nguồi: http://khoahoc.vn * Nụ cười trong giao tiếp 21 Nụ cười là một phương tiện giao tiếp quan trọng chứa đựng nhiều nội dung phong phú. Nụ cười biểu hiện thái độ, tình cảm và nét tính cách của con người. Nụ cười là một biểu hiện văn minh và thể hiện sự truyền đạt thông tin.