chương 1,2,4 và tham gia viết các chương 3,5; Th. Lê Trọng Tùng tham gia viết chương 3,5; Th. Lã Ngọc Minh tham gia viết chương 4,5. Cuốn sách này được biên soạn nhằm phục vụ giảng dạy môn Kinh tế xây dựng cho ngành Kinh tế xây dựn§, Quản lý xây dựng và các ngành Kỹ thuật xây dựng tại Trường đại học Giao thông vận tải.
Đồng thời, cuốn sách này là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng độc giả nghiên cứu và hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh - vực Kinh tế và Quản lý xây dựng. Trong quá trình biên soạn, nội dụng của cuôn sách được cập nhật và tham khảo những kiến thức đương đại về Kinh tế học, Kinh tế học xây dựng và Quản lý xây dựng trên thế giới, trong đó có xem xét thực tiễn phát triển ngành xây dựng tại Việt Nam. Sách không tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung cũng như hình thức. Nhóm tác giả biên soạn mong nhận được các góp ý của độc giá để quyển sách được hoàn thiện hơn trong quá trình sử dụng cũng như tái bản.
Mọi ý kiến đóng góp xin được gửi về Bộ môn Kinh tế xây dựng, Trường Đại học Giao thông vận tải. Hà Nội, tháng 6 năm 2021 Nhóm tác giả 4*KT & QLXD Chuong 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ XÂY DỰNG 1. KHAI NIEM KINH TE VA CAC NGUYEN TAC CO BAN CUA KINH TE: 1. Kinh tế Thuật ngữ kinh tế (Economies) bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, xuất phát từ nguồn gốc.
là “ 'quản lý các việc gia đình, nội trợ (household/housekeeping). Thoat nghe, nguồn gôc của thuật ngữ này có vẻ kỳ cục. Tuy vậy, trên thực tế thì quản ly nỘi trợ và kinh tế có rất nhiều điểm tương đồng. Một người quản gia phải đối mặt rất nhiều quyết định.
Các quyết định liên quan đến phân công công việc cho các thành viên (ai nấu cơm, ai giặt đồ, ai lau nhà, ai đi chợ. Tóm lại, người quản gia phải sắp xếp công việc trong điều kiện nguồn nhân lực có hạn trong phạm vi gia đình, trên cơ sở xem Xét đến khả năng, sự nỗ lực cũng như mong muốn của các thành viên. Hơn nữa, mỗi một hộ gia đình đều có khoản thu nhập, và các thành viên trong hộ gia đình phải quyết định chỉ tiêu như thế nào là tốt nhất trong điều kiện cân đối sự thỏa mãn các mong muốn, đòi hỏi của mình với các nguồn cung hàng hóa địch vụ luôn sẵn sàng. Cũng giống như một hộ gia đình, một xã hội hay một nền kinh tế cũng phải đối mặt với nhiều quyết định.
Theo đó, xã hội hay nền kinh tế đó phải quyết định những công việc phải làm là gì, ai sẽ làm. Trong đó có sự phân công lao động cụ thê, sẽ có người sản xuất lương thực, có người sản xuất quần áo. và các ngành công nghiệp - khác. Khi xã hội phân công lao động bao gồm sắp xếp các yếu tố đầu vào (con người, đất đai, nhà cửa, máy móc, nguyên vật liệu,.) cho các ngành nghề, công việc khác nhau thì cũng phải sắp xếp, bố trí, phân phối các sản phẩm đầu ra (hàng hóa và dịch vụ) được sản xuất ra, chính là các quyết định liên quan đến phân phối sản phẩm và dịch vụ cho các đối tượng cụ thê.
Quản lý nguồn tài nguyên của xã hội là hết sức quan trọng. vì nguôn tài nguyên là khan hiểm. Sự khan hiếm thể hiện ở đây là xã hội đó có nguồn tài nguyên là hữu hạn. và vì vậy không thể sản xuất ra tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ mà con người muốn có.
Cũng giống như người quản lý gia đình không thé dua cho tất cả các thành viên những gì mà họ muốn, một xã hội không thể thỏa mãn hết tất các cá nhân về những tiêu chuẩn sống cao nhất như họ mong muốn. Kinh tế (Economics) là sự nghiên cứu cách thức xã hội quản lý các nguồn tài nguyên khan hiếm của mình. Trong hầu hết các xã hội, các nguồn tai nguyên được bố trí, phân phối không phải bởi một chính quyền trung ương chuyên về kế hoạch hóa mà thông qua sự kết hợp của hàng triệu hộ gia đình và các doanh nghiệp. Các nhà kinh tế học, vì vậy, nghiên cứu cách thức mà con người ra các quyết định: họ làm bao nhiêu, họ mua cái gì, họ tiết kiệm bao nhiêu, và họ đầu tư các khoản tiết KT & QLXD * 5 kiệm của họ như thế nào.
Các nhà kinh tế học cũng nghiên cứu cách thức con người tương tác với nhau. Ví dụ, các nhà kinh tế học nghiên cứu cách thức mà các bên bán và các bên mua một sản phẩm định giá sản phẩm đó và số lượng sản phẩm đó sẽ được bán. Cuối cùng, các nhà kinh tế phân tích những áp lực và các xu hướng ảnh hưởng tổng thể đến nền kinh tế, bao gồm sự tăng trưởng thu nhập bình quân, sự phân bố lao động thất nghiệp, va tỷ lệ lạm phát, tăng giá. Các nguyên tắc kinh tế cơ bản Mặc dù nghiên cứu về kinh tế liên quan đến nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, lĩnh vực nghiên cứu này được thông nhất trong các ý tưởng/quan niệm da chiều.
Do đó, hình thành nên những nguyên tắc cơ bản khác nhau trong quá trình nghiên cứu kinh tế. Nghiên cứu kinh tế của một tổ chức xã hội (gia đình, doanh nghiệp, ngành, quốc gia, toàn cầu) thực chất là nghiên cứu sự tương tác của các nhóm người trong tổ chức xã hội đó. Nghiên cứu hành vi của một nền kinh tế thực chất là nghiên cứu hành vi của các cá thể của nền kinh tế đó. Các hành vi kinh tế đều dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây: Nguyên tắc # 1: Con người phải đỗi mặt với sự đánh đỗi Bài học đầu tiên về việc ra các quyết định được tóm lược trong câu ngạn ngữ “không có bita trua nao 1a mién phi/there is no such thing as a free lunch”.
Đề có được một thứ chúng ta thích, chúng ta thường phải cho đi một thứ khác mà chúng ta cũng thích. Việc đưa ra các quyết định chính là yêu cầu về sự đánh đổi một mục tiêu/lợi ích với mục tiêu/lợi ích khác. Hãy xem xét cách một sinh viên phải quyết định cách phân bổ tài nguyên quý - giá nhất của mình. Sinh viên đó có thể dành tất cả thời gian để học kinh tế xây dựng; sinh viên ấy có thê dành tất cả thời gian để nghiên cứu tâm lý học; hoặc sinh viên ấy có thê phân chia thời gian của mình giữa hai lĩnh vực.
Cứ mỗi giờ sinh viên ấy học một môn, sinh viên đó từ bỏ một giờ mình có thể sử dụng để học môn kia. Và cứ mỗi giờ sinh viên đó dành thời gian cho việc học, họ từ bỏ một giờ mà mình có thể dành để ngủ trưa, đạp xe, xem TV hoặc làm việc bán thời gian để kiếm thêm tiền. Hoặc xem xét cha mẹ quyết định làm thế nào để chỉ tiêu thu nhập gia đình của họ. Họ có thé mua thức ăn, quân áo, hoặc một kỳ nghỉ gia đình.
Hoặc họ có thể tiết kiệm một số thu nhập của gia đình để nghỉ hưu hoặc đầu tư cho giáo dục đại học của con trẻ. Khi họ chọn chi thêm một đồng cho một trong những hàng hóa này, họ có ít hơn một đồng để chi cho một số mặt hàng/dịch vụ khác. Khi con người được tập hợp lại thành các xã hội, họ phải đối mặt với các loại đánh đổi khác nhau. Sự đánh đổi kinh điển là giữa “súng và bơ”.
Chúng ta càng chỉ nhiều cho quốc phòng để bảo vệ bờ cối của chúng ta khỏi những kẻ xâm lược nước ngoài (súng), chúng ta cảng ít chỉ tiêu cho tiêu dùng để nâng cao mức sống hàng ngày (bơ). Cũng quan trọng giông như trong xã hội hiện đại là sự đánh đổi giữa môi trường trong sạch và mức thu nhập cao. Luật pháp yêu cầu các công ty giảm ô nhiễm sẽ làm tăng chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Do chỉ phí cao hơn, các công ty này cuối 6* KT & QLXD cung sé kiếm được lợi nhuận nhỏ hơn, trả lương thấp hơn, tính giá cao hơn hoặc kết hợp cả ba.
Do đó, trong khi các quy định về ô nhiễm mang lại cho chúng ta lợi ích của một môi trường sạch hơn và sức khỏe được cải thiện đi kèm, chúng phải chịu chỉ phí cao hơn/ hay làm giảm thu nhập của các chủ sở hữu, công nhân và khách hàng. Một sự đánh đổi khác mà xã hội phải đối mặt là giữa hiệu quả và công bằng. Hiệu quả có nghĩa là xã hội đang nhận được nhiều nhất có thể từ các nguồn lực khan hiếm của nó. Công bằng có nghĩa là lợi ích của những tài nguyên đó được phân phối công bằng giữa các thành viên xã hội.
Nói cách khác, hiệu quả liên quan đến kích thước của chiếc bánh kinh tế và sự công bằng đề cập đến cách thức chiếc bánh được chia. Thông thường, khi chính sách của chính phủ đang được kiến tạo, hai mục tiêu này xung đột với nhau: hiệu quả và công bằng. Ví dụ, xem xét các chính sách nhằm đạt được sự phân phối tốt hơn về phúc lợi kinh tế. Một số trong những chính sách này, chăng hạn như hệ thống phúc lợi hoặc bảo hiểm thất nghiệp, cố gắng giúp đỡ những thành viên của xã hội mà đang cần nhất.
Những chính sách khác, chẳng hạn như thuế thu nhập cá nhân, yêu cầu các cá nhân có sự thành công hơn về mặt tài chính đóng góp nhiều hơn những người khác để hỗ trợ chính phủ. Mặc dù các chính sách này mang lại lợi ích để đạt được sự công bằng lớn hơn, nhưng chúng đang tạo ra chỉ phí/thiệt hại xã hội liên quan đến giảm hiệu năng. Khi chính phủ phân phối lại thu nhập từ người giàu sang người nghèo, điều đó sẽ làm giảm sự đánh giá/phần thưởng cho những người làm việc chăm chỉ; kết quả là mọi người làm việc ít hơn và sản xuất ít hàng hóa và dịch vụ hơn. Nói cách khác, khi chính phủ cố gắng cắt chiếc bánh kinh tế thành những lát bằng nhau ` hơn, chiếc bánh sẽ nhỏ hơn.
Có thể thấy rằng con người phải đối mặt với sự đánh đổi mà bản thân sự đánh đổi đó cho chúng ta biết sẽ hoặc nên đưa ra những quyết định như thế nào. Một sinh viên không nên từ bỏ việc nghiên cứu tâm ly hoc chi vi lam như vậy sẽ tăng thời gian dành cho việc nghiên cứu kinh tế xây dựng. Xã hội không nên ngừng bảo vệ môi trường chỉ vì các quy định môi trường làm giảm mức sống vật chất của chúng ta.