Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nông nghiệp là ngành kinh tế gắn liền với lịch sử phát triển hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tạo nguồn hàng xuất khẩu. Trong cơ cấu dân cư, khoảng 80% dân số Việt Nam sinh sống tại khu vực nông thôn, khiến các vấn đề về nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn mang ý nghĩa chiến lược đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Giai đoạn mười năm sau ngày thống nhất đất nước (1976 – 1985), nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về lý luận và chính sách quản lý kinh tế. Việc áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp cùng cơ chế quản lý mang tính bình quân chủ nghĩa trong các hợp tác xã nông nghiệp đã triệt tiêu động lực lao động của người nông dân. Năng suất lao động giảm sút, hiệu quả sản xuất thấp kém, dẫn đến tình trạng thiếu hụt lương thực triền miên. Đứng trước áp lực thực tiễn gay gắt, các hiện tượng "khoán chui", phong trào "phá rào" xuất hiện tự phát tại nhiều địa phương, từng bước thúc đẩy sự thay đổi trong chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, mở đầu bằng Chỉ thị 100-CT/TW năm 1981 và chuẩn bị tiền đề cho công cuộc Đổi mới toàn diện năm 1986.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Huế tập trung thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát lịch sử kinh tế nông nghiệp Việt Nam trước năm 1976: Khảo cứu hoạt động nông nghiệp qua ba thời kỳ lịch sử gồm thời kỳ phong kiến độc lập (trước năm 1858), thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1945), và thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (1945 – 1975) nhằm tạo lập cơ sở so sánh với giai đoạn 1976 – 1985.
- Làm rõ bối cảnh kinh tế – xã hội và chủ trương của Đảng: Phân tích đặc điểm bối cảnh đất nước sau năm 1975, quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở hai miền, cùng các quyết sách kinh tế nông nghiệp quan trọng của Đảng tại Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8/1979), Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư (tháng 1/1981) và Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6/1985).
- Phân tích hoạt động kinh tế nông nghiệp thực tế qua hai giai đoạn 1976 – 1980 và 1981 – 1985: Đánh giá việc vận hành mô hình kinh tế tập trung giai đoạn đầu, sự chuyển biến tích cực khi áp dụng cơ chế khoán sản phẩm giai đoạn sau, và các bước chuyển dịch sang cơ chế phân cấp quản lý cấp huyện.
- Nhận xét, đánh giá tổng thể: Chỉ ra những thành tựu đạt được, những hạn chế, khuyết tật của cơ chế cũ, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về mặt nhận thức quy luật kinh tế và hoạch định chính sách nông nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế nông nghiệp Việt Nam, trọng tâm là sự vận động của mô hình hợp tác xã, cơ chế quản lý sản xuất nông nghiệp và các chính sách kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1976 – 1985.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong đó có sự đối sánh đặc thù giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam.
- Phạm vi thời gian: Tập trung chủ yếu từ năm 1976 (khi đất nước hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước) đến trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986); phần mở đầu khảo cứu khái quát giai đoạn trước năm 1976.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện dựa trên hệ thống cơ sở lý luận, quan điểm và phương pháp nghiên cứu lịch sử chuyên ngành:
- Cơ sở lý luận và thế giới quan: Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về lịch sử, phát triển kinh tế và nông nghiệp. Tác giả vận dụng các tác phẩm kinh điển của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam (đặc biệt là Đại hội III, IV, V và VI), các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, chỉ thị của Ban Bí thư và các quyết định của Chính phủ.
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Đồng thời, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành như phân tích, tổng hợp tư liệu, so sánh lịch sử, thống kê kinh tế, đánh giá và nhận định khách quan các sự kiện.
- Nguồn dữ liệu và tư liệu:
- Tài liệu văn kiện Đảng và Nhà nước: Các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (1979), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa V (1985), Chỉ thị 100-CT/TW (1981), Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (1988), các báo cáo tổng kết 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội của các ngành, địa phương.
- Tài liệu ngành nông nghiệp: Báo cáo tổng kết phong trào hợp tác hóa của Ban Nông nghiệp Trung ương, tài liệu sơ kết của Bộ Nông nghiệp, văn kiện Đại hội Hội Nông dân Việt Nam.
- Tài liệu học thuật và sách chuyên khảo: Công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Bá Linh (1989), Nguyễn Đức Thìn, Lưu Văn Sùng (1990), Chử Văn Lâm và nhóm tác giả (1992), Đào Thế Tuấn (1995), Nguyễn Văn Bích (1994), Nguyễn Sinh Cúc (1990), cùng các nghiên cứu của học giả quốc tế (Kerkvliet) và các nhà nghiên cứu xã hội học (Nguyễn Đức Truyến, Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh).
- Tư liệu lưu trữ: Thu thập tại Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những yếu tố tác động đến kinh tế nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1976 - 1985
Chương này trình bày ba nội dung lớn tạo nên nền tảng và khung bối cảnh tác động trực tiếp đến sự vận hành của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1976 – 1985:
1. Kinh tế nông nghiệp Việt Nam trước năm 1976:
- Thời kỳ phong kiến độc lập (trước năm 1858): Nông nghiệp giữ vị trí gốc ("nông gia thiên hạ chi đại bản"). Ruộng đất về nguyên tắc thuộc quyền sở hữu tối thượng của nhà vua, chia thành công điền, công thổ (giao làng xã quản lý, định kỳ 3 năm phân cấp theo khẩu phần) và tư điền. Năm 1836, sau khi hoàn tất đạc điền, toàn quốc có 4.892 mẫu ruộng đóng thuế, riêng Lục tỉnh Nam Kỳ có hơn 630.075 mẫu điền thổ. Nhà nước thực hiện các chính sách khuyến nông, đắp đê, khẩn hoang và mộ dân lập dinh điền (như thời Minh Mạng năm 1837 cấp vốn cho dân nghèo Biên Hòa, thời Tự Đức định lệ mộ dân lập cơ đội).
- Thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1945): Kinh tế đồn điền tư bản Pháp hình thành. Tính đến ngày 31/12/1943, người Pháp chiếm trên 1 triệu ha đất trồng, lập 3.928 đồn điền (chủ yếu là cao su, cà phê). Ruộng đất truyền thống bị phân hóa manh mún, nông dân mắc nợ và mất đất; năm 1930 có 2/3 ruộng đất ở Bắc Kỳ diện tích không quá 0,30 ha. Năng suất lúa bình quân giai đoạn 1930 – 1944 chỉ đạt 12 tạ/ha (thấp hơn Thái Lan 18 tạ/ha, Nhật Bản 34 tạ/ha). Nạn đói năm 1945 làm hơn 2 triệu người ở miền Bắc chết đói.
- Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954): Thực hiện đường lối kinh tế vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Từ 1945 đến 7/1954, chính quyền cách mạng chia 475,9 nghìn ha ruộng đất cho nông dân miền Bắc và 410 nghìn ha cho nông dân Nam Bộ. Sản lượng lương thực quy thóc vùng tự do đạt 2,95 triệu tấn (tăng 13,7% so với năm 1946). Riêng tại các vùng căn cứ như Chiến khu Đ, năm 1953 thu hoạch được 25.000 giạ thóc, giúp bộ đội và nhân dân tự túc lương thực.
- Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975): Hai miền phát triển theo hai mô hình kinh tế khác biệt. Ở miền Bắc, đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa; đến năm 1975 có 97% số hộ nông dân vào hợp tác xã (trong đó 88% là hợp tác xã bậc cao), cùng với 365 nông, lâm trường và trạm trại quốc doanh. Ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn phát triển kinh tế đồn điền và đinh điền theo hướng tư bản chủ nghĩa; đến cuối năm 1962 có 755 đồn điền (93.000 ha) và cuối năm 1963 có thêm 198 đinh điền với 50.931 hộ gia đình (118.000 ha).
2. Bối cảnh kinh tế – xã hội Việt Nam giai đoạn 1976 – 1985:
- Bối cảnh kinh tế: Sau khi hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước qua cuộc Tổng tuyển cử tháng 4/1976 và kỳ họp Quốc hội khóa VI tháng 6/1976, cả nước bước vào kế hoạch 5 năm 1976 – 1980. Nhà nước dành 1/3 ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản, phục hóa 50 vạn ha ruộng đất bỏ hoang, khai hoang 70 vạn ha, trang bị 18 nghìn máy kéo (chiếm 25% diện tích cày bừa). Tuy nhiên, do tư tưởng chủ quan nóng vội, cơ chế quản lý quan liêu bao cấp làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế không tương xứng với vốn đầu tư. Bình quân 1976 – 1980, tổng sản phẩm xã hội chỉ tăng 1,4%/năm, thu nhập quốc dân tăng 0,4%/năm trong khi dân số tăng 2,24%/năm; toàn bộ 15 chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều không đạt kế hoạch. Nền kinh tế rơi vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng và siêu lạm phát (năm 1986 lạm phát đạt đỉnh điểm 774,7%).
- Bối cảnh xã hội: Nhà nước ban hành Nghị quyết 14 (tháng 1/1979) về cải cách giáo dục. Năm học 1979 – 1980, cả nước có gần 1,5 triệu học sinh mẫu giáo, 11,7 triệu học sinh phổ thông, 13 vạn học sinh trung học chuyên nghiệp và 15 vạn sinh viên đại học. Mạng lưới y tế cơ sở và phong trào xóa mù chữ ở miền Nam được đẩy mạnh. Tuy nhiên, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn do phân phối theo tem phiếu và thu nhập quốc dân sản xuất chỉ bằng 80 – 90% thu nhập quốc dân sử dụng.
3. Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về nông nghiệp:
- Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8/1979): Đề ra nhiệm vụ động viên toàn dân, toàn quân đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp; ban hành các chính sách cởi trói: ổn định mức nghĩa vụ bán lương thực cho Nhà nước trong 5 năm, điều chỉnh biểu thuế nông nghiệp, nâng giá thu mua nông sản hợp lý, bãi bỏ cách phân phối theo định suất định lượng trong hợp tác xã, củng cố hợp tác xã và chống tư tưởng gò ép, mệnh lệnh đối với nông dân miền Nam.
- Chỉ thị 100-CT/TW (ngày 13/1/1981): Ban Bí thư ban hành chủ trương cải tiến công tác khoán, áp dụng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Xóa bỏ chế độ chấm công điểm cào bằng; giao ruộng cho hộ xã viên tự đảm nhiệm các khâu gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch; người lao động nộp đủ sản phẩm nghĩa vụ theo định mức khoán và được toàn quyền hưởng phần sản phẩm vượt khoán.
- Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6/1985): Đánh dấu bước đột phá thứ hai trong tư duy kinh tế của Đảng với chủ trương dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thừa nhận sản xuất hàng hóa và các quy luật của sản xuất hàng hóa.
Chương 2: Hoạt động kinh tế nông nghiệp Việt Nam
Chương 2 phân tích diễn biến cụ thể của nền nông nghiệp Việt Nam qua hai chặng đường 1976 – 1980 và 1981 – 1985, đồng thời đưa ra những nhận xét tổng kết có tính lịch sử:
1. Nông nghiệp Việt Nam từ năm 1976 đến năm 1980 – Mô hình hóa kinh tế tập trung:
- Quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa được tiến hành ồ ạt tại các tỉnh phía Nam. Tính đến tháng 7/1980, toàn miền Nam xây dựng được 1.350 tập đoàn sản xuất, thu hút 35,6% số hộ nông dân.
- Tuy nhiên, việc áp dụng máy móc mô hình hợp tác xã quy mô lớn từ miền Bắc vào miền Nam, coi nhẹ lợi ích cá nhân, điều hành bằng mệnh lệnh hành chính đã gây phản ứng tiêu cực. Đến cuối năm 1980, hàng loạt hợp tác xã và tập đoàn sản xuất ở miền Nam tan rã, chỉ còn lại 3.732 tập đoàn sản xuất và 173 hợp tác xã quy mô vừa. Năng suất lao động giảm sút nghiêm trọng, tình trạng "cả làng ra đồng theo kẻng, thu quân theo kẻng", ngày công chỉ có giá trị bằng vài lạng thóc. Năm 1980, sản lượng lương thực cả nước chỉ đạt 14,4 triệu tấn.
2. Nông nghiệp Việt Nam từ năm 1981 đến năm 1985:
- Tác động của Chỉ thị 100-CT/TW: Cơ chế khoán mới đã tạo động lực giải phóng sức lao động. Nông dân tích cực đầu tư thêm công sức, phân bón để thâm canh tăng năng suất. Ngay vụ đông xuân năm 1981 ở miền Bắc, sản lượng lương thực tăng bình quân 15% (nhiều nơi tăng 25 – 40%), ngày công và giờ lao động tăng 25 – 30%.
- Tăng trưởng sản lượng và năng suất: Sản lượng lương thực quy thóc tăng liên tục qua các năm: năm 1981 đạt 15,0 triệu tấn; năm 1982 đạt 16,8 triệu tấn; năm 1983 đạt 17,0 triệu tấn; năm 1984 đạt 17,8 triệu tấn; năm 1985 đạt 18,2 triệu tấn (bình quân giai đoạn 1981 – 1985 đạt 17,0 triệu tấn/năm, so với mức 13,4 triệu tấn/năm của giai đoạn 1976 – 1980). Năng suất lúa tăng từ mức 20 tạ/ha lên xấp xỉ 28 tạ/ha vào năm 1985. Nhà nước nâng giá thu mua từ năm 1981 lên 2,5 đồng/kg (gấp 5 lần giá nghĩa vụ năm 1979), giúp sản lượng lương thực huy động cho Nhà nước đạt mức gần 4 triệu tấn vào năm 1985.
- Phân cấp quản lý cấp huyện và đổi mới cơ sở: Thực hiện các chỉ thị của Ban Bí thư (Chỉ thị 19, 29, 35, 50, 56, 65, 67), các huyện được trao quyền chủ động hạch toán kinh tế, liên kết nông – công nghiệp. Điển hình như Hợp tác xã Châu Giang (Hà Nam Ninh) chuyển dịch đất chiêm trũng sang trồng hơn 100 ha đay, đạt sản lượng 300 tấn đay tơ xuất khẩu; huyện Bố Trạch (Quảng Bình) gắn sản xuất với thủy lợi và giao đất trồng rừng.
- Hạn chế phát sinh và tiền đề ra đời Nghị quyết 10: Sau giai đoạn tăng trưởng ban đầu, cơ chế Khoán 100 bộc lộ khiếm khuyết do người nông dân chỉ làm chủ 3 khâu (5 khâu làm đất, thủy lợi, giống, phân bón, bảo vệ thực vật do hợp tác xã quản lý gây lãng phí, phát sinh hiện tượng "dong công phóng điểm"). Hợp tác xã tùy tiện nâng mức khoán, thu hồi đất thâm canh khiến nông dân giảm động lực sản xuất. Sản lượng lương thực năm 1987 sụt giảm còn 17,5 triệu tấn, dẫn đến nạn đói giáp hạt đầu năm 1988 tại 21 tỉnh miền Bắc làm 9,3 triệu người thiếu ăn. Tình hình đó thúc đẩy Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW (ngày 5/4/1988 – Khoán 10), giao quyền sử dụng đất ổn định 15 năm cho hộ nông dân, mở đường cho Việt Nam xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo vào năm 1989.
3. Nhận xét về nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1976 – 1985:
- Quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp thời kỳ này thực chất là quá trình chuyển hóa sâu sắc từ mô hình kinh tế tập thể thuần túy sang việc khôi phục và thừa nhận kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ.
- Những bước tháo gỡ chính sách phản ánh sự cọ xát quyết liệt giữa tư duy duy ý chí, bảo thủ với đòi hỏi khách quan của thực tiễn đời sống. Việc thừa nhận sản xuất hàng hóa và giao quyền tự chủ cho hộ nông dân là bài học lịch sử có ý nghĩa nền tảng cho sự nghiệp đổi mới kinh tế Việt Nam.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phân tích hệ thống dữ liệu kinh tế nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 1976 – 1985 qua các chỉ số cụ thể:
| Chỉ tiêu thống kê |
Giai đoạn 1976 – 1980 |
Giai đoạn 1981 – 1985 |
| Sản lượng lương thực quy thóc bình quân |
13,4 triệu tấn/năm |
17,0 triệu tấn/năm |
| Sản lượng lương thực năm cuối kỳ |
14,4 triệu tấn (năm 1980) |
18,2 triệu tấn (năm 1985) |
| Năng suất lúa |
~20 tạ/ha |
~28 tạ/ha (năm 1985) |
| Mức lương thực huy động cho Nhà nước |
~2 triệu tấn (năm 1980) |
Gần 4 triệu tấn (năm 1985) |
| Tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội bình quân |
1,4%/năm |
4,6%/năm (tính chung 1976–1985) |
| Tăng trưởng thu nhập quốc dân bình quân |
0,4%/năm |
3,7%/năm (tính chung 1976–1985) |
| Tỷ lệ tăng dân số bình quân |
2,24%/năm |
2,3%/năm (tính chung 1976–1985) |
| Tình hình hợp tác hóa nông nghiệp |
Cưỡng ép mở rộng quy mô; cuối 1980 miền Nam tan rã hàng loạt |
Điều chỉnh quy mô nhỏ hơn; áp dụng Khoán 100 tới hộ xã viên |
Giải pháp và bài học kinh nghiệm được rút ra:
- Tôn trọng quy luật kinh tế khách quan: Xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, thừa nhận sự tồn tại của sản xuất hàng hóa và thị trường.
- Gắn lợi ích kinh tế với người lao động: Động lực sản xuất chỉ thực sự được khơi dậy khi người nông dân được làm chủ tư liệu sản xuất, quyền sử dụng đất lâu dài và hưởng thụ thành quả lao động của mình.
- Đổi mới cơ chế quản lý và phân cấp: Đẩy mạnh phân cấp cho cấp huyện và hợp tác xã cơ sở, chuyển từ quản lý hành chính mệnh lệnh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Đóng góp của khóa luận:
- Về mặt khoa học: Hệ thống hóa một cách toàn diện, có hệ thống quá trình phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1976 – 1985 dưới góc nhìn sử học; làm rõ bước chuyển biến trong tư duy kinh tế của Đảng từ Hội nghị Trung ương 6 khóa IV đến Hội nghị Trung ương 8 khóa V và Chỉ thị 100-CT/TW.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp cứ liệu lịch sử xác thực phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử kinh tế Việt Nam và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; đóng góp các bài học kinh nghiệm hữu ích cho việc hoạch định chính sách nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Tác giả khóa luận là sinh viên năm cuối, nguồn tư liệu tiếp cận tại các địa phương còn hạn chế. Các khảo sát thực tế mới chỉ dừng lại ở việc trích dẫn một số trường hợp điển hình (như hợp tác xã Châu Giang, huyện Bố Trạch) mà chưa thể bao quát sâu sắc toàn bộ đặc thù sinh thái nông nghiệp của các tiểu vùng trên cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về thực trạng chuyển biến kinh tế nông nghiệp giữa đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long sau Chỉ thị 100; phân tích chi tiết tiến trình thực thi Nghị quyết 10 (1988) và các điều chỉnh pháp luật về đất đai trong Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Huế là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với:
- Giảng viên và sinh viên: Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Kinh tế học, Quản lý kinh tế và Nông nghiệp học tại các trường đại học, cao đẳng.
- Nhà nghiên cứu và cán bộ hoạch định chính sách: Các cán bộ nghiên cứu tại các viện, trung tâm nghiên cứu kinh tế – xã hội quan tâm đến lịch sử chính sách kinh tế nông nghiệp thời kỳ tiền Đổi mới.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao: Hệ thống bảng số liệu thống kê sản lượng, năng suất lương thực giai đoạn 1976 – 1985; quá trình vận dụng các chỉ thị về xây dựng kinh tế cấp huyện; và phân tích nguyên nhân thành công cũng như giới hạn của Chỉ thị 100-CT/TW.
Câu hỏi thường gặp
1. Chỉ thị 100-CT/TW (tháng 1/1981) có nội dung cơ bản gì và đã giải quyết vấn đề gì trong sản xuất nông nghiệp?
Chỉ thị 100-CT/TW cho phép áp dụng chế độ khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. Nội dung cơ bản là xóa bỏ lối cộng điểm, ăn chia bình quân; giao ruộng cho hộ gia đình tự thực hiện 3 khâu (gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch); người nông dân nộp nghĩa vụ cho Nhà nước và hợp tác xã theo định mức, phần vượt khoán được hưởng trọn. Cơ chế này đã chặn đứng đà suy giảm lương thực giai đoạn 1976 – 1980, đưa sản lượng lương thực tăng liên tục từ 15,0 triệu tấn (1981) lên 18,2 triệu tấn (1985).
2. Tại sao mô hình hợp tác xã quy mô lớn ở miền Bắc và việc hợp tác hóa ồ ạt ở miền Nam giai đoạn 1976 – 1980 lại dẫn đến khủng hoảng?
Do tư tưởng nóng vội, duy ý chí muốn đưa toàn bộ nền kinh tế vào sở hữu tập thể và quốc doanh bằng mệnh lệnh hành chính. Ở miền Bắc, quy mô hợp tác xã quá lớn vượt khả năng quản lý của cán bộ, lối tính công bình quân ("dong công phóng điểm") triệt tiêu động lực lao động. Ở miền Nam, việc ép buộc nông dân vào tập đoàn sản xuất mà chưa chuẩn bị điều kiện quản lý đã khiến nông dân không hưởng ứng; cuối năm 1980 hàng loạt hợp tác xã và tập đoàn sản xuất tan rã.
3. Đâu là những hạn chế nội tại của Khoán 100 khiến sản lượng lương thực chững lại vào năm 1986 – 1987?
Khoán 100 chưa giao quyền làm chủ đất đai lâu dài cho nông dân; người nông dân mới chỉ đảm nhận 3 khâu, còn 5 khâu khác vẫn do ban quản trị hợp tác xã điều hành nên vẫn tồn tại lãng phí và tiêu cực. Khi nông dân tăng sản lượng, hợp tác xã lại tăng mức khoán và điều chỉnh ruộng đất khiến nông dân không yên tâm đầu tư, dẫn đến tình trạng trả ruộng khoán và gây ra nạn đói giáp hạt đầu năm 1988.
4. Những quyết sách nào của Đảng trong giai đoạn 1976 – 1985 đánh dấu bước đột phá về tư duy kinh tế nông nghiệp?
Bao gồm: (1) Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (8/1979) với chủ trương cởi trói sản xuất, ổn định nghĩa vụ bán lương thực 5 năm và bỏ phân phối định lượng; (2) Chỉ thị 100-CT/TW (1/1981) về khoán sản phẩm đến người lao động; và (3) Hội nghị Trung ương 8 khóa V (6/1985) dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thừa nhận quy luật sản xuất hàng hóa.
5. Kinh tế nông nghiệp giữa hai miền Nam – Bắc trước năm 1975 có sự phân hóa như thế nào?
Miền Bắc tập trung phát triển kinh tế tập thể và quốc doanh (đến năm 1975 có 97% hộ vào hợp tác xã và 365 nông lâm trường). Miền Nam phát triển kinh tế trang trại, đồn điền hàng hóa gắn với thị trường tư bản chủ nghĩa (năm 1962 có 755 đồn điền và năm 1963 có 198 đinh điền do tư sản và chính quyền Sài Gòn thành lập).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Huế đã tái hiện có hệ thống bức tranh kinh tế nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đầy biến động 1976 – 1985. Công trình phân tích sâu sắc nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng nông nghiệp thời kỳ 1976 – 1980 dưới cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đồng thời làm rõ giá trị thực tiễn của các bước đột phá chính sách như Chỉ thị 100-CT/TW và Hội nghị Trung ương 8 khóa V. Những kết quả nghiên cứu trong khóa luận khẳng định tính tất yếu của việc chuyển đổi từ mô hình hợp tác xã tập trung sang mô hình kinh tế hộ gia đình tự chủ, tạo tiền đề vững chắc cho sự ra đời của Nghị quyết 10 và đường lối Đổi mới toàn diện của đất nước.