CHƯƠNG 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1976 - 1985 1. Kinh tế nông nghiệp Việt Nam trước năm 1976 1. Nông nghiệp Việt Nam thời kì phong kiến độc lập Dân tộc Việt Nam thời kì này là một đoàn thể nông dân, mà nông nghiệp là hoạt động chính, nghề nông chỉ đứng sau nghề sĩ mà ở trên cả công nhân và thương nhân. Nho giáo với nguyên tắc “nông gia thiên hạ chi đại bản” ưu thế của sinh hoạt nông nghiệp được phản ánh trong mọi việc từ lễ nghi của triều đình và tổ chức quốc gia cho đến ngôn ngữ hàng ngày và các tập tục trong dân gian, thuế má được trả bằng thóc lúa, cho nên lúa là tài nguyên cốt yếu của quốc gia.
Những điều mà pháp luật quy định phần nhiều thuộc về nông nghiệp với mục đích chấn hưng và khuếch trương nông nghiệp là nghiệp gốc của dân. Vì nông nghiệp là vấn đề sinh tồn của dân tộc, nên trải qua các triều vua, chính sách kinh tế chỉ chú trọng vào nông nghiệp, với những việc như khẩn hoang, quân điền, hộ đê. vào dịp đầu năm nhà vua thường đi chiếu khuyến nông, nhắc nhở các phủ, huyện, tổng, lý phải khuyên bảo nhân dân chăm giữ bán nghiệp. Cụ thể dưới triều Nguyễn nhà nước sẽ quy định những chế độ cho ruộng đất trên nguyên tắc điền thổ trong nước, kể từ thời Đinh Lê, ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối thượng của nhà vua và nhân dân chỉ lĩnh canh ruộng đất ấy rồi nộp thuế địa cho nhà vua, song thường nhà vua sẽ chỉ định cho các địa phương xã thôn hay một vài đoàn thể được quyền hưởng dụng ruộng đất dưới hình thức các công điền thổ, khi nào nhân dân xin phép dựng làng, nhà nước cấp môt khoản thổ địa cho xã thôn được hưởng lợi.
Tuy nhiên trên thực tế những ruộng đất do tư nhân cày cấy lâu ngày và nộp thuế được coi như là của riêng và có thể được cầm cố hay mua bán, với tư cách là tư sản. Vào năm 1836, việc đạc điền ở Việt Nam được hoàn tất toàn cõi lãnh thổ có 4.892 mẫu ruộng phải trả thuế[16, tr 37] riêng Lục tỉnh Nam Kì điền thổ các khoản hơn 630.075 mẫu tất cả ruộng đất trên đều thuộc quyền tư hữu và ruộng đất công do nhà nước để các thôn xã quản lý. Trong phạm vi một làng xã đất đai được chia làm hai loại là công điền (ruộng làng) và công thổ (đất thổ trạch tức là đất chiếm cứ bởi nhà cửa, các loại đất dùng để trồng cây khác cây lúa). Ruộng đất này do nhà nước giao cho các thôn, xã sử dụng, là của công xã thôn không được phép bán đi, trừ khi gặp buổi cơ cận trong hạn 3 năm, hết hạn lại phải lấy lại.
Bộ phận ruộng đất công này có một lịch sử lâu dài [16, tr 25] các xã thôn phải nộp thuế cho nhà nước để đổi lấy quyền sử dụng. Phần lớn công điền là, công thổ thuộc vào hạng khẩu phân điền, theo định kì ba 8 c năm một lần chiếu sổ đinh trong làng mà phân cấp cho dân , sự phân cấp này do các hương chức chiếu theo sổ định của làng chiếu theo thứ tự ngôi thứ. Những theo lệ định của vua Gia Long năm 1804, phân chia cho mỗi người ít nhiều lại tính theo phẩm tước đối với quan viên và thứ bậc xã hội đối với các tầng lớp xã hội khác. Trên nguyên tắc sự phân cấp có mục đích chia đều các bực ruộng xấu tốt cho dân xã, nhưng vì sự phân chia theo thứ tự ngôi thứ, những người đứng đầu trong sổ làng được chọn trước trong phần đất của mình và được hưởng phần tốt nhất, những thửa ruộng phì nhiêu và dễ cày cấy nhất.
Bên cạnh những hạng khẩu điền trên, các làng giàu có còn có “trợ sưu điền” để giúp tráng đinh nghèo khó một phần sưu, “học điền” để lấy hoa lợi nuôi thầy học, cô nhi điền, quả phụ điền để trợ giúp cho những mô côi, góa phụ trong làng. Điểm đáng chú ý trong hoạt động nông nghiệp thời kì này là việc người dân tích cực mở rộng diện tích đất canh tác. Việc mở rộng đất canh tác do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là do chủ trương để cho làng xã tổ chức việc khai hoang “Năm 1837, vua Minh Mạng cho dân nghèo tỉnh Biên Hòa vay trâu bò, thóc giống nông cụ để khai hoang những vùng không thuộc phạm vi thôn nào” [16, tr 45] bởi đối với nông dân nghèo không thể đơn độc tổ chức lấy việc khai hoang, thì nhà nước sẽ có chính sách cho vay tiền hay cấp không tiền vốn nữa nhưng hình thức này ít được sử dụng hay cũng chỉ trong một phạm vi nhỏ hẹp. Tuy nhiên cách làm này không đạt được hiệu quả và diễn ra chậm chạp.
Bước sang thế kỉ XIX, vua Tự Đức định lệ “mộ người tình nguyện làm dinh điền, cứ 50 người dân lập thành một đội, 500 người lập thành một cơ” [16, tr 56]. Còn thuế ruộng đất hiện khẩn và thuế đinh, đều cho khoán hạn, để khuyến khích người dân khai hoang mở rộng diện tích. Nhưng số diện tích được mở rộng thật không đáng kể, tốc độ khai hoang vẫn chậm chạp, diện tích ruộng đất ghi trong địa bạ toàn quốc năm 1836 là 4.013 mẫu nghĩa là gia tăng được 214.119 mẫu trong vòng 10 năm [1, tr 25]. Tóm lại, có thể thấy dưới các triều đại phong kiến độc lập nông nghiệp luôn được chú trọng, điều đó được thể hiện rõ nét ở các hoạt động thường xuyên cải tạo đê điều và nhà nước tích cực khuyến khích nhân dân mở rộng diện tích sản suất bằng hoạt động khai hoang.
Nét đặc sắc trong hoạt động nông nghiệp luôn được thể hiện trong rất nhiều nét văn hóa thuộc về bản sắc dân tộc. Nông nghiệp Việt Nam thời kì Pháp thuộc (1858 – 1945) 9 c Kinh tế đồn điền của các địa chủ - tư sản Pháp ở Việt Nam là loại hình kinh tế mới được hình thành trong thời kì đó. Với đặc trưng chủ yếu là kinh doanh kiểu tư bản chủ nghĩa, phương thức sử dụng lao động theo kiểu nông nô, quản lý và sống tập trung gần giống với trại lính vẫn duy trì. Theo số liệu thống kê của Pháp “tính đến ngày 31 tháng 12 năm 1943, người Pháp đã chiếm trên 1 triệu ha đất trồng và tổ chức thành 3.928 đồn điền trong đó một số là đồn điền liên doanh, một số là đồn điền của công ty tư bản” [1, tr 22] Về nông nghiệp thời kì này Pháp rất chú trọng vào khai thác các đồn điền cao su.
Kinh tế cục Đông Dương được thiết lập (1917) tại Pari, bên cạnh đó nhờ sắc luật 4 -11 -1928 “bãi bỏ mọi hạn chế đối với lô đất công mà chính phủ muốn đặc nhượng cho tư nhân”[27] theo đó đến năm 1930 nhiều đồn điền được thiết lập, các đồn điền này sản suất những loại nông phẩm như cây café, cao su… sẽ phục vụ xuất cảng. Đặc biệt một số sản phẩm dành cho thị trường nội địa như lúa, gạo, ngô, khoai, sắn ở Nam kì năng suất đã tăng rõ rệt, nhưng xét trên bình diện cả nước, nông nghiệp truyền thống có khuynh hướng đình trệ. Tại Nam Kì, trên một “tổng diện tích canh tác là 2.000 ha, các ruộng lúa thuộc công ty hay tư nhân pháp rộng 100. Nhưng năm 1930 mới chỉ có 35.500 ha sinh lời và sản suất 10.000 tấn cao su”[27].
Cơ cấu điền thổ là một trong những nguyên nhân ngăn chặn sự phát triển kinh tế của các vùng nông thôn, người nông dân không thể nâng cao năng suất bởi vì diện tích quá chật hẹp của các đơn vị canh tác manh mún. Áp lực nhân khẩu cũng như tình trạng mắc nợ của nông dân “nông dân phải vay nặng lãi để sống những năm mất mùa, để trả thuế để giải quyết những bó buộc xã hội như cưới gả, tế lễ…” khiến cho ruộng đất ngày càng bị chia vụn, “đến năm 1930 hai phần ba ruộng đất ở Bắc Kì có một diện tích không quá 0,30 ha” [2,tr 182]. Việc đất đai tập trung trong tay một số người có tiền cho vay không phải một điều lợi về mặt kinh tế, bởi vì những người này chỉ là những lý tài – những người có tiền, họ mua lại ruộng đất để tích lũy làm tài sản, tuy nhiên họ không tham gia vào vấn đề sản xuất nông nghiệp. Từ đó số hộ nông dân vô sản – những người không có ruộng đất làm tư liệu sản xuất tăng lên gấp bội và phải sinh sống bằng nghề cày thuê.
Ở Nam Kì, diễn ra thực trạng đất cày rộng lớn nhưng lại tập trung trong tay một thiểu số địa chủ còn đại đa số nông dân là những người phân canh hay tá điền. Các đại địa chủ được chính quyền thuộc địa chia cho những diện tích đất rộng lớn, tuy nhiên thay vì canh tác những đơn vị này với những phương pháp khoa học tiến tiến, họ lại phân chia chúng thành những phần nhỏ giao cho tá điền. Chế độ kinh tế 10 c này không cho phép cải thiện các kỹ thuật canh tác và nâng cao số lượng sản suất. Tình trạng khốn khổ của nông dân thành vòng luẩn quẩn bơi họ có sức lao động có nhu cầu sản xuất nhưng lại không đủ khả năng và tài nguyên để cố gắng tăng gia sản suất, cải thiện chính đời sống của họ.
Như vậy dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam rơi vào tình trạng về cơ sở vật chất hết sức nghèo nàn, lạc hậu về kỹ thuật và hoàn toàn dựa vào lao động thủ công và phụ thuộc vào thiên nhiên. Năng suất các loại cây trồng đều rất thấp. “Năng suất lúa bình quân 1 ha thời kỳ 1930 - 1944 là 12 tạ, trong khi đó Thái Lan là 18 tạ, Nhật Bản là 34 tạ”. Nông nghiệp Việt Nam thời kì chống Pháp (1945 – 1954) Bước sang thời kì khánh chiến chống Pháp (1945 – 1954) hoạt động nông nghiệp gắn liền với những chuyển biến của cuộc kháng chiến toàn dân.
Giai cấp địa chủ phong kiến và thực dân Pháp thời kì này tập trung phần lớn trong tay ruộng đất. “Nhân dân lao động chiếm 97% số hộ nhưng chỉ sử dụng 36% ruộng đất, trong nông thôn có tới 59,2% số hộ không có ruộng đất phải sống bằng cày thuê, cuốc mướn” [1, 34]. Dưới thời thực dân Pháp chiếm đóng, một thực trạng nghịch lý diễn ra trong khi hàng năm Việt Nam xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo trắng, nhưng nông dân Việt Nam, người làm ra lúa gạo, lại luôn luôn phải chịu cảnh đói nghèo.