Tổng quan luận án

Đề tài "Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945" do tác giả Trần Thị Phượng thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Duy Bính, bảo vệ năm 2022 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9.13).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Việt Nam có xuất phát điểm là một nền nông nghiệp truyền thống lâu đời. Trước khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nông nghiệp luôn giữ vai trò là ngành kinh tế chủ đạo. Tuy nhiên, tiến trình phát triển nông nghiệp ở từng vùng miền có những đặc thù riêng biệt do sự quy định của điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và phương thức tổ chức xã hội bản địa.

Tại khu vực miền núi Tây Bắc, cụ thể là tỉnh Sơn La - địa bàn tụ cư lâu đời của nhiều dân tộc thiểu số mà đa số là người Thái, kinh tế nông nghiệp chịu sự chi phối trực tiếp của thiết chế xã hội truyền thống (chế độ phìa tạo) cùng chính sách cai trị có tính phân biệt của triều đình phong kiến nhà Nguyễn và chính quyền thực dân Pháp. Mặc dù sản xuất nông nghiệp là nguồn sinh kế cốt lõi của cư dân nơi đây, các công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu về kinh tế nông nghiệp Sơn La thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 trước đây còn rất mờ nhạt, tản mạn hoặc chỉ lồng ghép trong các nghiên cứu dân tộc học, địa chí chung. Việc thực hiện đề tài nhằm phục dựng bức tranh toàn cảnh, có hệ thống về kinh tế nông nghiệp địa phương qua hai giai đoạn lịch sử (từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1895 và từ năm 1895 đến năm 1945), góp phần lấp khoảng trống tư liệu, lý giải nguyên nhân của sự phát triển kinh tế chậm chạp ở vùng cao và cung cấp cơ sở lịch sử cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Phục dựng lại thực trạng và tiến trình phát triển của kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La trong giai đoạn lịch sử từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945.
  2. Rút ra các đặc điểm cơ bản của kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La, đồng thời đặt trong mối tương quan so sánh với khu vực Tây Bắc nói chung và một số địa phương miền núi phía Bắc như Hòa Bình, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Làm rõ các yếu tố tự nhiên, hành chính, dân cư, thiết chế xã hội và chính sách quản lý của nhà Nguyễn cũng như thực dân Pháp tác động đến nền nông nghiệp địa phương.
  2. Tái hiện thực trạng tình hình ruộng đất, hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và lưu thông nông sản của Sơn La qua hai thời kỳ: từ đầu thế kỉ XIX đến khi thành lập tỉnh (1895) và từ năm 1895 đến năm 1945.
  3. Phân tích các biến đổi kinh tế - xã hội giữa hai giai đoạn, chỉ ra các đặc trưng nông nghiệp vùng cao và bài học kinh nghiệm trong quản lý đất đai, sản xuất nông nghiệp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945, bao gồm: chế độ sở hữu và quản lý ruộng đất, ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và hoạt động trao đổi, tiêu thụ, xuất khẩu nông - lâm sản.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Sơn La theo các mốc điều chỉnh hành chính lịch sử. Đầu thế kỉ XIX thời Gia Long, Sơn La thuộc trấn Hưng Hóa (gồm các châu: Thuận, Sơn La, Mộc, Phù Hoa, Mai Sơn, Việt); thời Minh Mệnh thuộc phủ Gia Hưng (gồm 6 châu: Phù Yên, Mộc, Thuận, Mai Sơn, Sơn La, Yên). Sau Nghị định ngày 28/6/1909 của Toàn quyền Đông Dương (tách các châu Điện Biên, Lai, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Luân để lập tỉnh Lai Châu và chuyển tổng Nghĩa Lộ về Yên Bái), địa giới Sơn La ổn định gồm 6 châu: Sơn La (Mường La), Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Phù Yên (bao gồm cả Bắc Yên) cho đến năm 1945.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1805 (thời điểm triều Nguyễn tiến hành đợt lập địa bạ đầu tiên trên đất Bắc Hà dưới triều vua Gia Long) đến tháng 8 năm 1945 (thời điểm Cách mạng Tháng Tám thành công).
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào kinh tế nông nghiệp truyền thống theo nghĩa hẹp (trồng trọt và chăn nuôi) cùng thương mại nông sản. Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ và đánh bắt cá trong ruộng, ao mang tính chất tự cấp tự túc hộ gia đình, tài liệu thành văn lưu trữ không đủ dữ liệu định lượng nên không được phân tích thành ngành kinh tế độc lập.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận toàn diện các cụm công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

                                  TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nông nghiệp Việt Nam (Đầu XIX - 1945)                         Kinh tế - Tộc người Tây Bắc & Sơn La
    Nguyễn Văn Khánh, Hồ Tuấn Dung, Dương Kinh Quốc

Các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

  1. Nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp thời trung đại:

    • Phan Huy Lê (1959) trong Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ (thế kỷ XV) đặt nền móng phương pháp luận nghiên cứu ruộng đất phong kiến.
    • Nguyễn Kiến Giang trong Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng Tháng Tám phân tích thiết chế thổ ty, lang đạo, phìa tạo và khẳng định ruộng đất công miền núi thực chất bị giai cấp thống trị chiếm hữu và chi phối phân phối.
    • Vũ Huy Phúc (1979) với Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX hệ thống hóa chính sách ruộng đất, biểu ngạch tô thuế thời Gia Long, Minh Mệnh, Tự Đức.
    • Trương Hữu Quýnh và Đỗ Bang (chủ biên) trong Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn (1997) khảo sát địa bạ triều Nguyễn, xác nhận niên đại Gia Long 4 (1805) chiếm 83% tổng số địa bạ Bắc Kỳ, giúp lý giải niên đại lập địa bạ tập trung tại Sơn La.
    • Các luận án tiến sĩ/phó tiến sĩ nghiên cứu địa bạ và nông nghiệp địa phương: Bùi Quý Lộ (1987), Đào Tố Uyên, Bùi Việt Hùng (1999), Trịnh Thị Thủy (2002), Thái Quang Trung (2009), Đàm Thị Uyên (2000), Lê Hiến Chương (2013), Nguyễn Thành Lương (2016).
  2. Nghiên cứu về nông nghiệp thời Pháp thuộc:

    • Tác giả Pháp: Albert Boudillon (1915, 1927) khảo sát quy chế đất nhượng; E. Rény (1931) viết về địa bạ Đông Dương; Pierre Aquarone (1936) phân tích an ninh bất động sản; Pierre Gourou (1940) trong L’utilisation du sol en Indochine khảo sát hiện trạng sử dụng đất; Henri Yves (1932) trong Économie Agricole de l’Indochine đưa ra các chỉ số cụ thể về diện tích, dân số và 8.000 ha ruộng lúa của Sơn La; Charles Robequin (1939), Andre Hibon (1934), Andre Touzet (1934) phân tích tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933.
    • Tác giả trong nước: Tạ Thị Thúy (1996, 2001) làm rõ việc lập đồn điền và cấp nhượng đất ở Bắc Kỳ (Sơn La có đồn điền 9.000 ha của Morand và Gros, việc mở rộng quy chế tiểu đồn điền theo Nghị định năm 1925 và 1939); Nguyễn Văn Khánh (2004, 2013) nghiên cứu cơ cấu kinh tế - xã hội thời thuộc địa và ruộng đất nông thôn; Hồ Tuấn Dung nghiên cứu chế độ thuế Bắc Kỳ; Dương Kinh Quốc (1988) làm rõ tổ chức Đạo quan binh 4 Sơn La (1891).
  3. Nghiên cứu về kinh tế - tộc người ở Tây Bắc và Sơn La:

    • Tác giả Pháp: Edouar Petit (1887), Philippe Henri d’Orléans (1894), Auguste Pavie (1908), Maurice Abadie (1924), Léon Dussault (1924), Kunitz F. (1888-1889), Alfred Léon Bouchet ghi chép về địa lý, mạng lưới giao thông sông Đà, tập quán canh tác của các tộc người Thái, Mèo, Xá.
    • Tác giả trong nước: Đặng Nghiêm Vạn và Đinh Xuân Lâm trong Điện Biên trong lịch sử; nhóm tác giả Sơn La 110 năm (1895 - 2005); Phạm Văn Lực (2014); Tống Thanh Bình với luận án Kinh tế, xã hội tỉnh Sơn La từ năm 1895 đến năm 1945 (2017) và các bài báo chuyên đề về cây lương thực, đầu tư thuộc địa; Nguyễn Thị Thu Thủy (2018) phân tích 28 bản địa bạ Hán Nôm và chỉ ra đặc trưng 100% ruộng đất Sơn La thời Gia Long 4 là ruộng tư, ruộng hạng ba, tỷ lệ bỏ hoang gần 40%; Cầm Trọng, Bùi Tịnh, Nguyễn Hữu Ưng (Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam); Khổng Diễn (1996) (Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây hoặc nghiên cứu trên diện rộng toàn quốc/Bắc Kỳ, hoặc nghiên cứu Sơn La dưới góc độ dân tộc học, văn hóa, phong trào đấu tranh chống Pháp, hoặc khảo sát địa bạ ở một thời điểm đơn lẻ. Chưa có công trình nào phục dựng một cách hệ thống, liên tục bức tranh kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La xuyên suốt từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945, kết hợp giữa tư liệu lưu trữ Hán Nôm (địa bạ), tư liệu tiếng Pháp (phông RST, AFC), luật tục Thái (Quam tô mương) và kết quả điền dã thực địa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mối liên hệ giữa điều kiện tự nhiên, cơ cấu xã hội truyền thống với phương thức canh tác nông nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, cụ thể quá trình vận động của kinh tế nông nghiệp Sơn La theo trình tự thời gian qua hai giai đoạn 1805 - 1895 và 1895 - 1945.
  • Phương pháp lôgic: Khái quát bản chất, quy luật vận động, các mối liên hệ nội tại giữa chính sách nhà nước/thuộc địa, chế độ sở hữu ruộng đất và phương thức bóc lột của giai cấp quý tộc bản địa.
  • Phương pháp thống kê, xử lý tư liệu: Thu thập, phân loại, lập bảng biểu định lượng từ các nguồn tài liệu địa bạ và thống kê tiếng Pháp.
  • Phương pháp so sánh lịch sử: So sánh giữa hai giai đoạn phát triển của Sơn La; so sánh đối sánh giữa Sơn La với các địa phương khác như Lai Châu, Hòa Bình, Cao Bằng, Hà Giang.
  • Phương pháp liên ngành: Ứng dụng tri thức dân tộc học, địa lý học lịch sử; kết hợp khảo sát điền dã thực địa, phỏng vấn nhân chứng lịch sử, người cao tuổi và các nhà nghiên cứu Thái học tại địa phương.

Nguồn tư liệu sử dụng

  1. Nguồn tư liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hà Nội):
    • Tư liệu Hán Nôm: 34 bản địa bạ của 34 động, xã thuộc tỉnh Sơn La (19 bản thời Gia Long 4 - 1805; 11 bản thời Minh Mệnh 21 - 1840; các năm Thiệu Trị 1, Thiệu Trị 3, Thiệu Trị 4 và Tự Đức 1 mỗi năm có 1 bản).
    • Tư liệu tiếng Pháp: Các báo cáo kinh tế (1902 - 1941), báo cáo tổng kết hàng năm của công sứ Pháp, biên bản hội đồng tỉnh, hồ sơ nhượng đất thuộc phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (RST) và phông Nha Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thương mại Đông Dương (AFC).
  2. Nguồn tư liệu địa phương và điền dã:
    • Các tập quán pháp, luật tục dân tộc: Luật tục Thái ở Việt Nam (Cầm Trọng, Ngô Đức Thịnh sưu tầm, dịch thuật), tục lệ Thái Đen ở Thuận Châu, Mai Sơn.
    • Sách cổ và gia phả bản mường: Quam tô mương (Chuyện kể bản mường) tại Mai Sơn, Thuận Châu, Mộc Châu, Phù Yên; lai lịch dòng họ chúa đất họ Bạc Cầm (Mường Muổi), họ Lò Cầm (Mai Sơn).
    • Tư liệu điều tra điền dã, phỏng vấn nghệ nhân, người cao tuổi thuộc các dân tộc Thái, H'mông, Khơ mú.
  3. Nguồn tài liệu tham khảo: Các bộ chính sử thời Nguyễn (Đại Nam nhất thống chí, Hưng Hóa xứ phong thổ lục), các tạp chí chuyên ngành (Nghiên cứu Lịch sử, Dân tộc học, Nghiên cứu Kinh tế, Nghiên cứu Hán Nôm).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm luận chi tiết ba nhóm công trình: nghiên cứu kinh tế nông nghiệp Việt Nam thời trung đại, thời Pháp thuộc và các nghiên cứu về tộc người, kinh tế vùng Tây Bắc - Sơn La. Tác giả chỉ rõ những thành tựu của các học giả đi trước về phương pháp tiếp cận địa bạ, khung chính sách thuế khóa, các loại hình đồn điền và tập quán tộc người. Đồng thời, chương 1 xác định rõ các nhiệm vụ còn bỏ ngỏ mà luận án tập trung giải quyết: đánh giá tính chất ruộng đất qua địa bạ thời Nguyễn đối chiếu với luật tục Thái, phân tích sự biến đổi của trồng trọt và chăn nuôi từ năm 1895 đến 1945 dưới tác động của nền cai trị thực dân.

Chương 2: Khái quát về tỉnh Sơn La trước năm 1945

Chương 2 làm sáng tỏ các yếu tố nền tảng về hành chính, tự nhiên, dân cư và xã hội tác động đến kinh tế nông nghiệp:

  • Biến đổi hành chính: Thời Nguyễn thuộc trấn Hưng Hóa (đầu thời Gia Long), sau đổi thành phủ Gia Hưng (từ thời Minh Mệnh). Thời Pháp thuộc, thành lập Đạo quan binh 4 (năm 1891), lập tỉnh Sơn La theo Nghị định ngày 10/10/1895 gồm 12 châu; đến ngày 28/6/1909 điều chỉnh lại còn 6 châu (Mường La, Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Phù Yên). Đến năm 1932, Sơn La có 6 châu, 29 mường, 1.180 bản và trung tâm hành chính Vạn Yên.
  • Điều kiện tự nhiên: Diện tích tự nhiên khoảng 12.000 km2. Địa hình chia cắt mạnh thành ba vùng: núi đá vôi, thung lũng ven sông suối và cao nguyên bằng phẳng (cao nguyên Mộc Châu, cao nguyên Nà Sản). Hơn 87% diện tích có độ dốc trên 25°, khiến ruộng canh tác manh mún, chủ yếu là ruộng bậc thang (ngoại trừ cánh đồng Mường Tấc tại Phù Yên). Khí hậu phân hóa thành 3 tiểu vùng nhiệt đới gió mùa núi cao (tiểu vùng phía Bắc; tiểu vùng Tây và Tây Nam; tiểu vùng Đông và Đông Nam), chia hai mùa mưa - khô rõ rệt làm cho canh tác lúa nước của người Thái truyền thống chỉ làm một vụ mùa (tháng 10). Mạng lưới thủy văn gồm lưu vực Sông Đà và Sông Mã có chế độ dòng chảy biến động lớn, nhiều thác ghềnh, mùa mưa lũ kéo dài 5 tháng gây cô lập giao thông. Thổ nhưỡng gồm 6 nhóm và 26 loại đất (chủ yếu là đất đỏ vàng và mùn trên núi, tầng đất dày, hàm lượng đạm và lân cao).
  • Dân cư và cơ cấu tộc người: Mật độ dân số thuộc nhóm thấp nhất Bắc Kỳ (từ 6 đến 8 người/km2). Dân số tăng từ 5 vạn người (1904) lên 86.407 người (1926), 90.003 người (1932) và 118.745 người (1943). Người Thái chiếm đa số tuyệt đối (72.600 người năm 1932). Phân bố không gian cư trú theo độ cao địa hình tạo thành ba vành đai sinh thái - tộc người:
    1. Vùng thung lũng thấp: Cư dân Thái (Thái Đen, Thái Trắng) và người Mường tập trung ven sông suối, thung lũng Mường La, Thuận Châu, làm ruộng nước.
    2. Vùng rẻo giữa: Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme (người Khơ mú, Xinh mun, Kháng, La Ha) cư trú sườn núi thấp, làm nương rẫy.
    3. Vùng núi cao (800 - 1.700m): Đồng bào H'mông di cư đến từ giữa thế kỉ XIX, cư trú biệt lập theo dòng họ trong các jiao, canh tác nương rẫy và trồng cây thuốc phiện.
Châu Số hộ Thái (1935) Số hộ Thái (1936) Số hộ Mèo (1935) Số hộ Mèo (1936) Số hộ Xá (1935) Số hộ Xá (1936) Tổng số hộ (1935) Tổng số hộ (1936)
Mường La & Ngọc Chiến 3.528 3.605 421 426 250 240 4.199 4.271
Mai Sơn 1.827 1.853 30 30 270 264 2.127 2.147
Phù Yên 2.254 2.258 432 438 0 0 2.686 2.686
Thuận Châu 4.518 4.577 392 386 655 647 5.565 5.610
Mộc Châu 1.015 1.015 352 358 17 17 1.384 1.390
Yên Châu 1.115 1.163 12 13 66 63 1.193 1.239
Tổng cộng 14.257 14.471 1.639 1.641 1.258 1.231 17.154 17.343

(Nguồn: Thống kê lưu trữ hành chính tỉnh Sơn La năm 1935 - 1936, dẫn theo luận án)

  • Cơ cấu xã hội bản địa: Xã hội vận hành theo chế độ phìa tạo Thái gồm hệ thống tổ chức chặt chẽ: đứng đầu châu mường là phìa (chúa đất, án nha), chia thành mường phìa trong và bốn mường phìa ngoài; cấp dưới là xổng (ngũ) do các kỳ mục (xen, pọng, ho luông, quan cuông) quản lý; cấp cơ sở là bản do tạo bản hoặc quan bản điều hành. Giai cấp thống trị thuộc các dòng họ quý tộc cha truyền con nối: họ Cầm/Lò Cầm (Mai Sơn, Mường La, Phù Yên), họ Bạc Cầm (Thuận Châu), họ Hoàng (Yên Châu), họ Sa (Mộc Châu). Giai cấp bị trị (người làm ruộng cuông, tôi tớ pụa pái, dân nghèo các tộc người phụ thuộc) chịu nghĩa vụ cống nạp nông sản và lao dịch không công.

Chương 3: Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1895

Chương 3 phân tích thực trạng nông nghiệp dưới sự quản lý của nhà Nguyễn:

  • Chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn: Triều đình áp dụng chế độ đo đạc và lập địa bạ (1805, 1840, 1841, 1843, 1844, 1848), ban hành biểu ngạch thuế khóa theo hạng đất.
  • Thực trạng sở hữu ruộng đất qua địa bạ và luật tục: Qua khảo sát 19 bản địa bạ thời Gia Long 4 (1805) và 11 bản thời Minh Mệnh 21 (1840), trên sổ bạ triều đình ghi nhận 100% ruộng đất ở Sơn La là ruộng tư, toàn bộ thuộc hạng ba, tỷ lệ ruộng lưu hoang lên tới 49,2% (năm 1805). Tuy nhiên, khi đối chiếu với luật tục Thái (Quam tô mương), luận án chỉ ra bản chất thực tế: ruộng đất toàn mường về danh nghĩa thuộc quyền sở hữu tối cao của chúa đất (phìa tạo) và quyền công hữu của cộng đồng mường, ruộng được chia cho nông dân cày cấy và thu tô dịch, hoàn toàn không tồn tại quyền tư hữu phân chia mua bán tự do như ở miền xuôi.
  • Hoạt động sản xuất nông nghiệp: Trồng trọt lúa nước là trục chính tại các cánh đồng thung lũng dựa trên kỹ thuật thủy lợi truyền thống "mương, phai, lái, lín". Vùng sườn núi phát triển nông nghiệp nương rẫy dùng cuốc, chọc lỗ tra hạt. Cây lương thực chính là lúa nếp và lúa tẻ. Chăn nuôi phát triển gia súc lớn (trâu, bò, ngựa) phục vụ sức kéo và phương tiện vận chuyển đường rừng.
  • Lưu thông nông sản: Nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp, khép kín. Hoạt động trao đổi hàng hóa diễn ra hạn chế, chủ yếu là cống nạp nông sản (lúa nếp, gạo ngon, lâm sản) cho tầng lớp thống trị hoặc trao đổi vật đổi vật giữa các bản mường theo mùa vụ khô hanh.

Chương 4: Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ năm 1895 đến năm 1945

Chương 4 tái hiện các chuyển biến kinh tế nông nghiệp dưới thời thuộc địa Pháp:

  • Chính sách nông nghiệp thuộc địa: Chính quyền Pháp thiết lập bộ máy cai trị trực tiếp kết hợp duy trì nguyên vẹn đặc quyền của tầng lớp phìa tạo người Thái nhằm thực hiện chính sách "chia để trị" và thành lập "xứ Thái tự trị". Pháp áp dụng các quy chế nhượng đất lập đồn điền: Sơn La có 1 đồn điền lớn quy mô 9.000 ha nhượng cho Morand và Gros; giai đoạn sau mở rộng áp dụng Nghị định ngày 13/11/1925 và ngày 07/6/1939 về việc cấp nhượng tiểu đồn điền cho người bản xứ.
  • Biến động diện tích và cơ cấu ruộng đất: Diện tích đất canh tác lúa nước được ghi nhận khoảng 8.000 ha (năm 1932 theo thống kê của Henri Yves), bình quân diện tích ruộng trên đầu người đạt 0,088 ha. Xuất hiện các loại hình: ruộng chức cấp cho quan lại, phìa tạo; ruộng công làng xã chia theo định kỳ; đất đồn điền tư bản Pháp và các tiểu trang trại.
  • Sản xuất trồng trọt và chăn nuôi:
    • Cây lương thực: Sản xuất lúa nước và ngô được thống kê chi tiết qua các giai đoạn 1917 - 1941. Năng suất cây trồng cơ bản vẫn thấp do phụ thuộc thời tiết và kỹ thuật canh tác cổ truyền.
    • Chăn nuôi: Khai thác thế mạnh của cao nguyên Nà Sản và Mộc Châu, phát triển đàn gia súc lớn (trâu, bò) và gia cầm giai đoạn 1929 - 1939, đưa Sơn La thành nguồn cung cấp trâu bò kéo cho vùng đồng bằng Bắc Kỳ.
    • Nông - lâm sản đặc sản: Phát triển khai thác và buôn bán cánh kiến đỏ, da thú và cây thuốc phiện tại các vùng núi cao người H'mông.
  • Thương mại nông sản và ngoại thương: Từ năm 1901 đến 1931, hoạt động xuất khẩu nông - lâm sản ra ngoài tỉnh có bước tăng trưởng đáng kể, chủ yếu gồm cánh kiến, da động vật, ngô hạt và gia súc lớn qua tuyến đường thủy Sông Đà về xuôi. Tuy nhiên, luồng thương mại này bị suy thoái mạnh trong cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933.
  • Đặc trưng chuyển biến: Kinh tế nông nghiệp Sơn La đã bước đầu xuất hiện yếu tố kinh tế hàng hóa gắn với thị trường thuộc địa, nhưng diện mạo chung vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu; quan hệ bóc lột địa phương mang tính chất thực dân nửa phong kiến đè nặng lên đời sống người nông dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  1. Phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế toàn diện: Luận án là công trình chuyên khảo lịch sử đầu tiên tái hiện một cách có hệ thống, toàn diện và liên tục về thực trạng kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La trong suốt chiều dài lịch sử từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945.
  2. Làm rõ bản chất chế độ ruộng đất vùng cao: Luận án đã giải mã thành công sự mâu thuẫn giữa hiện tượng văn bản pháp lý triều Nguyễn (địa bạ ghi nhận 100% ruộng tư) và thực tế quan hệ sản xuất bản địa (ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của mường và chúa đất phìa tạo chi phối). Qua đó, luận án chỉ ra tính hai mặt của việc áp dụng pháp luật phong kiến trung ương tại các vùng biên viễn tự trị.
  3. Khái quát các đặc trưng kinh tế nông nghiệp Tây Bắc: Luận án đúc kết các đặc điểm cốt lõi của nền nông nghiệp Sơn La thời thuộc địa: ruộng đất manh mún bậc thang; tỷ lệ ruộng đất bỏ hoang cao do hạn chế thủy lợi; tính chất tự cung tự cấp sâu sắc; phương thức canh tác thủ công (chọc lỗ tra hạt trên nương, cày bừa thô sơ dưới ruộng); năng suất cây trồng thấp; phương thức bóc lột chủ yếu dựa trên tô lao dịch không công và cống nạp sản vật.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Bổ sung nguồn tư liệu thành văn đáng tin cậy phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn địa chí và giảng dạy lịch sử địa phương tại các cơ sở đào tạo, trường đại học, cao đẳng và phổ thông ở tỉnh Sơn La và vùng Tây Bắc.
  • Cung cấp luận cứ lịch sử và bài học kinh nghiệm thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên đất đai, quy hoạch vùng kinh tế nông nghiệp sinh thái, chuyển dịch cơ cấu cây trồng - vật nuôi bền vững tại các cao nguyên miền núi phía Bắc trong bối cảnh hiện đại hóa nông nghiệp hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  1. Sự đứt gãy của nguồn tư liệu địa bạ gốc: Nguồn địa bạ chữ Hán Nôm của triều Nguyễn về tỉnh Sơn La bị khuyết toàn bộ các số liệu từ sau năm Tự Đức 1 (1848) đến năm 1895. Các bản địa bạ hiện còn được lập không đồng loạt ở tất cả các động, xã vào cùng một thời điểm, gây khó khăn cho việc theo dõi tính liên tục của biến động ruộng đất.
  2. Hạn chế của tư liệu thống kê thuộc địa: Các phông tài liệu lưu trữ tiếng Pháp (RST, AFC) có chuỗi số liệu thống kê không liên tục theo từng năm, chủ yếu tập trung vào các mặt hàng xuất khẩu hoặc các cuộc điều tra ngắn hạn.
  3. Giới hạn trong khảo sát ngành bổ trợ: Do hạn chế nguồn dữ liệu thành văn, hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ và đánh bắt/nuôi thủy sản truyền thống chưa đủ điều kiện để phân tích sâu thành các nhánh ngành kinh tế độc lập.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Tiếp tục sưu tầm và xử lý các nguồn tư liệu văn bản cổ bản địa, gia phả các dòng họ phìa tạo chưa được khai thác để lấp khoảng trống tư liệu giai đoạn 1848 - 1895.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về chế độ ruộng đất và năng suất canh tác giữa các tiểu vùng thuộc đạo Quan binh 4 cũ (Sơn La, Lai Châu, Điện Biên).
  • Đi sâu nghiên cứu sự biến đổi của kinh tế lâm nghiệp và sinh kế hộ gia đình các tộc người thiểu số vùng cao trong tiến trình tiếp xúc với kinh tế thị trường thời kỳ hậu thuộc địa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên, nhà nghiên cứu: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế, Dân tộc học, Văn hóa học Tây Bắc, Địa lý lịch sử. Đặc biệt có giá trị ở phương pháp khai thác, đối chiếu nguồn tư liệu địa bạ Hán Nôm triều Nguyễn với luật tục bản địa.
  • Giảng viên và giáo viên: Phục vụ trực tiếp việc biên soạn giáo trình Lịch sử Việt Nam cận đại, Lịch sử kinh tế và tài liệu giáo dục lịch sử địa phương tỉnh Sơn La và các tỉnh Tây Bắc.
  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách: Các cơ quan ban ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, quản lý tài nguyên đất đai tại miền núi trong việc tham chiếu bài học lịch sử về quản lý đất dốc, phân vùng canh tác theo tiểu khí hậu và phát triển chăn nuôi đại gia súc trên các cao nguyên Mộc Châu, Nà Sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao địa bạ triều Nguyễn thời Gia Long 4 (1805) ghi nhận 100% ruộng đất ở Sơn La là ruộng tư, nhưng thực tế bản địa lại là sở hữu công?

Trên sổ bạ của triều đình, do quan lại địa phương kê khai theo mẫu số chung của nhà nước phong kiến để ấn định ngạch thuế, toàn bộ ruộng đất của các động/xã được ghi nhận là ruộng tư nhân thuộc hạng ba. Tuy nhiên, theo luật tục Thái (Quam tô mương) và cấu trúc xã hội mường, ruộng đất thực tế thuộc quyền sở hữu tối cao của cộng đồng bản mường dưới sự đại diện và cai quản tuyệt đối của chúa đất (phìa tạo). Nông dân nhận ruộng phải cày cấy ruộng chức (ruộng phìa) và thực hiện nghĩa vụ cống nạp, tạp dịch. Không có quyền mua bán, chuyển nhượng ruộng đất tư nhân tự do như ở vùng đồng bằng.

2. Thiết chế xã hội phìa tạo của người Thái đã chi phối kinh tế nông nghiệp Sơn La trước năm 1945 như thế nào?

Chế độ phìa tạo bao trùm toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Sơn La. Các dòng họ quý tộc Thái (họ Cầm, Bạc Cầm, Hoàng, Sa) nắm giữ toàn bộ quyền lực hành chính từ cấp châu đến mường, bản. Thiết chế này duy trì quyền phân chia ruộng công, bắt các tầng lớp dân nghèo (cuông, nhuông) và các tộc người phụ thuộc ở vùng rẻo giữa, rẻo cao (Khơ mú, Xinh mun, La Ha, H'mông) phải nộp tô sản vật ("thóc lười", thuốc phiện, thịt thú rừng) và lao dịch không công phục vụ bộ máy thống trị.

3. Chính quyền thực dân Pháp có những chính sách gì tác động đến ruộng đất và nông nghiệp Sơn La từ năm 1895 đến 1945?

Thực dân Pháp duy trì nguyên vẹn thiết chế phìa tạo làm tay sai bản xứ, lập ra "xứ Thái tự trị" nhằm cô lập vùng thượng du với miền xuôi. Về đất đai, Pháp cấp nhượng 1 đồn điền lớn 9.000 ha cho chủ tư bản Pháp (Morand và Gros) và sau đó ban hành các nghị định năm 1925, 1939 cho phép lập các tiểu đồn điền khẩn hoang bản xứ. Pháp đồng thời áp đặt chế độ thuế ruộng đất, thuế thân, độc quyền thuốc phiện và khai thác nguồn xuất khẩu cánh kiến, da súc vật và đại gia súc về đồng bằng.

4. Không gian sinh thái và cơ cấu tộc người ở Sơn La được phân bố ra sao trước năm 1945?

Cư dân Sơn La phân bố theo ba vành đai sinh thái độ cao:

  • Vùng thung lũng chân núi: Người Thái (Thái Đen, Thái Trắng) và người Mường cư trú tập trung ven sông suối, làm ruộng nước một vụ mùa và nuôi cá.
  • Vùng rẻo giữa: Các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme (Khơ mú, Xinh mun, Kháng, La Ha) cư trú sườn núi thấp, sinh sống bằng kinh tế nương rẫy, phụ thuộc vào quý tộc Thái.
  • Vùng núi cao (800 - 1.700m): Đồng bào H'mông cư trú theo dòng họ trong các bản (jiao), chuyên canh tác nương rẫy dốc, trồng ngô, lúa nương và cây thuốc phiện.

5. Tuyến đường giao thông nào đóng vai trò huyết mạch trong việc vận chuyển nông sản xuất khẩu của Sơn La thời Pháp thuộc?

Tuyến Sông Đà là tuyến giao thông đường thủy huyết mạch vận chuyển phần lớn nông - lâm sản của Sơn La (cánh kiến đỏ, da động vật, gia súc, ngô) về xuôi. Tuy nhiên, hoạt động vận tải thủy trên sông Đà gặp trở ngại lớn do chế độ thủy văn phân mùa: mùa mưa lũ kéo dài 5 tháng nước chảy xiết nguy hiểm, mùa cạn nhiều thác ghềnh, hoạt động thương mại thông suốt nhất diễn ra vào đầu mùa khô (từ tháng 11 hàng năm).


Kết luận

Luận án "Kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945" của tác giả Trần Thị Phượng là công trình khoa học chuyên khảo phục dựng bức tranh lịch sử kinh tế nông nghiệp Sơn La suốt 140 năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thông qua nguồn tư liệu lưu trữ Hán Nôm, hồ sơ tiếng Pháp và luật tục bản địa, luận án đã làm rõ sự chi phối của thiết chế phìa tạo, các chính sách quản lý của nhà Nguyễn và chính quyền thực dân Pháp đối với chế độ ruộng đất và sản xuất nông nghiệp. Công trình giải mã thành công tính chất sở hữu ruộng đất vùng cao, chỉ ra những đặc trưng của nền sản xuất truyền thống chậm chuyển biến và để lại nguồn tư liệu học thuật giá trị cùng bài học lịch sử sâu sắc cho phát triển nông nghiệp miền núi hiện nay.