Giáo Trình Kinh Tế Chính Trị Mác - Lênin: Đối Tượng, Phương Pháp & Chức Năng

Giáo trình kinh tế về chính trị, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tài liệu học tập
174
9
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. Chương 1: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

1.1. KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

1.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

1.2.1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin

Tóm tắt

I. Tổng Quan Kinh Tế Chính Trị Ý Nghĩa Nghiên Cứu 55

Kinh tế chính trị Mác-Lênin là một môn khoa học kinh tế, nghiên cứu về quan hệ sản xuấttrao đổi trong xã hội. Nó cung cấp nền tảng lý luận để hiểu rõ sự vận động của các hiện tượng kinh tế. Nghiên cứu kinh tế chính trị giúp chúng ta nhận thức được bản chất của các quy luật kinh tế và áp dụng chúng vào thực tiễn. Môn học này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng chính sách kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội như bất bình đẳng thu nhậpthất nghiệp. Kinh tế chính trị không chỉ giúp hiểu rõ kinh tế thị trường mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của xã hội. Nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin cung cấp hệ thống tri thức mở về những quy luật chi phối sự phát triển của sản xuất và trao đổi gắn với phương thức sản xuất, về lịch sử phát triển các quan hệ của sản xuất và trao đổi của nhân loại nói chung, về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng. Môn học này cung cấp những phạm trù kinh tế cơ bản, bản chất, phát hiện và nhận diện các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường làm cơ sở lý luận cho việc nhận thức các hiện tượng kinh tế mang tính biểu hiện trên bề mặt xã hội.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, nhiều người vẫn chưa hiểu rõ tầm quan trọng của kinh tế chính trị và cho rằng nó chỉ là một môn học lý thuyết khô khan. Điều này dẫn đến việc áp dụng các chính sách kinh tế không phù hợp với thực tiễn, gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Theo Tổng kết lịch sử phát triển của nền kinh tế, C.Mác khẳng định: tiền là kết quả của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa, là sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao.

1.1. Lịch Sử Hình Thành Phát Triển Kinh Tế Chính Trị

Từ thời cổ đại đến nay, tư tưởng kinh tế của nhân loại đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Kinh tế chính trị Mác - Lênin kế thừa và phát triển những giá trị khoa học của các trường phái kinh tế trước đó, đặc biệt là kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh. Nó được xây dựng trên cơ sở phân tíchluận giải các quan hệ xã hội trong quá trình sản xuất. V.Lênin tiếp tục kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận kinh tế chính trị theo phương pháp luận của C.Mác và có nhiều đóng góp khoa học đặc biệt quan trọng. Trong đó nổi bật là kết quả nghiên cứu, chỉ ra những đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, những vấn đề kinh tế chính trị cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Kinh Tế Chính Trị Hiện Nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóahội nhập kinh tế quốc tế, việc nghiên cứu kinh tế chính trị càng trở nên quan trọng. Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các mô hình kinh tế, chính sách kinh tế và các quy luật kinh tế chi phối sự phát triển của xã hội. Đồng thời, nó cũng cung cấp cơ sở lý luận để xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt cần nắm vững những nguyên lý của kinh tế chính trị Mác – Lênin để có cơ sở khoa học, phương pháp luận cho các chính sách kinh tế ổn định, xuyên suốt, giải quyết những mối quan hệ lớn trong phát triển quốc gia cũng như hoạt động kinh tế gắn với đời sống của mỗi người.

II. Đối Tượng Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Tế Chính Trị 58

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là quan hệ xã hội của sản xuấttrao đổi, đặt trong mối liên hệ biện chứng với lực lượng sản xuấtkiến trúc thượng tầng tương ứng. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là trừu tượng hóa khoa học, kết hợp với logiclịch sử. Kinh tế chính trị không nghiên cứu bản thân lực lượng sản xuất, cũng không nghiên cứu biểu hiện cụ thể của kiến trúc thượng tầng mà là đặt các quan hệ của sản xuất và trao đổi trong mối liên hệ biện chứng với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng. Với ý nghĩa như vậy, khái quát lại, kinh tế chính trị Mác – Lênin không xem nhẹ các quan hệ kinh tế khách quan giữa các quá trình kinh tế trong một khâu và giữa các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội với tư cách là một chỉnh thể biện chứng của sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng. Mục đích nghiên cứu nhằm phát hiện ra các quy luật kinh tế chi phối các quan hệ giữa người với người trong sản xuấttrao đổi.

2.1. Quan Hệ Sản Xuất Trao Đổi Trung Tâm Nghiên Cứu

Kinh tế chính trị tập trung vào việc phân tích các quan hệ sản xuất và trao đổi, bao gồm cả quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lýquan hệ phân phối thu nhập. Các nhà kinh điển khẳng định, kinh tế chính trị Mác – Lênin nghiên cứu mặt xã hội của sản xuất và trao đổi, nghĩa là mặt xã hội của sự thống nhất biện chứng của cả sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng.Đây là quan điểm khoa học và phản ánh đúng với thực tiễn vận động của nền sản xuất xã hội có sự vận hành của các quy luật thị trường.

2.2. Trừu Tượng Hóa Khoa Học Phương Pháp Tiếp Cận Hiệu Quả

Phương pháp trừu tượng hóa khoa học giúp loại bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, tạm thời để tách ra những hiện tượng bền vững, điển hình, từ đó nắm bắt được bản chất của đối tượng nghiên cứu. Kinh tế chính trị nghiên cứu các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi. Đây là những quan hệ trừu tượng, khó có thể bộc lộ trong các thí nghiệm thực nghiệm, chỉ có thể bộc lộ ra trong các quan hệ kinh tế trên bề mặt xã hội. Do đó, các thí nghiệm kinh tế chính trị sẽ khó có thể được thực hiện trong quy mô phòng thí nghiệm vì không có một phòng thí nghiệm nào mô phỏng được một cách đầy đủ các quan hệ xã hội của quá trình sản xuất và trao đổi.

III. Chức Năng Kinh Tế Chính Trị Mác Lênin Cách Nhận Thức 57

Kinh tế chính trị Mác - Lênin có nhiều chức năng, bao gồm nhận thức, thực tiễn, tư tưởngphương pháp luận. Chức năng nhận thức cung cấp hệ thống tri thức lý luận về sự vận động của các quan hệ kinh tế. Chức năng thực tiễn giúp vận dụng các quy luật kinh tế vào thực tiễn hoạt động và quản lý kinh tế. Chức năng tư tưởng góp phần xây dựng nền tảng tư tưởng cộng sản cho người lao động. Chức năng phương pháp luận cung cấp nền tảng lý luận khoa học cho việc tiếp cận các khoa học kinh tế khác. Việc này cung cấp hệ thống tri thức mở về những quy luật chi phối sự phát triển của sản xuất và trao đổi gắn với phương thức sản xuất, về lịch sử phát triển các quan hệ của sản xuất và trao đổi của nhân loại nói chung, về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng.

3.1. Nhận Thức Thực Tiễn Vận Dụng Tri Thức Kinh Tế

Khi nhận thức được các quy luật sẽ giúp cho người lao động cũng như những nhà hoạch định chính sách biết vận dụng các quy luật kinh tế ấy vào trong thực tiễn hoạt động lao động cũng như quản trị quốc gia của mình. Quá trình vận dụng đúng các quy luật kinh tế khách quan thông qua điều chỉnh hành vi cá nhân hoặc các chính sách kinh tế sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo hướng tiến bộ. Kinh tế chính trị Mác – Lênin, theo nghĩa đó, mang trong nó chức năng cải tạo thực tiễn, thúc đẩy văn minh của xã hội.

3.2. Tư Tưởng Phương Pháp Luận Nền Tảng Khoa Học

Kinh tế chính trị Mác – Lênin góp phần tạo lập nền tảng tư tưởng cộng sản cho những người lao động tiến bộ và yêu chuộng tự do, yêu chuộng hòa bình, củng cố niềm tin cho những ai phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Kinh tế chính trị Mác – Lênin góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho những chủ thể có mong muốn xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp, hướng tới giải phóng con người, xóa bỏ dần những áp bức, bất công giữa con người với con người.

IV. Sản Xuất Hàng Hóa Hàng Hóa Cơ Sở Lý Luận 53

Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm được tạo ra không nhằm mục đích tự tiêu dùng, mà để trao đổi, mua bán. Điều kiện ra đời là phân công lao động xã hộisự tách biệt về kinh tế của các chủ thể sản xuất. Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi. Theo quan điểm của C.Mác, hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụnggiá trị.Mác viết: “chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa”. Khi còn sự hiện diện của hai điều kiện nêu trên, con người không thể dùng ý chí chủ quan mà xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa được. Với ý nghĩa đó, cần khẳng định, nền sản xuất hàng hóa có ưu thế tích cực vượt trội so với nền sản xuất tự cấp, tự túc.

4.1. Giá Trị Giá Trị Sử Dụng Thuộc Tính Của Hàng Hóa

Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần. Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa. Với quan điểm duy vật về lịch sử, C.Ănghen xác định: Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là các quan hệ của sản xuất và trao đổi trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thành và phát triển.

4.2. Thời Gian Lao Động Xã Hội Đo Lường Giá Trị Hàng Hóa

Lượng giá trị của hàng hóa được đo lường bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Năng suất lao động và tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa. Vì vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa là lượng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra đơn vị hàng hóa đó.

V. Thị Trường Chủ Thể Động Lực Cho Nền Kinh Tế 56

Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ liên quan đến trao đổi, mua bán hàng hóa trong xã hội. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo và gắn kết nền kinh tế. Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ kinh tế tự điều chỉnh, vận hành theo các quy luật kinh tế. Mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin là nhằm phát hiện ra các quy luật kinh tế chi phối các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi. Từ đó, giúp cho các chủ thể trong xã hội vận dụng các quy luật ấy nhằm tạo động lực cho con người không ngừng sáng tạo, góp phần thúc đẩy văn minh và sự phát triển toàn diện của xã hội thông qua việc giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích.

5.1. Quy Luật Cung Cầu Giá Trị Điều Tiết Thị Trường

Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết. Quy luật cung - cầu điều tiết quan hệ giữa cung và cầu, ảnh hưởng đến giá cả thị trường. Quy luật cạnh tranh khuyến khích cải tiến kỹ thuật và phân bổ nguồn lực hiệu quả. .Quy luật kinh tế là những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách quan, lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế.

5.2. Vai Trò Của Người Sản Xuất Tiêu Dùng Trên Thị Trường

Người sản xuất cung cấp hàng hóa dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Người tiêu dùng mua hàng hóa dịch vụ, định hướng sản xuất. Nhà nước quản lý kinh tế, khắc phục khuyết tật của thị trường. Nhà nước có thể vận dụng quy luật cung – cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tế như giá cả lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêu dùng . để tác động vào các hoạt động kinh tế, duy trì những tỉ lệ cân đối cung – cầu một cách lành mạnh và hợp lý.

VI. Giá Trị Thặng Dư Động Lực Phát Triển Tư Bản 58

Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do người lao động tạo ra và thuộc về nhà tư bản. Nguồn gốc của giá trị thặng dư là hao phí lao động của người lao động. Tư bản bất biến là tư liệu sản xuất, giá trị được chuyển vào sản phẩm. Tư bản khả biến là sức lao động, tạo ra giá trị mới. Tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động.Mác ký hiệu giá trị thặng dư là m. Tư bản bất biến không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết để cho quá trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra. Máy móc, nguyên nhiên vật liệu là điều kiện để cho quá trình làm tăng giá trị được diễn ra.

6.1. Hàng Hóa Sức Lao Động Giá Trị Thặng Dư

Để tiến hành sản xuất giá trị thặng dư phải đáp ứng điều kiện, người lao động chỉ phải hao phí một phần thời gian lao động (trong thời gian lao động đã được thỏa thuận mua bán theo nguyên tắc ngang giá) là có thể bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động, C.Mác gọi bộ phận này là thời gian lao động tất yếu. Ngoài thời gian tất yếu đó vẫn trong nguyên tắc ngang giá đã thỏa thuận, người lao động phải làm việc trong sự quản lý của người mua hàng hóa sức lao động, và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, thời gian đó là thời gian lao động thặng dư

6.2. Hai Mặt Của Tư Bản Bản Chất Của Tiền Công

Tư bản bất biến không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết để cho quá trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra. Máy móc, nguyên nhiên vật liệu là điều kiện để cho quá trình làm tăng giá trị được diễn ra. Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên, tức biến đổi về số lượng trong quá trình sản xuất, được C.Mác gọi là tư bản khả biến. Tiền công đó chính là giá cả của hàng hóa sức lao động.

29/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề, tại sao giữa các hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau lại trao đổi được với nhau?. Mối quan hệ tỷ lệ về lượng giữa các giá trị sử dụng khác nhau được C.Mác gọi là giá trị trao đổi.Mác cho rằng, sở dĩ các hàng hóa trao đổi được với nhau là vì chúng có một điểm chung. Điểm chung đó ở chỗ, chúng đều là kết quả của sự hao phí sức lao động. Tức là hàng hóa có giá trị.

Khi là hàng hóa, dù khác nhau về giá trị sử dụng, chúng đều là kết quả của sự hao phí sức lao động của người sản xuất ra hàng hóa ấy, nên hàng hóa có giá trị. Mặt khác, khi đã đề cập tới hàng hóa, có nghĩa là phải đặt sản phẩm của lao động ấy trong mối liên hệ với người mua, người bán, trong quan hệ xã hội. Do đó, lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa mang tính xã hội, tức hàm ý quan hệ giữa người bán với người mua, hàm ý trong quan hệ xã hội.Mác quan niệm đầy đủ hơn: 15 Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy. Như vậy, bản chất của giá trị là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa.

Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử. Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa. Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của trao đổi.1 Một số quan niệm về hàng hóa trong kinh tế học Hàng cá nhân là một loại hàng hóa mà nếu được một người tiêu dùng rồi thì người khác không thể dùng được nữa. Kem là một loại hàng cá nhân.

Khi bạn ăn cái kem của mình thì người bạn của bạn sẽ không lấy que kem đó mà ăn nữa. Khi ta mặc áo quần, thì bất kể ai khác đều không được cùng lúc mặc những quần áo đó nữa. Hàng công cộng là một loại hàng hóa mà thậm chí nếu có một người dùng rồi, thì những người khác vẫn còn dùng được. Bầu không khí trong sạch là một loại hàng hóa công cộng.

Quốc phòng hoặc an toàn công cộng cũng vậy. Nếu như các lực lượng vũ trang bảo vệ đất nước khỏi hiểm nguy, thì việc bạn hưởng an toàn không vì lí do nào lại cản trở những người khác cũng hưởng an toàn. Hàng khuyến dụng là những hàng hóa mà xã hội nghĩ rằng người dân nên tiêu dùng hoặc tiếp nhận, cho dù thu nhập của họ ở mức nào đi chăng nữa. Hàng khuyến dụng thường bao gồm y tế, giáo dục, nhà ở và thực phẩm.

Mọi người nên có đầy đủ nơi ăn chốn ở và tiến hành các bước để đảm bảo điều đó. Nguồn: David Begg, Stanley Fisher, Rudiger Dornbusch, Kinh tế học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1992, trang 71, 72, 74. Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa - Thời gian lao động xã hội cần thiết – đơn vị đo lường lượng giá trị của hàng hóa Để đo lường lượng giá trị của một hàng hóa nhất định, sử dụng đơn vị thời gian hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa đó. Tuy nhiên, không phải là đơn vị thời gian bất kỳ mà là thời gian lao động xã hội cần thiết.

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong những điều kiện bình thường của xã hội với trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình. Vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa là lượng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra đơn vị hàng hóa đó. 16 Trong thực hành sản xuất, người sản xuất thường phải tích cực đổi mới, sáng tạo nhằm giảm thời gian hao phí lao động cá biệt tại đơn vị sản xuất của mình xuống mức thấp hơn mức hao phí trung bình cần thiết. Khi đó sẽ có được ưu thế trong cạnh tranh.

Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được sản xuất ra bao hàm: hao phí lao động quá khứ (chứa trong các yếu tố vật tư, nguyên nhiên liệu đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa đó) + hao phí lao động mới kết tinh thêm. - Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa Lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa được đo lường bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó, cho nên, về nguyên tắc, những nhân tố nào ảnh hưởng tới lượng thời gian hao phí xã hội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa tất sẽ ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa.Mác cho rằng, có những nhân tố sau đây: Một là, năng suất lao động. Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Khi tăng năng suất lao động, sẽ làm giảm lượng thời gian hao phí lao động cần thiết trong một đơn vị hàng hóa.

Cho nên, tăng năng suất lao động, sẽ làm giảm lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa. Năng suất lao động có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa. Vì vậy, trong thực hành sản xuất, kinh doanh cần phải được chú ý, để có thể giảm hao phí lao động cá biệt, cần phải thực hiện các biện pháp để góp phần tăng năng suất lao động.Mác, các nhân tố tác động đến năng suất lao động gồm những yếu tố chủ yếu như: trình độ của người lao động; trình độ tiên tiến và mức độ trang bị kỹ thuật, khoa học, công nghệ trong quá trình sản xuất, trình độ quản lý; cường độ lao động và yếu tố tự nhiên. Khi xem xét về mối quan hệ giữa tăng năng suất với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa, C.Mác còn chú ý thêm về mối quan hệ giữa tăng cường độ lao động với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa.

Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất. Tăng cường độ lao động là tăng mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động. Trong chừng mực xét riêng vai trò của cường độ lao động, việc tăng cường độ lao động làm cho tổng số sản phẩm tăng lên. Tổng lượng giá trị của tất cả các hàng hóa gộp lại tăng lên.

Song, lượng thời gian hao phí để sản xuất một đơn vị hàng hóa không thay 17 đổi. Do chỗ, tăng cường độ lao động chỉ nhấn mạnh tăng mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động thay vì lười biếng mà sản xuất ra số lượng hàng hóa ít hơn. Tuy nhiên, trong điều kiện trình độ sản xuất hàng hóa còn thấp, việc tăng cường độ lao động cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra số lượng các giá trị sử dụng nhiều hơn, góp phần thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội. Cường độ lao động chịu ảnh hưởng của các yếu tố sức khỏe, thể chất, tâm lý, trình độ tay nghề thành thạo của người lao động, công tác tổ chức, kỷ luật lao động… Nếu giải quyết tốt những vấn đề này thì người lao động sẽ thao tác nhanh hơn, thuần thục hơn, tập trung hơn, do đó tạo ra nhiều hàng hóa hơn.

Hai là, tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động. Khi xét với một hoạt động lao động cụ thể, nó có thể là lao động có tính chất giản đơn, cũng có thể là lao động có tính chất phức tạp. Dĩ nhiên, dù giản đơn hay phức tạp thì lao động đó đều là sự thống nhất của tính hai mặt, mặt cụ thể và mặt trừu tượng như đã đề cập ở trên. Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được.

Lao động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một quá trình đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Với tính chất khác nhau đó, nên, trong cùng một đơn vị thời gian, một hoạt động lao động phức tạp sẽ tạo ra được nhiều lượng giá trị hơn so với lao động giản đơn.Mác gọi lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân bội lên. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để cả nhà quản trị và người lao động tính toán, xác định mức thù lao cho phù hợp với tính chất của hoạt động lao động trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa với lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác phát hiện ra rằng, sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt.Tính hai mặt đó là: mặt cụ thể và mặt trừu tượng của lao động.

- Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thế của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích lao động riêng, đối tượng lao động riêng, công cụ lao động riêng, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng. Lao 18 động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Các loại lao động cụ thể khác nhau về chất nên tạo ra những sản phẩm cũng khác nhau về chất và mỗi sản phẩm có một giá trị sử dụng riêng.

Trong đời sống xã hội, có vô số những hàng hóa với những giá trị sử dụng khác nhau do lao động cụ thể đa dạng, muôn hình muôn vẻ tạo nên. Phân công lao động xã hội càng phát triển thì xã hội càng nhiều ngành nghề khác nhau, do đó, có nhiều giá trị sử dụng khác nhau. Khoa học kỹ thuật, phân công lao động càng phát triển thì các hình thức lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng. - Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình thức cụ thể của nó; đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa về cơ bắp, thần kinh, trí óc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ