CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ CHIA SẺ 1. Tổng quan về kinh tế chia sẻ: 1. Lịch sử phát triển của kinh tế chia sẻ: Trong suốt quá trình tiến hóa của con người, “hợp tác” và “chia sẻ” là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Những tài nguyên như phương tiện di chuyển, công cụ lao động… đã được con người chia sẻ bằng cách sử dụng chung từ rất lâu, ngay từ khi mới hình thành các cộng đồng nguyên thủy.
Theo thời gian, đến giữa thế kỷ XX, việc chia sẻ dần trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với việc sở hữu, do sự bùng nổ của sản xuất hàng loạt dưới tác động từ Cuộc CMCN lần thứ hai khiến chi phí cho việc sở hữu tài nguyên trở nên rẻ hơn bao giờ hết. Từ đó, “xuất hiện chủ nghĩa tiêu dùng: xây dựng dựa trên ý tưởng tin rằng việc tiêu dùng sẽ giúp người dân thấy hạnh phúc, việc tiêu dùng giúp nền kinh tế phát triển mạnh hơn. Hiện nay, xu hướng này đang bị đảo ngược trở lại khi mà việc chia sẻ dần trở nên rẻ hơn” 2. Mặc dù nguồn gốc lịch sử của KTCS nằm ở sự trao đổi sơ khai nhưng điểm khởi nguồn của khái niệm “kinh tế chia sẻ” (“sharing economy”) là khái niệm “tiêu dùng hợp tác” (“collaborative consumption”) thông qua bài báo về các hành vi tiêu dùng hợp tác được xuất bản bởi Marcus Felson và Joe L.
Cho đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, khi mà kỷ nguyên Internet bùng nổ thông qua sự xuất hiện của World Wide Web, mô hình KTCS bắt đầu “manh nha” xuất hiện trở lại, với một phiên bản “hiện đại hơn”. Khởi điểm tại Hoa Kỳ là mô hình ban đầu có tính chất “chia sẻ ngang hàng” nhưng chưa rõ nét, KTCS đánh dấu bước chuyển mình bằng dịch vụ website thông tin cho thuê quảng cáo, người tìm việc, việc tìm người… nhằm giúp cho các cá nhân có thể tìm kiếm việc làm, kiếm được tiền thông qua quảng cáo. Khi Internet ngày một lan rộng từ sau năm 1995, các website như eBay 4 và Craigslist 5 giúp kết nối những người có và những người cần một cách hiệu quả hơn. 2 Hà Quang Thanh (2020), “Nhận thức về kinh tế chia sẻ và một số giải pháp áp dụng ở Việt Nam”, Tạp chí Công thương trực tuyến, [https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/nhan-thuc-ve-kinh-te-chia-se-va-mot-so-giai- phap-ap-dung-o-viet-nam-70200.htm], truy cập ngày 01/4/2022.
3 Marcus Felson và Joe L. Spaeth (1978), “Community Structure and Collaborative Consumption: A Routine Activity Approach”, American Behavioral Scientist Vol. 4, University of Illinois at Urbana-Champaign. 4 eBay là một website đấu giá trực tuyến ra đời từ năm 1995 tại San Jose, California và là nơi mà mọi người ở bất kỳ đâu trên thế giới có thể dễ dàng mua hoặc bán hàng hóa và dịch vụ.
5 Craigslist là một website quảng cáo được phân loại của Hoa Kỳ, thành lập vào năm 1995 tại San Francisco, California với các phần dành cho việc làm, nhà ở, chào bán các mặt hàng, dịch vụ, dịch vụ cộng đồng, hợp đồng biểu diễn, lý lịch và diễn đàn thảo luận. 5 Do đó, chia sẻ và tái phân phối tài nguyên bắt đầu rẻ hơn so với việc mua đồ mới và vứt đồ cũ đi. Trong nền KTCS này, mọi người không chỉ mua hàng mà còn có thể bán hàng thông qua thương mại ngang hàng (P2P). Từ đó, con người bắt đầu nhận thấy rằng thay vì tư hữu để thỏa mãn nhu cầu thì tốt hơn hết là nên tìm những nguồn lực có sẵn trong cộng đồng thông qua việc đi thuê, bởi lẽ việc sở hữu hoặc duy trì một tài sản không sử dụng thường xuyên là quá đắt đỏ.
Điều này đã bước đầu thay đổi tâm lý “tư hữu” của người dân, nhưng do chưa tồn tại một doanh nghiệp nào hoạt động theo mô hình KTCS tạo được tiếng vang lớn nên mô hình này chưa thực sự đạt đến “độ chín” của nó. Như một hệ quả tất yếu, đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, mô hình kinh doanh này đã thực sự bước vào giai đoạn phát triển khi nền kinh tế Hoa Kỳ rơi vào Cuộc suy thoái toàn cầu năm 2008–2009. Thời điểm đó, một trong những ảnh hưởng rõ nét nhất từ cuộc khủng hoảng này chính là tình trạng suy giảm tiêu dùng cá nhân ở Hoa Kỳ: người dân buộc phải thắt chặt chi tiêu để thích ứng với bối cảnh kinh tế khó khăn, trong khi thực tế, rất nhiều người có nhu cầu kiếm tiền từ chính những tài sản mà mình đang sở hữu. Trước bối cảnh đó, con người quay trở lại với một mô hình ưu việt, tiết kiệm, tận dụng nguồn lực sẵn có và đề cao tính chia sẻ hơn tư hữu tài sản – mô hình kinh tế chia sẻ.
Trong đó, khái niệm “kinh tế chia sẻ”, với đầy đủ các nội hàm của nó, được sử dụng lần đầu tiên vào năm 2007 bởi giáo sư Lawrence Lessig tại Trường Đại học Luật Harvard trong cuốn sách “Remix: Making Art and Commerce Thrive in a Hybrid Economy” 6. Dưới kỷ nguyên của mạng xã hội và trao đổi dữ liệu, sự bùng nổ và tái sinh mạnh mẽ của mô hình KTCS chính thức được đánh dấu bằng sự ra đời của Uber vào năm 2009 7. Việc “chia sẻ” những tài nguyên sẵn có (điển hình ở đây là những chiếc xe ô tô) thông qua các ứng dụng công nghệ cùng những khoản lợi nhuận khổng lồ đem lại cho nhà cung ứng dịch vụ lẫn người cho thuê và sử dụng tài nguyên đã khiến mô hình kinh doanh này nhanh chóng phát triển, vượt ra khỏi biên giới Hoa Kỳ, lan rộng đến châu Âu và sau đó là toàn thế giới. 6 Donata Siuskaite, Vaida Pilinkiene & Dainius Zvirdauskas (2019), “The Conceptualization of the Sharing Economy as a Business Model”, Inzinerine Ekonomika – Engineering Economics, Kaunas University of Technology, trang 374.
7 Uber là một công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ cung cấp các dịch vụ đi chung phương tiện giao thông vận tải thông qua một ứng dụng công nghệ với trụ sở tại San Francisco, California. Theo số liệu từ Business of Apps, tính đến tháng 3/2022, dịch vụ Uber đã có mặt tại 72 quốc gia và hơn 10.500 khu vực đô thị trên toàn thế giới. 6 Dần dần, các tranh cãi về một khái niệm đúng đắn để gọi tên hiện tượng kinh tế toàn cầu này bắt đầu nổ ra. Vào năm 2010, Rachel Botsman và Roo Rogers chính là những tác giả đầu tiên chỉ ra được sự khác biệt giữa khái niệm “kinh tế chia sẻ” và khái niệm “tiêu dùng hợp tác” 8.
Đến năm 2015, thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” (“sharing economy”) chính thức được thêm vào từ điển Anh ngữ Oxford, như một sự thừa nhận chính thức về mặt học thuật.1: Lịch sử hình thành của kinh tế chia sẻ (Nguồn: Donata Siuskaite, Vaida Pilinkiene & Dainius Zvirdauskas (2019), “The Conceptualization of the Sharing Economy as a Business Model”, trang 374) Có thể nói rằng nền KTCS đã “đảo ngược” chủ nghĩa tiêu dùng. Nói cách khác, sự tôn sùng cho “chủ nghĩa tiêu dùng sở hữu” trước đây đã ngày một lụi tàn dần và được thay thế bằng “chủ nghĩa tiêu dùng cộng tác”. Một khi tâm lý “tư hữu” đã bị thay thế bởi tâm lý “chia sẻ”, các công ty kinh doanh theo mô hình KTCS phát triển mô hình tính phí theo số lần sử dụng, thay vì theo sự sở hữu như trước đây. Theo thời gian, các công ty này đã tạo nên một làn sóng mới – “làn sóng chia sẻ”.
Làn sóng này ngày càng thâm nhập sâu vào các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như giao thông, nhà ở, bán lẻ, không gian văn phòng và hậu cần, tài chính và tín dụng tiêu dùng, thị trường lao động, thực phẩm, học tập, sức khỏe… và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế 9. 8 Rachel Botsman và Roo Rogers (2010), “What's Mine Is Yours: The Rise of Collaborative Consumption”, Harper Collins Publishers. 9 Đỗ Hoàng Vi Sinh (2018), “Phân tích tác động của nền kinh tế chia sẻ xe đến nền kinh tế Việt Nam & các đối tượng liên quan”, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Quản trị - Luật, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, trang 6-7. Khái niệm về kinh tế chia sẻ và mô hình kinh tế chia sẻ: Theo tổng hợp của Cristiano Codagnone và Bertin Martens (2016) 10, tồn tại nhiều thuật ngữ khác nhau có thể thay thế cho thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” (sharing economy) như “kinh tế cộng tác” (collaborative economy), “tiêu dùng cộng tác” (collaborative consumption), “kinh tế vòng tròn” (circular economy), “kinh tế theo cầu” (on-demand economy), “kinh tế nền tảng” (platform economy), nhưng trong đó, thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” được sử dụng phổ biến hơn cả.
Khái niệm về kinh tế chia sẻ: Hiện nay, không tồn tại một định nghĩa chung cho mọi trường hợp hay cho mọi quốc gia về “kinh tế chia sẻ”. Phạm vi nội hàm rộng hay hẹp của các định nghĩa cũng khác nhau, bởi lẽ bản thân các định nghĩa xuất phát từ các góc nhìn khác nhau. Một số định nghĩa phổ biến và được thừa nhận rộng rãi có thể kể đến như sau: Theo từ điển Tiếng Anh Oxford (Oxford English Dictionary, 2015) 11: Vào năm 2015, thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” chính thức xuất hiện trên các trang của từ điển Anh ngữ Oxford (Oxford English Dictionary): Kinh tế chia sẻ là “một hệ thống kinh tế trong đó tài sản hoặc dịch vụ được chia sẻ giữa các cá nhân hoặc miễn phí hoặc có thu phí, chủ yếu thông qua Internet”. Với đặc điểm truyền thống là mạng tài nguyên ngang hàng, mô hình này được sử dụng khi giá của tài sản cao và tài sản đó không được sử dụng đúng hoặc đang ở trạng thái nhàn rỗi.
Schor và Connor J. Fitzmaurice (2015) 12: KTCS là hành vi giữa những người dùng cuối trong mối quan hệ mua sắm tiêu dùng; trong đó, những hàng hóa và dịch vụ nào chưa phát huy hết công dụng của mình thì sẽ được các bên đem ra trao đổi, chia sẻ, tạo cơ hội tiếp cận cho đối phương. Trong mối quan hệ này, các bên đặt ra 02 tiêu chí là: (i) phát huy công dụng và bảo đảm cơ hội tiếp cận đến các hàng hóa; và (ii) việc chia sẻ không gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu của chủ sở hữu hàng hóa. Khái niệm này khá chi tiết, dễ hiểu, nhưng lại không chỉ ra được mô hình KTCS vận hành trên cơ sở nền tảng công nghệ.
10 Cristiano Codagnone và Bertin Martens (2016), “Scoping the Sharing Economy: Origins, Definitions, Impact and Regulatory Issues”, Institute for perspective technological studies digital economy working paper, [https://joint-research-centre.eu/system/files/2016-05/JRC100369.pdf], truy cập ngày 02/4/2022. 11 Theo Từ điển Anh Ngữ Oxford: The sharing economy (noun): “An economic system in which assets or services are shared between private individuals, either for free or for a fee, typically by means of the internet”. Schor và Connor J. Fitzmaurice (2015), “Collaborating and connecting: the emergence of the sharing economy”, trong Lucia A.