phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng I: Dẫn luận chung về kính ngữ trong tiếng Hàn: Bàn về khái niệm kình ngữ cũng nhƣ chức năng và các yếu tố quyết định tới việc lựa chọn sử dụng kình ngữ trong tiếng Hàn. Chƣơng II: Kính ngữ biểu hiện bằng phƣơng thức ngữ pháp: Miêu tả và khảo sát các phƣơng thức biểu hiện của kình ngữ đƣợc tạo lập bằng cách chắp dình các yếu tố biểu hiện sắc thái kình trọng hoặc khóng kình trọng. Đây là phƣơng thức biểu hiện chình của kình ngữ trong tiếng Hàn đồng thời cũng là phƣơng thức thể hiện rõ đặc trƣng của loại hính ngón ngữ chắp dình. Chƣơng III: Kính ngữ biểu hiện bằng phƣơng thức thay thế từ vựng: Khảo sát và liệt kê các từ mang sắc thái kình trọng thƣờng dùng.
Mặc dù khóng phải là phƣơng thức biểu hiện chủ yếu song việc thay thế, sử dụng các từ cùng nghĩa mang sắc thái kình trọng cũng đƣợc sử dụng tƣơng đối phổ biến. Đặc biệt, xét trên phƣơng diện đối tƣợng giao tiếp, đây là phƣơng thức biểu hiện quan trọng nhất của kình ngữ trong tiếng Hàn đối với đối tƣợng giao tiếp là vai khách thể. Cuối cùng là tài liệu tham khảo và phụ lục. 10 Tài liu , Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc, Giáo trình eBook, Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc11 of 107.
Header Page 12 of 107. Kính ngữ và các phương thức biểu hiện của nó trong tiếng Hàn hiện đại CHƢƠNG I DẪN LUẬN CHUNG VỀ KÍNH NGỮ TRONG TIẾNG HÀN I. KHÁI NIỆM KÍNH NGỮ Nhƣ chúng tói đã đề cập, kính ngữ ( 경어, 敬語, a term of respect ) là một phạm trù ngữ pháp rất quan trọng trong tiếng Hàn. Nñ khóng chỉ thu hút đƣợc sự quan tâm của giới học thuật Hàn Quốc mà còn của cả các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài.
Trong các bài viết về kình ngữ hiện nay, khái niệm này đƣợc dùng để chỉ một loại phƣơng tiện ngón ngữ cñ chức năng thể hiện các mức độ kình trọng, đề cao đối với một đối tƣợng giao tiếp nào đñ. Tuy nhiên, trong quá trính nghiên cứu các tài liệu của Hàn Quốc, chúng tói nhận thấy các nhà nghiên cứu Hàn Quốc khóng sử dụng khái niệm kình ngữ mà trên thực tế, nñ chỉ tồn tại nhƣ một khái niệm trong từ điển. Trong các cóng trính nghiên cứu của các học giả Hàn Quốc, khóng cñ khái niệm kình ngữ mà chỉ cñ khái niệm phép kính ngữ (경어법 , 敬語法 ). Trên thực tế, khái niệm kình ngữ là khái niệm mới chỉ xuất hiện trong các bài viết của các nhà nghiên cứu Việt Nam về hiện tƣợng ngón ngữ này.
Tuy nhiên, về mặt nội dung, khái niệm kình ngữ mà một số nhà nghiên cứu Việt Nam sử dụng và khái niệm phép kình ngữ của một số nhà nghiên cứu Hàn Quốc là giống nhau. Chẳng hạn nhƣ quan niệm về “ một phạm trù ngữ pháp thể hiện sự tón trọng của ngƣời nñi đối với một đối tƣợng nào đñ thóng qua hành vi ngón ngữ ” đƣợc các nhà nghiên cứu Việt Nam coi là kình ngữ trong khi các nhà nghiên cứu Hàn Quốc lại gọi là phép kình ngữ. Nhƣ vậy, vấn đề đặt ra ở đây là nên hiểu kình ngữ và phép kình ngữ nhƣ thế nào? Cñ nên đồng nhất hai khái niệm này với nhau khóng? Cñ hay khóng sự khác biệt trong quan niệm về kình ngữ của các nhà nghiên cứu hai nƣớc?. Phép kình ngữ trong tiếng Hàn ngoài cái tên chữ Hán là kính ngữ pháp (경어법, 敬語法 ) còn đƣợc gọi dƣới nhiều cái tên khác nhau tuỳ theo từng tác giả nhƣ: tôn đãi pháp (존대법, 尊待法 ), tôn phi pháp (존비법, 尊卑法 ), đãi 11 Tài liu , Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc, Giáo trình eBook, Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc12 of 107.
Header Page 13 of 107. Kính ngữ và các phương thức biểu hiện của nó trong tiếng Hàn hiện đại ngẫu pháp (대우법, 待遇法 ) và tên thuần Hàn của nñ là phép đề cao (높임법)(1). Mặc dù khóng cñ nhiều định nghĩa trực tiếp về kình ngữ song cũng nhƣ sự đa dạng trong tên gọi của nñ, phép kình ngữ đƣợc các nhà nghiên cứu ngón ngữ Hàn Quốc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo cách định nghĩa của Lee Ik Seop và Im Hong Bin trong cuốn “Quốc ngữ văn pháp luận” (국어문법론 ) [ 1997, 219 ] thí “phép kình ngữ là một hệ thống biểu hiện bằng ngón ngữ cho thấy sự tiếp đãi đối với một đối tƣợng nào đñ ở mức độ nào đñ ”.
Kwon Jae Il gọi hiện tƣợng này là phép đề cao và coi nñ “ là một phạm trù ngữ pháp thể hiện sự tón trọng của ngƣời nñi đối với một đối tƣợng nào đñ thóng qua hành vi ngón ngữ” [ 1998, 48 ]. Còn Nam Ki Sim và Ko Yeong Keun trong “ Ngữ pháp quốc ngữ tiêu chuẩn” ( 표준국어문법 ) [ 1985, 325 ] thí giải thìch về phép đề cao dài dòng hơn: “ Hành vi ngón ngữ đƣợc thực hiện khi ngƣời nñi nñi với ngƣời nghe về một nhân vật hay một sự việc nào đñ. Trong hành vi ngón ngữ đñ nhiều nhân vật sẽ đƣợc xuất hiện. Cñ nhân vật xuất hiện ngoài câu là ngƣời nghe và ngƣời nñi nhƣng cũng cñ nhân vật xuất hiện với tƣ cách là thành phần chủ ngữ, bổ ngữ hay trạng ngữ trong câu.
Trong mối quan hệ giữa các nhân vật này, tuỳ theo việc ai phải kình trọng hay khóng kình trọng đối với ai mà xuất hiện nhiều cách biểu hiện sự đề cao. Cñ trƣờng hợp ngƣời nñi phải đề cao ngƣời nghe, hoặc phải đề cao chủ thể của câu, nhƣng cũng cñ trƣờng hợp phải đề cao khách thể xuất hiện trong câu với tƣ cách là bổ ngữ hay trạng ngữ. Đặc biệt, cñ trƣờng hợp ngƣời nñi phải tự hạ thấp mính để đề cao đối tƣợng giao tiếp. Tuỳ theo những trƣờng hợp nhƣ vậy mà cñ nhiều loại phép đề cao khác nhau.
” Sau khi tham khảo các bài nghiên cứu về kình ngữ, theo quan điểm của chúng tói, nñi đến kình ngữ là nñi đến một phƣơng tiện ngón ngữ bao gồm những yếu tố ngón ngữ cñ chung một ý nghĩa ngữ pháp hoặc ý nghĩa từ vựng và đƣợc (1) Để thống nhất với xu hƣớng hiện nay, trong luận văn này, chúng tói thống nhất sử dụng thuật ngữ “ phép đề cao ” thay cho thuật ngữ “ phép kình ngữ ”. 12 Tài liu , Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc, Giáo trình eBook, Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc13 of 107. Header Page 14 of 107. Kính ngữ và các phương thức biểu hiện của nó trong tiếng Hàn hiện đại biểu hiện bằng một hính thức ngữ pháp hay từ vựng cụ thể.
Còn phép đề cao là cóng cụ, là các quy tắc, cách thức hoạt động của các yếu tố ngón ngữ để biểu hiện ý nghĩa của kình ngữ dƣới một hính thức ngữ pháp cụ thể trên cơ sở phân biệt đối tƣợng tiếp nhận sự đề cao. Trên cơ sở đñ chúng tói nhận thấy, cả ba định nghĩa trên của các học giả Hàn Quốc tuy thống nhất trong cách gọi là phép đề cao nhƣng nội dung lại đề cập đến các đối tƣợng khác nhau. Hai định nghĩa đầu cñ thể đƣợc coi là cách hiểu về kình ngữ còn định nghĩa thứ ba giải thìch về cơ chế hoạt động của kình ngữ trên cơ sở đối tƣợng giao tiếp, đñ chình là cách hiểu về phép đề cao. Lập luận này cho thấy các học giả Hàn Quốc cñ xu hƣớng đồng nhất hai khái niệm kình ngữ và phép đề cao.
Điều này cñ lẽ xuất phát từ thực tế là các yếu tố thể hiện các sắc thái đề cao hay hạ thấp trong tiếng Hàn ngoài một số từ vựng chuyên dùng còn lại đại đa số là do các hính vị ngữ pháp đồng thời là hính vị hạn chế đảm nhiệm, nhằm bổ sung thêm các ý nghĩa ngữ pháp hoặc ý nghĩa tính thái cho thành phần mà nñ kết hợp. Là hính vị hạn chế nên chúng khóng thể phát huy ý nghĩa nếu đứng một mính trừ khi tham gia vào hoạt động ngữ pháp. Điều đñ cñ nghĩa, trên thực tế cái đƣợc gọi là kình ngữ trong tiếng Hàn là những yếu tố khóng cñ đời sống ngón ngữ độc lập, bản thân chúng khóng cñ khả năng bộc lộ nội dung ý nghĩa của mính. Ví thế, khi nghiên cứu về kình ngữ cũng cñ nghĩa là chúng ta nghiên cứu về kình ngữ khi nñ đã tham gia vào các hoạt động ngữ pháp để tạo thành các phƣơng thức biểu hiện đƣợc định hính dƣới các hính thức cụ thể.
Tuy nhiên, xét về mặt khái niệm, kình ngữ là một khái niệm cñ tồn tại. Do đñ, cho dù khái niệm này khóng đƣợc thƣờng xuyên đề cập đến và cñ quan hệ rất mật thiết với khái niệm phép đề cao thí cũng nên cñ sự phân biệt. Với quan điểm đñ, để đƣa ra một cách hiểu thống nhất về kình ngữ và phép đề cao, chúng tói coi kình ngữ là tên gọi của một phƣơng tiện ngón ngữ biểu hiện các mức độ đề cao còn phép đề cao là những phƣơng thức đã đƣợc quy tắc hoá dƣới một hính thức ngữ pháp cụ thể trên cơ sở phân biệt theo đối tƣợng tiếp nhận các mức độ đề cao đñ. 13 Tài liu , Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc, Giáo trình eBook, Sách, Biu mu, Vn Bn, Giáo trình tt c các lnh vc14 of 107.
Header Page 15 of 107. Kính ngữ và các phương thức biểu hiện của nó trong tiếng Hàn hiện đại II. CHỨC NĂNG CỦA KÍNH NGỮ Kình ngữ đñng một vai trò quan trọng và đƣợc sử dụng rất rộng rãi trong đời sống sinh hoạt của ngƣời Hàn Quốc là điều mà ai cũng thừa nhận. Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề chức năng cơ bản của kình ngữ lại cñ nhiều ý kiến khác nhau.
Chẳng hạn, khi lý giải về lý do sử dụng kình ngữ trong giao tiếp, tác giả Lee Byeong Hyeok trong cuốn “ Văn hoá thƣờng nhật của ngƣời Hàn Quốc ” ( 한국인의 일상문화 ) do Hội nghiên cứu văn hoá thƣờng nhật Hàn Quốc ấn hành năm 1996 đã khẳng định đñ là do phép đề cao cñ hai chức năng quan trọng nhất là giữ khoảng cách và duy trí mối quan hệ thân thiện đối với đối tƣợng giao tiếp. Ông nhấn mạnh rằng, trên phƣơng diện quan hệ xã hội, những chức năng này bị chi phối bởi “tình độc lập” ( 독립성 ) và “tình liên quan” ( 연관성 ).