MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là ngành có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, cũng là động lực chính, trực tiếp tạo ra những giá trị gia tăng, giúp tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp nói chung và góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chuyển mình của đất nước. Chính sách phát triển CNHT giúp góp phần làm giảm tỷ lệ nhập siêu, giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài trong việc sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, bên cạnh đó góp phần gia tăng tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm, tích cực chủ động hơn trong cạnh tranh để hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như ngày nay, chính sách phát triển CNHT đáp ứng một cách linh hoạt, kịp thời, nhanh chóng nhu cầu phải thay đổi thuộc tính, công nghệ của các nhà sản xuất sản phẩm công nghiệp do nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và có tính cạnh tranh khốc liệt.Bên cạnh đó, chính sách phát triển CNHT sẽ góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư, tăng sức hút đầu tư vào những lĩnh vực công nghiệp mà CNHT đó đi trước một bước để “mở đường” tạo nền tảng cho sự phát triển. Hàn Quốc là nền kinh tế có sự phát triển thần kỳ.
Hàn Quốc ngay từ đầu đã xác định và chú trọng chính sách phát triển CNHT ô tôtừ sớm trên thế giới và đã gặt hái được rất nhiều thành công trong lĩnh vực này.Chính sách mở cửa và tự do hóa thị trường là điểm nổi bật trong thập kỷ 1990 (giai đoạn khởi đầu chính sách phát triển CNHT ô tô của nước này), đồng thời tiến hành cải cách ngành công nghiệp, với sự hỗ trợ các DNVVN. Việt Nam có trình độ phát triển thấp hơn và quá trình phát triển chậm hơn, tuy nhiên lại có được rất nhiều nét tương đồng. Do vậy, để tận dụng tối đa lợi thế và nguồn lực, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế, phù hợp với thực tiến và bối cảnh phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì việc học hỏi, tập dụng kinh nghiệm 2 của Hàn Quốc là vô cùng quan trọng, cấp bách và cần thiết, có ý nghĩa góp phần lựa chọn được giải pháp thiết thực, then chốt để có thể đáp ứng được nhiệm vụ phát triển CNHT ô tônói riêng,phát triển nền công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Xuất phát từ những lý do khách quan và cấp thiết trên, việc nghiên cứu đề tài:“Kinh nghiệm của Hàn Quốc đối với chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô - Bài học cho Việt Nam” được đặt ra hết sức cần thiết xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, là một trong những hướng nghiên cứu cơ bản, quan trọng và có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.Mục tiêu nghiên cứu Kinh nghiệm của Hàn Quốc đối với chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô - Bài học cho Việt Nam.Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu nói trên, tác giả đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau cho luận văn: Thứ nhất: Hệ thống hóa và làm rõ thêm cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp hỗ trợ ô tô, chính sách phát triểncông nghiệp hỗ trợô tô của một quốc gia. Thứ hai: Phân tích và đánh giá về chính sáchphát triển CNHT ô tôcủa Hàn Quốc Thứ ba:Vận dụng kinh nghiệm của Hàn Quốc để điều chỉnh chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô ở Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu 3 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sáchphát triển CNHT ô tôcủa Hàn Quốc.
Phạm vi nghiên cứu 3. Về không gian Luận văn nghiên cứu chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô của Hàn Quốc và Việt Nam với những lý do như sau: Hàn Quốc là nước có nền công nghiệp hỗ trợ ô tô rất phát triển. Hàn Quốc đa phần sản xuất,láp ráp các dòng xr chủ yếu là cỡ trung mức giá thấp tuy nhiên tích hợp nhiều công nghệ phổ biến. Đây cũng là những phân khúc xe phù hợp với điều kiện tại Việt Nam.
Việt Nam có mối quan hệ hợp tác, cạnh tranh với Hàn Quốc. Bên cạnh đó Hàn Quốc đã và đang đầu tư rất lớn vào Việt Nam. Cùng với đó, hàng năm Việt Nam nhập khẩu đáng kể phụ tùng linh kiện từ Hàn Quốc. Về thời gian Nghiên cứu chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô của: - Hàn Quốc từ năm 1962 đến nay.
Năm 1962, Chính phủ Hàn Quốc ban hành “Chính sách khuyến khích ngành công nghiệp ô tô”. Cùng với đó là “Luật bảo hộ ngành công nghiệp ô tô”. - Việt Nam từ năm 2002 đến nay. Năm 2002, Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”.Về nội dung - Hệ thống hóa và làm rõ thêm khung cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp hỗ trợ ô tô và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô.
- Phân tích chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô của Hàn Quốc. - Bài học thành công, bài học chưa thành công trong chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô của Hàn Quốc. 4 - Phân tích thực trạng chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô của Việ Nam. - Vận dụng kinh nghiệm của Hàn Quốc để điều chỉnh chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô ở Việt Nam.
Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau: - Phương pháp thu thập số liệu - Phương pháp phân loại và hệ thống hóa tài liệu - Phương pháp phân tích - Phương pháp tổng hợp - Phương pháp so sánh 5. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng và hình và kết luận, bố cục của bài luận văn được chia làm 3 chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô của một quốc gia. Chương 2:Chính sáchphát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô củaHàn Quốc - Bài học kinh nghiệm Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm của Hàn Quốc để điều chỉnh chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô ở Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ô TÔ CỦA MỘT QUỐC GIA 1.Công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp hỗ trợ ô tô 1.Khái niệm công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp hỗ trợ ô tô Khái niệm Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) hay còn được gọi với tên quen thuộc như công nghiệp phụ trợ (Supporting Industry) xuất hiện lần đầu tiên đầu ở Nhật Bản và sau đó được xuất hiện ở các nước có nền công nghiệp bắt đầu phát triển tại châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan,.
- những nước mà ở đó chi tiết các sản phẩm thông thường được gia công bởi một đơn vị sản xuất khác với nơi diễn ra hoạt động sản xuất chế tạo, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Tuy nhiên, căn cứ vào bối cảnh, mục đích, quan điểm, mà mỗi nước lại có định nghĩa riêng về CNHT. Tại Nhật Bản, năm 1985, Bộ Công Thương Nhật Bản- MITI (nay là METI - Bộ Kinh tế Công nghiệp và Thương mại) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ CNHT trong “Sách trắng về hợp tác quốc tế năm 1985”. Trong tài liệu này khái niệm CNHT được dùng để chỉ các DNNVV, các doanh nghiệp này góp phần đáng kể trong việc tăng cường các cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước châu Á và trong trung dài hạn, phần lớn các DNNVV này hoạt động trong lĩnh vực sản xuất phụ tùng và linh kiện.
Khái niệm CNHT ra đời và đã được chính phủ Nhật Bản chính thức đưa vào sử dụng. Trong bối cảnh phát triển khoảng thời gian này, sự tăng giá đồng tiền Nhật Bản đã khiến cho các doanh nghiệp Nhật Bản đã tiến hàng giảm xuất khẩu các sản phẩm cuối cùng và dần chuyển dịch các cơ sở sản xuất này sang quốc gia có chi phí nhân công rẻ hơn một cách tương đối. Tuy nhiên, các nhà lắp ráp của Nhật Bản ở các các 6 quốc gia khác vẫn phải nhập khẩu linh, phụ kiện từ các DNNVV ở Nhật Bản vì các doanh nghiệp ở các quốc gia sở tại chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ. Do vậy, khái niệm CNHT lúc đó được hiểu là chỉ sự thiếu hụt các ngành công nghiệp như vậy ở các quốc gia sở tại này.
Sau đó khái niệm này trở nên phổ biến tại các nước ở châu Á. Năm 1993, trong chương trình chính sách phát triển CNHT ô tô tại châu Á, METI đã định nghĩa CNHT là “ngành công nghiệp sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng và hàng hóa tư bản. cho công nghiệp lắp ráp (gồm ô tô, điện, điện tử). Hiện nay, CNHT ở Nhật Bản được hiểu là “một nhóm các hoạt động công nghiệp cung ứng các đầu vào trung gian (không phải nguyên vật liệu thô và các sản phẩm hoàn chỉnh) cho các ngành công nghiệp hạ nguồn ”.
Có thể hiểu rằng: CNHT nằm ở phần giữa của quá trình sản xuất, từ sản xuất ở thượng nguồn xuống đến quá trình sản xuất ở hạ nguồn. Quá trình sản xuất này đã làm chi phí sản xuất giảm, gia tăng dung lượng thị trường, nguồn khách hàng và điều quan trọng hơn cả là giúp CNHT phát triển một cách nhanh hơn. Khi đó, tại Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia khu vực châu Á khác đã đều xác định CNHT theo khái niệm như trên, thông qua việc dựa vào các công đoạn khác nhau của sản xuất như: dập, rèn, hàn, đúc, khôn mẫu, gia công cơ khí…và các sản phẩm đầu ra chủ yếu liên quan đến các mảng chính như: các linh kiện điện-điện tử, các linh kiện kim loại và các linh kiện nhựa và cao su. Bên cạnh đó, một số quốc gia, khu vực khác cũng có những cách định nghĩa riêng về CNHT như: Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (2004) định nghĩa CNHT là (những ngành sử dụng nguyên vật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chế tạo ra sản phẩm trước khi chúng được lưu thông đến ngành công nghiệp sử dụng cuối 7 cùng.