CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài Đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu việc áp dụng Hiệp ước vốn Basel trong ngân hàng. Những nghiên cứu này được chia thành các mảng chính như nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung của Hiệp ước vốn Basel, đánh giá việc áp dụng của Basel trong hệ thống ngân hàng và phân tích những vướng mắc trong quá trình thực hiện.1 Nhóm các nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung Hiệp ước vốn Basel Các nghiên cứu liên quan đến Basel I Trước khi đi sâu vào nội dung của các Hiệp ước vốn, Torullo (2008) đã đánh giá sự cần thiết, lịch sử hình thành của yêu cầu về vốn tối thiểu trong các ngân hàng ở các nước G10. Nghiên cứu đã chỉ ra được sự thay đổi liên tục trong các quy định của các ngân hàng ở Mỹ trong vài ba thập kỉ gần đây.
Các quy định về vốn ở các trung tâm tài chính khác cũng thay đổi tuy ở mức độ ít hơn. Do vậy Torullo (2008) cho rằng chính hiệu ứng cộng hưởng từ sự phát triển quá nhanh của các dịch vụ tài chính và sự nới lỏng các quy định trong hệ thống ngân hàng đã đặt quy định về vốn trở thành quy định trung tâm của các ngân hàng. Yêu cầu về vốn sẽ buộc các ngân hàng áp dụng các công cụ đánh giá rủi ro rất phức tạp song nó cũng đẩy các ngân hàng vào thế phải đánh đổi giữa sự ổn định tài chính và hay luân chuyển vốn thật hiệu quả trong nền kinh tế. Quy định vốn không thể là một nhiệm vụ hoàn toàn cơ học nhưng nhất thiết đòi hỏi phải thực hiện theo quyết định chính sách.
Nghiên cứu của Tô Ánh Dương (2006) đã phân tích rất rõ mục tiêu của Hiệp ước vốn Basel bao gồm việc nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên phạm vi quốc tế và đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro. Liên quan đến nguồn gốc, đặc điểm, và lịch sử của các hiệp ước vốn Basel, Tulluro (2008) đã phân tích bối cảnh dẫn đến sự sáng tạo của Ủy ban Basel và 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động cơ kép của Mỹ và Anh trong việc tìm kiếm một thỏa thuận về an toàn vốn trong những năm cuối thập niên 1980. Theo nghiên cứu của Tulloro (2008), ngay cả khi Ủy ban Basel đã chỉnh sửa bản gốc Basel I, Mỹ vẫn đơn phương bổ sung các quy tắc áp dụng riêng cho các ngân hàng của riêng mình do có tính một số vấn đề mới nổi như rủi ro tín dụng liên quan đến chứng khoán hóa. Tuy nhiên, khi Basel 1 được ban hành, hệ thống các quy định quốc gia chỉ được điều chỉnh ở mức tối thiểu cho dù đã nhận thấy tính cấp bách phải thay đổi về mặt quản lý.
Lúc này các ngân hàng đều nhận thấy khoảng cách ngày càng tăng giữa khoa học và thực tiễn QTRR tín dụng song không có một ngân hàng nào đưa ra đề xuất phải sửa đổi toàn diện các yêu cầu về vốn tối thiểu của ngân hàng. Liên quan đến nội dung của Basel I, các nghiên cứu có hai cách tiếp cận. Cách thứ nhất, hệ thống lại nội dung và những sửa đổi của Basel I. Cách thứ hai, các nghiên cứu chỉ đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của Basel I.
Các quy định Basel đã được phát triển để kiểm soát một số loại rủi ro thông qua vốn của ngân hàng. Ủy ban Basel đầu tiên giới thiệu các tiêu chuẩn Basel I vào năm 1975 và đã phải trải qua quá trình chỉnh sửa rất phức tạp. Nghiên cứu của Chorafas (2004) và Sen (2005) đã phân tích các nguyên nhân dẫn đến việc điều chỉnh và bổ sung các tiêu chuẩn, nguyên tắc trong hiệp ước vốn; bao gồm sự phát triển rất nhanh của lĩnh vực tài chính, như sự đổi mới trong các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cùng quá trình hội nhập và tự do hóa thị trường tài chính diến ra ngày càng tăng. Xu hướng phát triển này không chỉ tăng lên trong khu vực và đã diễn ra trên toàn cầu.
Do vậy Chorafas (2004) và Sen (2005) đã khẳng định việc tập trung vào vai trò của vốn và tầm quan trọng của trích lập vốn dự phỏng đã trở thành một vấn đề sống còn đối với các ngân hàng. Nghiên cứu Tulluro (2008), Tô Ánh Dương (2006) đã điểm lại những nội dung chính và những điều chỉnh cơ bản trong Basel I. Các nghiên cứu này phân tích các yếu tố cấu thành vốn và cách phân loại vốn chia theo các cấp. Bên cạnh đó, các trọng số rủi ro và công thức tính vốn tối thiểu cũng được các tác giả bình luận.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những đánh giá về ưu điểm của Basel I trong các nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng. Các nghiên cứu của Makwiramiti (2009), Đinh Xuân Cường (2014), Trần Thị San (2010) đều cho rằng thành tựu cơ bản nhất của Hiệp ước vốn Basel là đã cung cấp cho hệ thống ngân hàng một khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%; đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn; phân chia các loại vốn và định ra tỷ lệ giữa chúng. Bên cạnh các ưu điểm, một số điểm hạn chế của Basel I đã được các nghiên cứu phân tích. Hầu hết các nghiên cứu đều có chung nhận định rằng một trong những điểm hạn chế cơ bản là Basel I không đề cập đến yêu cầu vốn dự phòng cho rủi ro hoạt động - một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng.
Điểm hạn chế này là một trong các nguyên nhân khiến Ủy ban Basel ban hành Basel II vào năm 1999. Sen (2005) cũng đã khẳng định các quy định Basel I áp dụng một cách cứng nhắc một thang điểm hệ số duy nhất cho nhiều loại tài sản, cho nhiều ngân hàng khác nhau.Ví dụ, tất cả các khách hàng không thuộc các nước OECD đều phải chịu mức rủi ro 100%. Cùng với quan điểm này, Gottschalk (2010) đã chỉ ra điểm tồn tại này trong Basel. Có sự phân biệt đối xử rất lớn giữa các nước thuộc OECD và các nước khác.
Basel I cho phép nợ chủ quyền của các nước OECD được gán mức rủi ro 0% còn nợ chủ quyền của các quốc gia khác chịu mức rủi ro lên đến 100%. Do vậy có một khoảng cách rất lớn giữa việc đo lường rủi ro với rủi ro thực tế các ngân hàng của một quốc gia đang phải đối mặt. Thực tế, hoạt động của các ngân hàng chuyển mạnh sang hướng chứng khoán hóa, mua bán các công cụ phái sinh và các sản phẩm tài chính khác. Theo quy định của Basel I, những giao dịch này chỉ cần được ghi chép trong số kinh doanh và được phép không vào sổ ngân hàng và do vậy các ngân hàng không cần dự phòng vốn cho những tài sản có tỉ trọng rủi ro cao.
Đây chính là kẽ hở để các ngân hàng né tránh phải tăng vốn theo các quy tắc về vốn tối thiểu. Bên cạnh đó, một số quy tắc của Basel I chỉ có thể vận dụng trong trường hợp ngân hàng hoạt động đơn lẻ. Những quy tắc này chưa tính đến mối quan hệ phức tạp trong một tập đoàn, giữa ngân hàng mẹ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với các chi nhánh. Những điểm bất cập này đã dẫn đến nhu cầu phải cải tiến lại việc xây dựng các chuẩn mực quốc tế về QTRR và giám sát hoạt động của ngân hàng.
Tuy nhiên những nhược điểm này chưa được các nghiên cứu nhắc đến. Các nghiên cứu liên quan đến Basel II Nỗ lực của Ủy ban Basel vào năm 1999 trong việc đưa ra quy định về vốn dưới dạng ba trụ cột đã được các nghiên cứu của Torulo (2008) và Tô Ánh Dương (2006) đánh giá cao. Trong đó, trụ cột I: yêu cầu về vốn tối thiểu là 8% nhưng điểm khác với Basel I là đã tính đến cả rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Trụ cột II đánh giá hoạt động thanh tra giám sát.
Các nghiên cứu đã nhấn mạnh được các nguyên tắc của trụ cột hai được phân chia cho các giám sát viên và cho các ngân hàng. Trụ cột III liên quan đến kỉ luật thị trường. Do có các mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên khi phân tích 3 trụ cột của Basel II một số nghiên cứu như Tô Ánh Dương (2006), Chu Thị Hương Giang (2009) đã giới thiệu về các mô hình được Ủy ban đề xuất sử dụng khi tính toán các mức rủi ro. Ví dụ phương pháp tiếp cận chuẩn, mô hình xếp hạng nôi bộ cơ bản và nâng cao cho đánh giá rủi ro tín dụng.
Phương pháp chỉ số cơ bản, phương pháp chuẩn, phương pháp nâng cao cho rủi ro hoạt động. Phương pháp chuẩn và mô hình xếp hạng nội bộ được sử dụng cho rủi ro thị trường. Mỗi phương cách tiếp cận đều yêu cầu những mô hình riêng và các yếu tố đầu vào riêng biệt song các nghiên cứu này chưa phân tích kĩ các yếu tố đầu vào cho mô hình. Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu lại đi theo hướng phân tích các điểm cải tiến giữa các Hiệp ước vốn.
So với Basel I, các nghiên cứu của Demirgüç-Kunt (2008), Cihak (2008), Tô Ánh Dương (2006) đều cho rằng Basel II là phiên bản hoàn toàn mới đối với rủi ro hoạt động. Nghiên cứu của Ashi (2010) còn nhận định Basel II đã cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những công cụ giám sát nhạy cảm hơn với một khung giải pháp cho rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản – là những rủi ro mà ngân hàng thường phải đối mặt. Bổ sung thêm điểm mới của Basel II so với Basel I, Sakamaki (2010a) nhận định Basel II có độ linh hoạt cao hơn vì các nhà quản lý quốc gia được chọn lựa một số quyền chọn trong trụ cột I. Sự khác biệt thứ hai giữa Basel I và Basel II là trong các 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quy định mới các ngân hàng có thể áp dụng mô hình riêng của họ để xác định các rủi ro cho họ yêu cầu về vốn, do đó họ không nhất thiết phải sử dụng các mô hình đánh giá rủi ro do Ủy ban Basel xây dựng.
Mô hình đánh giá tính toán rủi ro được xây dựng dựa trên các tài sản của ngân hàng.