CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm về kinh doanh bất động sản và kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai 1. Khái niệm, đặc điểm về kinh doanh bất động sản 1. Khái niệm về kinh doanh bất động sản Trước khi đưa ra khái niệm Kinh doanh bất động sản thì cần phải làm rõ nội hàm của khái niệm bất động sản.
Trong khoa học pháp lý, có nhiều cách phân loại tài sản, người ta thường dựa trên đặc điểm, tính chất vật lý để phân loại tài sản. Theo cách này, tài sản được phân loại thành bất động sản và động sản. Cách phân loại này đã xuất hiện từ thời La Mã cổ đại và ngày nay nó được sử dụng rộng rãi và được ghi nhận thành một chế định ở hầu hết BLDS của các nước theo hệ thống pháp luật thành văn. Theo khái niệm Luật La Mã, BĐS là những đồ vật không thể thay đổi vị trí của mình trong không gian mà không bị tổn hại đến đặc tính.
BĐS cơ bản quan trọng nhất là đất đai và những tài sản gắn chặt với nó (Theo Vũ Anh, 2012). Thưc tế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về BĐS từ các nhà khoa học và cơ quan nghiên cứu. Tuy nhiên, phần lớn các quan điểm đó đều thống nhất BĐS chính là đất đai và những tài sản gắn chặt với đất đai, những tài sản này sẽ không dịch chuyển được. Đối tượng BĐS cũng như tên gọi các đối tượng đó cũng tuỳ thuộc vào tiêu chí xác định của pháp luật từng quốc gia hay có thể hiểu là sự khác nhau về phân loại BĐS.
Đơn cử, pháp luật của Thái Lan quy định, BĐS là đất đai và bao gồm cả những quyền năng có liên quan đến việc sở hữu đất đai. Pháp luật của Indonexia lại quy định, bất cứ tài sản nào có liên quan đến đất đai và đất đai thì đều được coi là BĐS. Pháp luật của Pháp xác định BĐS bao gồm bản thân BĐS có nghĩa là đất đai, 8 9 tài sản sử dụng gắn liền với đất đai. Còn pháp luật đất đại của Đức quy định rõ, BĐS sẽ bao gồm đất đai và những CTXD ở trên đất chứ không phải dưới lòng đất.
Có thể nhận thấy, dù đối tượng, tiêu chí phân loại BĐS như thế nào nhưng pháp luật của các quốc gia cũng đều ghi nhận đất đai là đối tượng chủ yếu, cơ bản của BĐS, CTXD gắn với đất đai và những quyền có liên quan đến đất đai. Ở Việt Nam, xét về bản chất, quan niệm về BĐS cũng hoàn toàn tương tự như các quốc gia trên thế giới nhưng cách quy định lại không đưa ra một định nghĩa trực tiếp liên quan đến BĐS mà dưới dạng liệt kê chỉ ra cụ thể đối tương nào là BĐS quy định tại Điều 107 - BLDS 2015 cụ thể như sau: ''1. Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật. '' Cách quy định một cách cụ thể và chi tiết thông qua việc liệt kê các đối tượng của BĐS cho thấy sự tương đồng về quan điểm và kỹ thuật lập pháp của pháp luật Việt Nam đối với các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, so sánh với chính pháp luật dân sự của Việt Nam lại thấy rõ sự khác biệt đáng kể về tư duy lập pháp. Bộ luật dân sự năm 1995 đưa ra khái niệm BĐS là các tài sản không di, dời được (Theo Điều 181 – BLDS năm 1995). Đây là quy định mang tính hạn chế đối tượng của BĐS và chưa dự liệu trước được các loại BĐS có thể hình thành theo xu hướng phát triển, quy định gò bó BĐS ở tính không di dời được. Đến BLDS năm 2005, 2015 đã khắc phục được sự hạn chế đó và có liệt ra các loại BĐS hiện nay đang tồn tại và có xu hướng có về sau bằng việc quy định gồm những loại BĐS khác.
BĐS là tài sản có thể mang lại nguồn lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh đối tượng này. Mặc dù, một số quốc gia quy định BĐS cụ thể đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu nhưng đất đai và những đối tượng BĐS vẫn có thể được mua, bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua, … Đây là một trong những ngành nghề kinh doanh phát triển khá sôi động cả ở các nước phát triển 9 10 và các nước đang phát triển. Tuy nhiên, với đặc thù đặc biệt của đối tương kinh doanh cũng như sự rủi ro trong quá trình hoạt động, bắt buộc loại hình kinh doanh này cần có sự giám sát, điều chỉnh của pháp luật, đặc biệt phải có sự điều tiết, quản lý của nhà nước. KDBĐS chính là hoạt động mà các chủ thể bỏ vốn đầu tư trở thành chủ sở hữu, chủ sử dụng các đối tượng BĐS để có thể thực hiện các giao dịch dân sự nhằm mục đích sinh lời.
Giá trị tài sản cao, mức độ rủi ro lớn, do đó, chủ thể KDBĐS phải đáp ứng được các điều kiện của pháp luật kể cả pháp luật doanh nghiệp, pháp luật đất đai, pháp luật đầu tư, pháp luật về KDBĐS, … Có những quy định chặt chẽ như vậy mới có thể kiểm soát, quản lý được hoạt động này và đáp ứng được yêu cầu minh bạch, công khai trên thị trường BĐS. Những quy định này được pháp luật Việt Nam ghi nhận tại Luật KDBĐS. Luật KDBĐS lần đầu tiên tại Việt Nam là Luật KDBĐS năm 2006, theo đó, hoạt động KDBĐS là hoạt động bao gồm KDBĐS và kinh doanh dịch vụ BĐS. Và theo quan điểm của Luật KDBĐS năm 2014 thay thế Luật KDBĐS năm 2006, đã cụ thể hoá các hoạt động KDBĐS cụ thể tại Điều 4.
Theo đó, KDBĐS là việc CĐT bỏ vốn đầu tư, tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua BĐS thực hiện các giao dịch bán, cho thuê, cho thuế lại với mực đích sinh lời. Còn kinh doanh dịch vụ BĐS là những hoạt động tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc hỗ trợ việc KDBĐS, TTBĐS như hoạt động môi giới, định giá, giao dịch sàn BĐS, … Như vậy, có thể nhận thấy, theo quy định của Luật KDBĐS năm 2014 (sửa đổi năm 2020) được hợp nhất tại VBHN Luật KDBĐS năm 2020 đã làm rõ nội hàm khái niệm về KDBĐS ở yếu tố đầu tư và thông qua hoạt động kinh doanh để sinh lời. Theo quan điểm của tác giả, có thể đưa ra khái niệm KDBĐS theo nghĩa hẹp như sau: ''KDBĐS là hoạt động xây dựng, mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua BĐS nhằm mục đích sinh lời''. Trong đó, BĐS là đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liến với đất, … 1.
Đặc điểm của kinh doanh bất động sản So với những lĩnh vực kinh doanh khác, KDBĐS có những đặc trưng cơ bản như sau: 10 11 Thứ nhất, KDBĐS là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Với đặc trưng giá trị của BĐS thường có giá trị rất lớn và nhu cầu trao đổi, mua bán nhằm mục đích sinh lời cũng khá cao đồng thời những hoạt động liên quan đến BĐS sẽ kéo theo sự biến động trong các lĩnh vực khác. Do đó, việc đầu tư, KDBĐS đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải đáp ứng được các điều kiện một cách chặt chẽ về cả địa vị pháp lý của chủ thể, về vốn tối thiểu theo quy định của nhà nước cũng như sự đáp ứng về trình độ chuyên môn về lĩnh vực KDBĐS. Thứ hai, đối tượng của hoạt động KDBĐS là một loại hàng hóa đặc biệt.
BĐS là một loại hàng hoá đặc biệt so với các hàng hoá khác trên thị trường bởi thuộc tính không thể di dời hay còn gọi là tính cố đinh, tính cá biệt, tính địa phương. Do vậy, hoạt động KDBĐS cần phải có sự quản lý chặt chẽ và đặc biệt từ phía cơ quan nhà nước (Theo Phạm Uy Vũ, 2018). Thứ ba, KDBĐS đòi hỏi nhu cầu về vốn rất lớn. CĐT và những chủ thể KDBĐS khác phải đáp ứng được yêu cầu về vốn lớn xuất phát từ các lý do.
Thứ nhất, đối tượng kinh doanh là BĐS có giá trị lớn, cần có một số vốn lớn mới có thể đầu tư. Thứ hai, những yêu cầu liên quan trong quá trình KDBĐS có thể thực hiện trong thời gian dài, do đó trong một số hoạt động KDBĐS sẽ thu hồi vốn khá chậm do vây, đây là ngành nghề đòi hỏi phải có số vốn lớn mới có thể duy trì hoạt động để đạt được mục đích vừa sinh lời vừa đáp ứng được yêu cầu của pháp luật. Thứ tư, hoạt động KDBĐS là hoạt động nhằm mục đích sinh lời nhưng mạo hiểm. Xuất phát từ nhu cầu thiết yếu của khách hàng, sự biến động của thị trường BĐS nên hoạt động này thường tạo ra lợi nhuận cao.
Các CĐT khi tham gia hoạt đông KDBĐS đều mong muốn tối đa hoá lợi nhuận. Đây là hoạt động kinh doanh thường có lợi nhuận lớn nhưng rủi ro cũng nhiều. Có những rủi ro mà CĐT cũng khó có thể lường trước được như rủi ro về lạm phát, do thay đổi cung – cầu, rủi ro về chuyển đổi thành tiền, về lãi suất, về thay đổi chính sách pháp luật, hay do thiên tai, chiến tranh,. Để ngăn chặn được những rủi ro này, đòi hỏi CĐT phải nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường, địa thế, các yếu tố về dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội tại nơi đầu tư dự án.
Thêm vào đó, Nhà nước cũng có vai trò lớn trong việc hạn chế những rủi 11 12 ro trong KDBĐS cho doanh nghiệp bằng cách ban hành một hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, thống nhất và ổn định, góp phần tạo lập một thị trường BĐS minh bạch. Thứ năm, hoạt động KDBĐS được thực hiện dưới nhiều hình thức. Xuất phát từ thuộc tính của BĐS, từ đa dạng mục đích sử dụng loại tài sản nay cũng như sự đa dạng các loại hình BĐS dẫn đến hoạt động KDBĐS vì mục đích sinh lời này được thực hiện dưới nhiều hình thức nhất định. BĐS có thể được mua bán, được cho thuê, cho thuê mua, được chuyển nhượng…( Theo 1.
Khái niệm, đặc điểm kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai 1. Khái niệm kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai Trước khi tiếp cận khái niệm KDBĐS HTTTL cần làm rõ nội hàm khái niệm về BĐS HTTTL. Để hiểu thế nào là BĐS HTTTL trước hết cần hiểu về khái niệm tài sản HTTTL.