Luận văn thực trạng kiến thức thực hành phòng chống bệnh tả của người nội trợ tại các hộ gia đình phường văn chương quận đống đa thành phố hà nội năm 2009

Luận văn phân tích kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tả của người nội trợ tại phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội năm 2009.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2009

92
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

6. CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: CÂY VẤN ĐỀ

Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn

Phụ lục 3: Danh sách cán bộ tham gia nghiên cứu

Phụ lục 4: Kế hoạch nghiên cứu

Phụ lục 5: Dự trù kinh phí nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiến thức phòng chống bệnh tả tại phường Văn Chương

Bệnh tả là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có thể gây ra dịch lớn nếu không được phòng ngừa kịp thời. Tại phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội, việc nâng cao kiến thức về bệnh tả cho người dân, đặc biệt là người nội trợ, là rất cần thiết. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tả của người nội trợ trong năm 2009.

1.1. Tình hình bệnh tả tại Việt Nam và phường Văn Chương

Bệnh tả đã xuất hiện tại Việt Nam từ lâu và có nhiều đợt dịch lớn. Tại phường Văn Chương, trong giai đoạn 2007-2008, đã ghi nhận nhiều ca mắc bệnh tả, cho thấy sự cần thiết phải nâng cao kiến thức phòng chống bệnh tả cho cộng đồng.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu về kiến thức phòng chống bệnh tả

Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tả của người nội trợ, từ đó xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành này.

II. Vấn đề và thách thức trong phòng chống bệnh tả

Mặc dù có nhiều biện pháp phòng ngừa, nhưng bệnh tả vẫn là một thách thức lớn tại phường Văn Chương. Nhiều người dân chưa có đủ kiến thức về bệnh tả và các biện pháp phòng ngừa, dẫn đến nguy cơ lây lan bệnh. Việc thiếu thông tin và hiểu biết về triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh là một trong những nguyên nhân chính.

2.1. Nguyên nhân gây bệnh tả và triệu chứng

Bệnh tả chủ yếu lây qua nước và thực phẩm ô nhiễm. Triệu chứng điển hình bao gồm tiêu chảy nặng và mất nước nhanh chóng. Việc nhận biết sớm triệu chứng là rất quan trọng để điều trị kịp thời.

2.2. Tác hại của bệnh tả đối với sức khỏe cộng đồng

Bệnh tả không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn gây ra gánh nặng cho hệ thống y tế. Tỷ lệ tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời, đặc biệt là ở trẻ em và người già.

III. Phương pháp nghiên cứu về kiến thức phòng chống bệnh tả

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp khảo sát cắt ngang, phỏng vấn trực tiếp 282 người nội trợ tại phường Văn Chương. Bộ câu hỏi được thiết kế để thu thập thông tin về kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tả.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Đối tượng nghiên cứu là người nội trợ từ 18 đến 60 tuổi, có khả năng hợp tác. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được áp dụng để đảm bảo tính đại diện.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

Số liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp và phân tích bằng phần mềm SPSS. Kết quả sẽ giúp đánh giá thực trạng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tả của người nội trợ.

IV. Kết quả nghiên cứu về kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tả

Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng hợp kiến thức về phòng chống bệnh tả đạt 58,9%, trong khi thực hành đạt 67%. Nhiều người nội trợ vẫn thiếu kiến thức về triệu chứng và biện pháp phòng ngừa bệnh tả.

4.1. Kiến thức về triệu chứng và nguyên nhân bệnh tả

Đối tượng nghiên cứu có kiến thức khá tốt về nguyên nhân gây bệnh nhưng thiếu hiểu biết về triệu chứng và nguy cơ mắc bệnh. Điều này cần được cải thiện thông qua các chương trình giáo dục sức khỏe.

4.2. Thực hành vệ sinh và an toàn thực phẩm

Thực hành vệ sinh cá nhân và an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế. Chỉ 64,5% người nội trợ rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, cho thấy cần tăng cường tuyên truyền về vệ sinh thực phẩm.

V. Kết luận và khuyến nghị về phòng chống bệnh tả

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tả của người nội trợ tại phường Văn Chương còn nhiều hạn chế. Cần có các biện pháp giáo dục sức khỏe hiệu quả để nâng cao nhận thức và thực hành của cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khỏe là yếu tố quan trọng trong việc phòng chống bệnh tả. Cần tổ chức các buổi tuyên truyền, hội thảo để nâng cao kiến thức về bệnh tả cho người dân.

5.2. Đề xuất các biện pháp phòng chống bệnh tả

Cần tăng cường các biện pháp như cung cấp nước sạch, cải thiện vệ sinh môi trường và thực phẩm. Đồng thời, khuyến khích người dân thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

14/07/2025
Luận văn thực trạng kiến thức thực hành phòng chống bệnh tả của người nội trợ tại các hộ gia đình phường văn chương quận đống đa thành phố hà nội năm 2009

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử bệnh tả trên thế giói Bệnh tả xuất hiện từ xa xua tại đồng bằng sông Hằng cùa các tiểu lục địa Ấn Độ. Các vụ dịch tả đầu tiên được ghi nhận vào cuối thế kỷ 15. Từ thế kỷ 19, những đợt đại dịch tả lan tràn tới nhiều vùng trên thế giới từ Nam Á theo những con đường buôn bán, hành hương và di tản.

Trong thời gian có đại dịch, nhiều vụ dịch lớn có tỷ lệ từ vong cao đã xảy ra khắp các thành thị châu Âu, châu Mỹ. Năm 1849, một cuộc điều tra nổi tiếng của Jonh Snow ở phố Broad (Luân Đôn) đã chứng minh bệnh tả truyền qua nước [12]. Các vụ đại dịch này đều bắt nguồn từ châu Á, sau đó lan tới các châu lục khác, gây dịch ở nhiều nước, trong nhiều năm. Trừ đại dịch tả lần thứ 7 bắt nguồn từ đào Sulawesi (Indonesia), 6 đại dịch tả còn lại đều bắt nguồn từ vùng châu thổ sông Hằng, Án Độ [31].

Qua các vụ đại dịch, có một số ghi nhận đáng chú ý về dịch tễ học, sinh bệnh học, điều trị học và phòng chống bệnh tả được tóm tắt như sau: Vụ đại dịch 1: Lần đầu tiên được ghi nhận bệnh tả xảy ra dưới dạng một đại dịch. Vụ dịch này bắt đầu vào năm 1817 tại khu vực châu thổ sông Hằng, sau đó lan ra nhiều nước thuộc châu Á và châu Phi [36], Vụ đại dịch 2: Lần đầu tiên bệnh tả gây dịch ở Bắc Mỹ năm 1832 tại khu vực Quebec (Canada), New York, Philadelphia, Washington. Trong vụ đại dịch nảy, đầu những năm 1830, o Shaughnessy là người đầu tiên chứng minh phân của bệnh nhân bị bệnh tả chứa kiềm và có nồng độ điện giải rất cao. Sau phát hiện có ý nghĩa này, Latta đã điều trị thành công một số bệnh nhân tả mất nước nặng bằng phương pháp tiêm tĩnh mạch dung dịch chứa muối và điện giải [31].

Vụ đại dịch 3: Dịch tả lan tới nước Anh. Tại Luân Đôn John Snow có phát hiện quan trọng về dịch tễ học, bệnh tả lan truyền theo đường nước sinh hoạt bị ô nhiễm và từ đó đã đề ra biện pháp chống dịch hiệu quả là loại bò nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh. 6 Vụ đại dịch 4: Dịch tả hoành hành dữ dội ở New Orleans và các thành phổ, thị trấn dọc theo triền sông Mississippi. Missouri và Ohio cùa nước Mỹ.

Vụ đại dịch 5: Dịch tả lan tới vùng Trung Cận Đông, sau đó lan tới Nam Mỹ, gây ra các vụ dịch lớn với tỷ lệ từ vong cao ở các nước Argentina, Chilê và Peru. Tại Ai cập và Calcutta (Án Độ), Robert Koch đã phân lập được vi khuẩn tả từ phân của bệnh nhân bị bệnh tả. Chỉ một năm sau Koch phân lập được vi khuẩn tả, Ferran là người đầu tiên đã gây miễn dịch dự phòng bệnh tả bằng vaccin [31]. Vụ đại dịch 6: Gây ra các vụ dịch lớn ở vùng Trung Cận Đông và bán đảo Ban Căng.

Từ năm 1921 - 1961, ngoài một vụ dịch tả lớn xảy ra ở Ai Cập năm 1947 với 32.978 trường hợp mắc tả, tử vong 20.472 người, dịch tả chủ yếu lưu hành ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á và châu Á. Trong 6 vụ dịch kể trên, tác nhân gày bệnh tả là V. cholera 01, typ sinh học cổ điển do Pacini mô tả đầu tiên năm 1854 và được nhà vi trùng học người Đức là Robert Koch khẳng định lại năm 1883. Vụ đại dịch 7: Tác nhân gây bệnh là v.cholerae 01, typ sinh học El Tor, do Goschlich lần đầu tiên phân lập được năm 1905, theo trình tự địa lý và thời gian, đại dịch tả lần thứ 7 có thể được chia làm 4 giai đoạn [31], [33]: Giai đoạn 1 (1961 - 1962): Dịch tả khu trú ở các đảo thuộc Indonesia và các nước Đông Nam Á (Philippine, Đài Loan) với tổng số mắc là 13.393 người, tử vong 1.

Giai đoạn 2 (1963 - 1969): Dịch tả lan tới Malaysia rồi theo đường bộ tràn vào các nước khác trong khu vực. Chì trong thời gian ngắn dịch xuất hiện ở nhiều nước châu Á: Án Độ (1964), Pakistan, I - ran, Liên Xô cũ (1965), I - rẳc (1966), Việt Nam bắt đầu có dịch tả El Tor vào tháng 1 năm 1964 [12], Giai đoạn 3 (1970- 1990): Giai đoạn này đánh dấu bằng các vụ đại dịch lớn xảy ra tại khu vực Trung Đông, Tây Phi năm 1970. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong năm này 36 nước có dịch. Năm 1970 - 1971, ở Tây Phi có hon 400.000 7 trường hợp mắc tả, tác nhân gây dịch là V.

choỉerae El Tor. Điều đáng chú ý là tại Li Băng, Syri chủng gây dịch là El Tor Ogawa, trong khi các nước kề cận như Israel, Jordan và Ả rập - Xê út, chủng gây dịch là El Tor Inaba. Dịch tả trong những năm 80 của thế kỷ 20 chủ yểu xảy ra ở châu Á và châu Phi. Hàng năm số nước thông báo có tả ở châu Phi dao động từ 11 - 21 nước, tỷ lệ tử vong từ 4% đến 12%.

Từ năm 1982 — 1990, khu vực châu Phi có tỷ lệ mắc bệnh tả cao nhất thế giới [33]. Tác nhân gây dịch là V. cholera 01 typ sinh học El Tor. Dịch xuất hiện đầu tiên ở Pê - ru tháng 1/1991 rồi lan sang các nước lân cận tới Mê - hi - cô.

Trong vòng 5 năm đầu (1991 - 1995) ở Nam Mỹ có hon một triệu người mắc bệnh tả, hơn 11 nghìn người tử vong. Năm 1992 có 21/23 nước thuộc Trung Mỹ và Nam Mỹ có bệnh tả. sổ bệnh nhân mắc tả thuộc châu Mỹ La Tinh chiếm 50% số bệnh nhân bệnh tả trên toàn thế giới. Sự kiện thứ 2: Năm 1992 - 1993 bệnh tả xuất hiện ở Ấn Độ và Bangladesh chủng gây dịch hoàn toàn mới v.cholerae 0139 (Bengal), cỏ tổc độ lan truyền nhanh.

Chủng sinh độc tả này có tính kháng nguyên khác với kháng nguyên của v.choỉerae 01 [17], [34], [32] do vậy khi gây dịch ở những vùng lưu hành dịch tả 01 thì cả người lớn và trẻ em đều có tỷ lệ mắc bệnh cao [34], Đáng lưu ý là dịch tả 0139 có tốc độ lan truyền nhanh. Tính đen năm 1994 có 11 nước châu Á thông báo cỏ dịch tả v. Án Độ, Bangladesh, Nepan, Pakistan, Sri-Lanka, Trung Quổc, Kazakstan, Afghanistan, Malaysia. Miến Điện và Thái Lan [29].

Một số nước khác (như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đan Mạch) có thông báo về các trường hợp mắc tả v.cholerae 0139 ngoại nhập. Theo một sổ chuyên gia, nếu nhóm huyết thanh mới này tiếp tục gây dịch ở các nước khác, có thể dẫn đen đại dịch tả lần thứ 8. 8 Sự kiện thứ 3: Dịch tả tiếp tục hoành hành ở Châu Phi trong các trại tỵ nạn, ờ những vùng xảy ra lụt lội, nơi tập trung đông dân cư. trình độ vệ sinh thấp kém, thiếu nước sinh hoạt và thực phẩm [30].

Năm 1991, 20 nước châu Phi thông báo có dịch tả với 153.367 người mắc, tử vong 13. Đỉnh cao của dịch tả ờ châu Phi là vào năm 1994: 28 nước thông báo có dịch với 161.963 người mắc bệnh, tỳ lệ tử vong 13%. Tháng 7/1994 xảy ra một vụ dịch tả thảm khốc tại trại tỵ nạn ở U-gan-đa với 58.057 trường hợp mắc.820 người (tính riêng 35.000 bệnh nhân tả điều trị trong các cơ sở y tế, tỷ lệ tử vong lên tới 22%). Nãm 1996, số người mắc tả ở châu Phi chiếm 60% tổng số các trường hợp mẳc tả trên toàn the giới [12].

Tóm lại, trong những năm cuối thế kỷ 20 bệnh tả vẫn xảy ra nghiêm trọng. Dịch tả xảy ra ở tất cả các châu lục, tập trung chủ yếu ở những nước đang phát triển. Mặc dù y học có những hiểu biết đáng kể về sinh bệnh học và điều trị bệnh tả nhưng tỷ lệ tử vong do bệnh tả vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở khu vực châu Phi 1. Tình hình bệnh dịch tả ở Việt Nam Bệnh tả là nguyên nhân gây tiêu chảy quan trọng ở Việt Nam từ hơn một thế kỷ qua với 2 triệu trường hợp mắc bệnh tả được thông báo năm 1850.

Năm 1885, một vụ dịch tả xảy ra trong các đơn vị quân đội Pháp, tỷ lệ tử vong lên tới 50%. Từ năm 1910 đến 1930, hàng nãm số bệnh nhân mắc bệnh tả được thông báo dao động từ 5. Năm 1937 - 1938 dịch tả từ Hồng Kông theo đường biển xâm nhập vào các tỉnh miền Bắc là Hải Phòng, Móng Cái. Từ đó dịch lan theo đường sắt và đường bộ tới nhiều tỉnh đồng bang Bắc Bộ và Trung Bộ, số mắc lên tới 20.687 người, trong đó sổ người chết là 14.992 người (tỷ lệ tử vong 70%) [12], Bệnh tả do V.

cholera typ sinh học El Tor đầu tiên xuất hiện ở miền Nam năm 1964 với 20.009 người mắc bệnh, trong đó 821 người tử vong. Từ đó đến nay, ở miền Trung và miền Nam, bệnh tả xảy ra dưới dạng dịch lưu hành địa phương. Hàng năm có hàng trăm bệnh nhân bị bệnh tả được thông báo. Năm 1994, sau hàng chục năm vắng 9 bóng, bệnh tả xuất hiện ở khu vức Tây Nguyên (gồm các tỉnh Đắc Lấc.

Lâm Đồng và Gia Lai) với 1.459 bệnh nhân tả được thông báo [12]. Sau ngày miền Nam giải phóng năm 1975, việc thông thương giữa 2 miền Nam - Bắc bàng đường bộ, đường thủy, đường hàng không dễ dàng, do đó bệnh tả đã lây lan ra miền Bắc. Mặc dù từ năm 1938 đến năm 1976 là thời gian không có dịch tả ở miền Bắc.cholerae 01 typ sinh học EL Tor lần đầu tiên xuất hiện ở Hải Phòng và Quảng Ninh năm 1976. Từ đỏ đến nay, ở miền Bắc rải rác vẫn còn các vụ dịch tả xâm nhập tù miền Nam ra.

Tháng 9 năm 1995, tại Hải Phòng xảy ra một vụ dịch tả với 275 trường hợp mắc bệnh tả được thông báo. Tại Quảng Ninh năm 1996 cũng xảy ra một vụ dịch tả. Tuy nhiên, vẫn chưa có bằng chứng khẳng định là bệnh tả lưu hành địa phương ở miền Bắc [12]. Dịch tả hiện nay vẫn là gánh nặng đối với ngành y tể và toàn xã hội.

Năm 1993 dịch xảy ra ở 21 tỉnh thành với 3.460 người mắc bệnh. Năm 1994 dịch xảy ra ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam và Tây Nguyên với 4.123 trường hợp bị bệnh. Năm 1995, có 29 tỉnh/ thành phổ báo cáo có bệnh nhân mắc tả với.088 trường hợp mắc bệnh tả. Năm 1996 cả nước cỏ 603 trường hợp mắc bệnh tả El Tor xảy ra ở 19 tỉnh/ thành phố.

Ba tháng đầu năm 1999, dịch tả xảy ra tại 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ với so mac là 358 người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tả của người nội trợ tại phường Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội (2009)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp phòng ngừa bệnh tả, một căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm trong cộng đồng, đặc biệt là đối với người nội trợ. Qua đó, người đọc sẽ hiểu rõ hơn về cách thức lây lan của bệnh tả và các biện pháp hiệu quả để bảo vệ sức khỏe gia đình.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ đặc điểm dịch tễ học sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại hai quận huyện hà nội, nơi cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe của người cao tuổi, hoặc tài liệu Thực trạng sử dụng thuốc lá ở người bệnh tâm thần phân liệt điều trị nội trú tại hà nội, giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khỏe tâm thần và thói quen sử dụng thuốc lá trong cộng đồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe hiện nay.