CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử bệnh tả trên thế giói Bệnh tả xuất hiện từ xa xua tại đồng bằng sông Hằng cùa các tiểu lục địa Ấn Độ. Các vụ dịch tả đầu tiên được ghi nhận vào cuối thế kỷ 15. Từ thế kỷ 19, những đợt đại dịch tả lan tràn tới nhiều vùng trên thế giới từ Nam Á theo những con đường buôn bán, hành hương và di tản.
Trong thời gian có đại dịch, nhiều vụ dịch lớn có tỷ lệ từ vong cao đã xảy ra khắp các thành thị châu Âu, châu Mỹ. Năm 1849, một cuộc điều tra nổi tiếng của Jonh Snow ở phố Broad (Luân Đôn) đã chứng minh bệnh tả truyền qua nước [12]. Các vụ đại dịch này đều bắt nguồn từ châu Á, sau đó lan tới các châu lục khác, gây dịch ở nhiều nước, trong nhiều năm. Trừ đại dịch tả lần thứ 7 bắt nguồn từ đào Sulawesi (Indonesia), 6 đại dịch tả còn lại đều bắt nguồn từ vùng châu thổ sông Hằng, Án Độ [31].
Qua các vụ đại dịch, có một số ghi nhận đáng chú ý về dịch tễ học, sinh bệnh học, điều trị học và phòng chống bệnh tả được tóm tắt như sau: Vụ đại dịch 1: Lần đầu tiên được ghi nhận bệnh tả xảy ra dưới dạng một đại dịch. Vụ dịch này bắt đầu vào năm 1817 tại khu vực châu thổ sông Hằng, sau đó lan ra nhiều nước thuộc châu Á và châu Phi [36], Vụ đại dịch 2: Lần đầu tiên bệnh tả gây dịch ở Bắc Mỹ năm 1832 tại khu vực Quebec (Canada), New York, Philadelphia, Washington. Trong vụ đại dịch nảy, đầu những năm 1830, o Shaughnessy là người đầu tiên chứng minh phân của bệnh nhân bị bệnh tả chứa kiềm và có nồng độ điện giải rất cao. Sau phát hiện có ý nghĩa này, Latta đã điều trị thành công một số bệnh nhân tả mất nước nặng bằng phương pháp tiêm tĩnh mạch dung dịch chứa muối và điện giải [31].
Vụ đại dịch 3: Dịch tả lan tới nước Anh. Tại Luân Đôn John Snow có phát hiện quan trọng về dịch tễ học, bệnh tả lan truyền theo đường nước sinh hoạt bị ô nhiễm và từ đó đã đề ra biện pháp chống dịch hiệu quả là loại bò nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh. 6 Vụ đại dịch 4: Dịch tả hoành hành dữ dội ở New Orleans và các thành phổ, thị trấn dọc theo triền sông Mississippi. Missouri và Ohio cùa nước Mỹ.
Vụ đại dịch 5: Dịch tả lan tới vùng Trung Cận Đông, sau đó lan tới Nam Mỹ, gây ra các vụ dịch lớn với tỷ lệ từ vong cao ở các nước Argentina, Chilê và Peru. Tại Ai cập và Calcutta (Án Độ), Robert Koch đã phân lập được vi khuẩn tả từ phân của bệnh nhân bị bệnh tả. Chỉ một năm sau Koch phân lập được vi khuẩn tả, Ferran là người đầu tiên đã gây miễn dịch dự phòng bệnh tả bằng vaccin [31]. Vụ đại dịch 6: Gây ra các vụ dịch lớn ở vùng Trung Cận Đông và bán đảo Ban Căng.
Từ năm 1921 - 1961, ngoài một vụ dịch tả lớn xảy ra ở Ai Cập năm 1947 với 32.978 trường hợp mắc tả, tử vong 20.472 người, dịch tả chủ yếu lưu hành ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á và châu Á. Trong 6 vụ dịch kể trên, tác nhân gày bệnh tả là V. cholera 01, typ sinh học cổ điển do Pacini mô tả đầu tiên năm 1854 và được nhà vi trùng học người Đức là Robert Koch khẳng định lại năm 1883. Vụ đại dịch 7: Tác nhân gây bệnh là v.cholerae 01, typ sinh học El Tor, do Goschlich lần đầu tiên phân lập được năm 1905, theo trình tự địa lý và thời gian, đại dịch tả lần thứ 7 có thể được chia làm 4 giai đoạn [31], [33]: Giai đoạn 1 (1961 - 1962): Dịch tả khu trú ở các đảo thuộc Indonesia và các nước Đông Nam Á (Philippine, Đài Loan) với tổng số mắc là 13.393 người, tử vong 1.
Giai đoạn 2 (1963 - 1969): Dịch tả lan tới Malaysia rồi theo đường bộ tràn vào các nước khác trong khu vực. Chì trong thời gian ngắn dịch xuất hiện ở nhiều nước châu Á: Án Độ (1964), Pakistan, I - ran, Liên Xô cũ (1965), I - rẳc (1966), Việt Nam bắt đầu có dịch tả El Tor vào tháng 1 năm 1964 [12], Giai đoạn 3 (1970- 1990): Giai đoạn này đánh dấu bằng các vụ đại dịch lớn xảy ra tại khu vực Trung Đông, Tây Phi năm 1970. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong năm này 36 nước có dịch. Năm 1970 - 1971, ở Tây Phi có hon 400.000 7 trường hợp mắc tả, tác nhân gây dịch là V.
choỉerae El Tor. Điều đáng chú ý là tại Li Băng, Syri chủng gây dịch là El Tor Ogawa, trong khi các nước kề cận như Israel, Jordan và Ả rập - Xê út, chủng gây dịch là El Tor Inaba. Dịch tả trong những năm 80 của thế kỷ 20 chủ yểu xảy ra ở châu Á và châu Phi. Hàng năm số nước thông báo có tả ở châu Phi dao động từ 11 - 21 nước, tỷ lệ tử vong từ 4% đến 12%.
Từ năm 1982 — 1990, khu vực châu Phi có tỷ lệ mắc bệnh tả cao nhất thế giới [33]. Tác nhân gây dịch là V. cholera 01 typ sinh học El Tor. Dịch xuất hiện đầu tiên ở Pê - ru tháng 1/1991 rồi lan sang các nước lân cận tới Mê - hi - cô.
Trong vòng 5 năm đầu (1991 - 1995) ở Nam Mỹ có hon một triệu người mắc bệnh tả, hơn 11 nghìn người tử vong. Năm 1992 có 21/23 nước thuộc Trung Mỹ và Nam Mỹ có bệnh tả. sổ bệnh nhân mắc tả thuộc châu Mỹ La Tinh chiếm 50% số bệnh nhân bệnh tả trên toàn thế giới. Sự kiện thứ 2: Năm 1992 - 1993 bệnh tả xuất hiện ở Ấn Độ và Bangladesh chủng gây dịch hoàn toàn mới v.cholerae 0139 (Bengal), cỏ tổc độ lan truyền nhanh.
Chủng sinh độc tả này có tính kháng nguyên khác với kháng nguyên của v.choỉerae 01 [17], [34], [32] do vậy khi gây dịch ở những vùng lưu hành dịch tả 01 thì cả người lớn và trẻ em đều có tỷ lệ mắc bệnh cao [34], Đáng lưu ý là dịch tả 0139 có tốc độ lan truyền nhanh. Tính đen năm 1994 có 11 nước châu Á thông báo cỏ dịch tả v. Án Độ, Bangladesh, Nepan, Pakistan, Sri-Lanka, Trung Quổc, Kazakstan, Afghanistan, Malaysia. Miến Điện và Thái Lan [29].
Một số nước khác (như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đan Mạch) có thông báo về các trường hợp mắc tả v.cholerae 0139 ngoại nhập. Theo một sổ chuyên gia, nếu nhóm huyết thanh mới này tiếp tục gây dịch ở các nước khác, có thể dẫn đen đại dịch tả lần thứ 8. 8 Sự kiện thứ 3: Dịch tả tiếp tục hoành hành ở Châu Phi trong các trại tỵ nạn, ờ những vùng xảy ra lụt lội, nơi tập trung đông dân cư. trình độ vệ sinh thấp kém, thiếu nước sinh hoạt và thực phẩm [30].
Năm 1991, 20 nước châu Phi thông báo có dịch tả với 153.367 người mắc, tử vong 13. Đỉnh cao của dịch tả ờ châu Phi là vào năm 1994: 28 nước thông báo có dịch với 161.963 người mắc bệnh, tỳ lệ tử vong 13%. Tháng 7/1994 xảy ra một vụ dịch tả thảm khốc tại trại tỵ nạn ở U-gan-đa với 58.057 trường hợp mắc.820 người (tính riêng 35.000 bệnh nhân tả điều trị trong các cơ sở y tế, tỷ lệ tử vong lên tới 22%). Nãm 1996, số người mắc tả ở châu Phi chiếm 60% tổng số các trường hợp mẳc tả trên toàn the giới [12].
Tóm lại, trong những năm cuối thế kỷ 20 bệnh tả vẫn xảy ra nghiêm trọng. Dịch tả xảy ra ở tất cả các châu lục, tập trung chủ yếu ở những nước đang phát triển. Mặc dù y học có những hiểu biết đáng kể về sinh bệnh học và điều trị bệnh tả nhưng tỷ lệ tử vong do bệnh tả vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở khu vực châu Phi 1. Tình hình bệnh dịch tả ở Việt Nam Bệnh tả là nguyên nhân gây tiêu chảy quan trọng ở Việt Nam từ hơn một thế kỷ qua với 2 triệu trường hợp mắc bệnh tả được thông báo năm 1850.
Năm 1885, một vụ dịch tả xảy ra trong các đơn vị quân đội Pháp, tỷ lệ tử vong lên tới 50%. Từ năm 1910 đến 1930, hàng nãm số bệnh nhân mắc bệnh tả được thông báo dao động từ 5. Năm 1937 - 1938 dịch tả từ Hồng Kông theo đường biển xâm nhập vào các tỉnh miền Bắc là Hải Phòng, Móng Cái. Từ đó dịch lan theo đường sắt và đường bộ tới nhiều tỉnh đồng bang Bắc Bộ và Trung Bộ, số mắc lên tới 20.687 người, trong đó sổ người chết là 14.992 người (tỷ lệ tử vong 70%) [12], Bệnh tả do V.
cholera typ sinh học El Tor đầu tiên xuất hiện ở miền Nam năm 1964 với 20.009 người mắc bệnh, trong đó 821 người tử vong. Từ đó đến nay, ở miền Trung và miền Nam, bệnh tả xảy ra dưới dạng dịch lưu hành địa phương. Hàng năm có hàng trăm bệnh nhân bị bệnh tả được thông báo. Năm 1994, sau hàng chục năm vắng 9 bóng, bệnh tả xuất hiện ở khu vức Tây Nguyên (gồm các tỉnh Đắc Lấc.
Lâm Đồng và Gia Lai) với 1.459 bệnh nhân tả được thông báo [12]. Sau ngày miền Nam giải phóng năm 1975, việc thông thương giữa 2 miền Nam - Bắc bàng đường bộ, đường thủy, đường hàng không dễ dàng, do đó bệnh tả đã lây lan ra miền Bắc. Mặc dù từ năm 1938 đến năm 1976 là thời gian không có dịch tả ở miền Bắc.cholerae 01 typ sinh học EL Tor lần đầu tiên xuất hiện ở Hải Phòng và Quảng Ninh năm 1976. Từ đỏ đến nay, ở miền Bắc rải rác vẫn còn các vụ dịch tả xâm nhập tù miền Nam ra.
Tháng 9 năm 1995, tại Hải Phòng xảy ra một vụ dịch tả với 275 trường hợp mắc bệnh tả được thông báo. Tại Quảng Ninh năm 1996 cũng xảy ra một vụ dịch tả. Tuy nhiên, vẫn chưa có bằng chứng khẳng định là bệnh tả lưu hành địa phương ở miền Bắc [12]. Dịch tả hiện nay vẫn là gánh nặng đối với ngành y tể và toàn xã hội.
Năm 1993 dịch xảy ra ở 21 tỉnh thành với 3.460 người mắc bệnh. Năm 1994 dịch xảy ra ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam và Tây Nguyên với 4.123 trường hợp bị bệnh. Năm 1995, có 29 tỉnh/ thành phổ báo cáo có bệnh nhân mắc tả với.088 trường hợp mắc bệnh tả. Năm 1996 cả nước cỏ 603 trường hợp mắc bệnh tả El Tor xảy ra ở 19 tỉnh/ thành phố.
Ba tháng đầu năm 1999, dịch tả xảy ra tại 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ với so mac là 358 người.