CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về vi rút cúm và bệnh cúm trên người và gia cầm 1. Đại cương về vi rút cúm gia cầm: 1. Vi rút cúm: Influenza A virus, loại virus gây bệnh cúm gia cầm.
Ảnh chụp những tiểu phần virus được nhuộm âm tính trên kính hiển vi điện từ truyền qua. Erskine Palmer, Centers for Disease Control and Prevention Public Health Image Library) [36]. Cúm gà hay cúm gia cầm là một loại bệnh cúm do virus gây ra cho các loài gia cầm (hay chim), và có thể xâm nhiễm một số loài động vật có vú. Virus này được phát hiện lần đầu tiên là tại Ý vào đầu thập niên 1900 và giờ đây phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới.
Virus cúm gà hay còn gọi là avian influenza (AI) thuộc nhóm virus cúm A của họ Orthomyxociridae. Đây là những retrovirus, mang vật liệu di truyền là những đoạn phân tử RNA, sợi đối mã (sợi âm tính) [36], Vi rút cúm thuộc nhóm Orthomyxoviridae được phân thành 3 týp A, B và C. Trong 3 týp vi rút cúm thì chỉ có virút cúm týp A gây bệnh cho cả người và động vật và thường gây đại dịch với chu kỳ 10 - 15 năm, còn vi rút cúm týp B thường chỉ gây ra các vụ dịch nhỏ với chu kỳ 5 - 7 năm. Riêng vi rút cúm týp c chi gây bệnh nhẹ và tản mát.
Vi rút cúm týp B và c chỉ có thể gây bệnh trên người [21], 7 1. Đưòìig lây nhiễm cúm gia cầm: Các chủng của virus cúm gà có thể xâm nhiễm vào nhiều loại động vật khác nhau như chim, lợn, ngựa, hải cẩu, cá voi, hổ và con người. Bệnh cúm gà có thể gây nhiễm trên thức ăn, nước, dụng cụ và quần áo. Tuy nhiên, hiện giờ chưa có bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy virus cúm gà có thể sống sót trong thức ăn đã được nấu chín [36] 1.
Các biến chủng virus cúm gia cầm Vi rút cúm týp A được chia thành các phân nhóm dựa vào 2 kháng nguyên bề mặt là kháng nguyên ngưng kết hồng cầu H (Haemaglutinin) và men N (Neuraminidase) nằm trên lớp vỏ protein bao bọc lõi virus. Cho đến nay người ta đã phát hiện ra 16 loại kháng nguyên H (HI-HI6) và 9 loại kháng nguyên N (N1-N9), những cách tổ hợp khác nhau của hai loại kháng nguyên sẽ này có khả năng tạo ra 144 phân nhóm khác nhau của virút cúm A. Ngoài ra, mỗi phân nhóm virus trên lại có thể chia làm 2 phân nhóm xâm nhiễm: đặc tính xâm nhiễm thấp (LPAI) và cao (HPAI), điều này phụ thuộc vào độc tính của virus đổi với các quần thể gia cầm [36]. Các vi rút cúm thường có tính biến đổi rất cao, đặc biệt là vi rút cúm týp A.
Trong quá trình lưu hành của virus cúm A, hai kháng nguyên H và N luôn luôn biến đôi. Những biến đổi này sẽ tạo ra các phân týp vi rút cúm hoàn toàn mới, các phân týp này thường gây đại dịch và được cấu tạo từ sự tái tổ hợp kháng nguyên giữa vi rút cúm vịt, lợn và người mà không thể dự đoán trước được [36]. Tất cả 16 phân nhóm H và 9 phân nhóm N của các vi rút cúm được biết là đều gây bệnh ở thuỷ cầm hoang dại. Tuy nhiên cho tới nay tất cả các vụ dịch cúm gia cầm đều do vi rút phân nhóm Hl, H2, H3, H5, H7 và H9 gây ra, trong đó các vi rút thuộc phân nhóm Hl, H2, H3, H5 và H7 có thể có cả chủng độc lực thấp và chủng độc lực cao, còn vi rút cúm phân nhóm H9 chỉ có chủng độc lực thấp.
Các chủng vi rút cúm độc lực thấp được cho là có tiềm năng trở thành chủng độc lực cao. Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng các vi rút phân nhóm H5 và H7 độc lực thấp, sau khi lưu hành qua một số thời kỳ ngắn ở quần thể gia cầm. có thể đột 8 biển thành vi rút độc lực cao. Trong năm 1983 - 1984 vi rút cúm H5N2 thể độc lực thấp gây bệnh cho gia cầm ở Mỹ với các triệu chứng nhẹ và tỷ lệ chết rất thấp, nhưng 6 tháng sau vi rút này đã biến đổi thành thể độc lực cao làm tăng tỷ lệ chết ở gia cầm lên tới 90%[36].
Dịch cúm gia cầm hiện đang lưu hành ở nhiều nơi trên thế giới là do vi rút cúm A/H5N1 gây nên. H5N1 là một vi rút cúm týp A độc lực cao gây bệnh cho hầu hết các loài lông vũ. Bệnh cúm gia cam do H5N1 xuất hiện lần đầu tiên ở Hồng Kông năm 1997, sau đó tái diễn vào năm 2003 ở một số quốc gia Châu Á, và hiện nay đang có mặt ở rất nhiều khu vực trên the giới [29]. Độc lực của H5N1 được cho là mạnh nhất trong các loại vi rút cúm hiện nay [21], Bên cạnh khả năng lây nhiễm cao và gây bệnh nặng nề ở gia cầm, vi rút H5N1 có thể lây lan nhanh chóng từ vùng này qua vùng khác qua sự vận chuyển gia cầm sống, hoạt động của con người, xe vận chuyển, trang thiết bị, thức ăn và nước uống v.
Bên cạnh độc lực cao H5N1 còn có khả năng lây lan rất nhanh, sau khi xuất hiện ở Hà Tây, dịch cúm gia cầm nhanh chóng lây lan và bùng phát ở 57 tỉnh, thành phố của Việt Nam trong vòng 1 tháng [16], [19], Từ lâu người ta đã biết rằng các loài thuỷ cầm hoang dã truyền các vi rút cúm ở thể độc lực thấp sang các đàn gia cầm nuôi, chứ không chứa hoặc lây truyền trực tiếp vi rút độc lực cao. Tuy vậy, vai trò này có thể đã thay đổi trong thời gian rất gần đây, có nhiều bằng chứng cho thấy các loài thuỷ cầm hoang dại là ổ chứa thiên nhiên của vi rút H5N1 độc lực cao [19]. Cũng giống như các vi rút cúm khác vi rút H5N1 có sức đề kháng yếu và dễ dàng bị giết chết ở nhiệt độ 70°C nếu không sống trong một môi trường hữu cơ như dịch tiết, cơ thể hoặc phân. H5N1 cũng rất nhạy cảm với ánh sáng mặt trời chiếu thẳng và các hoá chất khử trùng thông thường như nước vôi tôi 10%, Phóc môn 3%, lodin 10%, Crê zin 5%.Tuy nhiên, khi được bảo vệ bởi các chất như nước bọt, phân, chất độn chuồng thì H5N1 có thể tồn tại trong thời gian dài, đặc biệt là khi nhiệt độ thấp.
Ví dụ, vi rút H5N1 có thể tồn tại trong phân chím ít nhất 35 ngày ở nhiệt độ 4°c. Ớ nhiệt độ 37°c, vi rút H5N1 được chứng minh là sống sót trong các mẫu phân chim 9 tới 6 ngày. Vi rút H5N1 có thể tồn tại trong thịt đông lạnh 3 tuần [36]. Bệnh cúm trên gia cầm Bệnh cúm trên gia cầm gây nên bởi các vi rút cúm týp A, căn bệnh này được phát hiện lần đầu tiên ở Italia vào năm 1878 còn vi rút cúm gia cầm được xác định vào năm 1955.
Hiện nay bệnh cúm gia cầm có mặt ở rất nhiều nơi trên thế giới [12], [6]. Vi rút cúm H5N1 bắt đầu xuất hiện và gây bệnh cho gia cầm ở Hồng Kông vào năm 1997 và được dập tắt ngay nhờ chính sách tiêu huỷ toàn bộ đàn gia cầm của Chính quyền Hồng Kông. Sau một thời gian lắng dịu, vào cuối năm 2003 dịch cúm gia cam H5N1 xuất hiện trở lại ở một số nước Châu Á như Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Malaysia và Việt Nam [19], [6], Suốt từ đó cho đến nay dịch bệnh luôn luôn tồn tại và tính đến cuối tháng 2/2006 dịch bệnh đã có mặt tại 17 quốc gia thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Âu và Trung Đông [16], [19], [6]. Dịch cúm gia cam H5N1 đã gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho các nước có dịch, riêng tại Việt Nam ngay trong đợt dịch đầu tiên vào cuối 2003-2004 đã phải tiêu huỷ khoảng 44 triệu con gia cầm, thiệt hại kinh tế ước tính khoảng 3000 tỷ đồng, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm 0,5% [19], 1.
Bệnh cúm thường trên người Con người có thể bị nhiễm bệnh cúm bởi cả 3 týp vi rút cúm A, B và c. Tuy nhiên, chỉ có các vi rút cúm týp A mới gây bệnh nặng và trở thành đại dịch. Bệnh cúm thường trên người hay còn gọi là bệnh cúm theo mùa thường do các vi rút cúm týp B và c gây nên, bệnh thường xảy ra quanh năm, nhưng thường gặp hơn vào mùa đông, xuân hoặc khi thời tiết lạnh và ẩm. Các triệu chứng của bệnh thường nhẹ bao gồm: sốt nhẹ hoặc không sổt, mệt mỏi và một số triệu chứng hô hấp nhẹ.
Bệnh do vi rút gây ra nên không dùng kháng sinh để điều trị mà chỉ cần nghỉ ngơi và bồi dưỡng tốt bệnh sẽ tự khỏi trong vòng từ 5 - 7 ngày. Ở một số bệnh nhân cao tuổi sự mệt mỏi có thể kéo dài, sự bình phục chậm [1], Do bệnh cúm mùa lây qua đường hô hấp nên biện pháp phòng chống chủ yếu là 10 hạn chế tiếp xúc với nguồn bệnh, nếu bắt buộc phải tiếp xúc thì nên sử dụng các trang bị bảo hộ như khẩu trang, găng tay. Thường xuyên thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân như rửa mặt, mũi, chân tay cần thực hiện ít nhất 2-3 lần/ngày. Sử dụng các loại thuốc sát khuẩn đường hô hấp trên để nhỏ mũi và xúc họng 2-3 lần/ngày.
Tăng cường sức khoẻ bằng cách ăn uống hợp lý và luyện tập thể dục thể thao [1]. Bệnh cúm gia cầm trên ngưòi 1. Tác nhân gây bệnh Theo lịch sử và dịch tễ học thì các vi rút cúm thường có tính đặc trưng loài cao, nghĩa là mồi vi rút gây bệnh ở một loài riêng (con người, một sổ loài chim, lợn, ngựa.) và chỉ dừng ở đúng loài đó, rất ít khi vượt qua hàng rào loài để gây bệnh cho loài khác. Kể từ đầu thế kỷ 20, các trường hợp người nhiễm vi rút cúm gia cầm chỉ được ghi nhận trong 10 lần.
Trong số hàng trăm chủng vi vút cúm gia cầm nhóm A, chỉ có 8 chủng đã được phát hiện là gây bệnh ở người: H1N1, H5N1, H2N2, H3N2, H7N2, H7N3, H7N7 và H9N2. Trong đó nặng nề nhất là phân nhóm HI NI là chủng virus cúm A được phân lập đầu tiên, gây ra “Đại dịch cúm Tây Ban Nha” năm 1918-1919 đã giết chết 40-50 triệu người trên toàn thế giới.