Luận văn kiến thức thái độ thực hành phòng bệnh sâu răng của bà mẹ học sinh trường tiểu học xuân thủy huyện lệ thủy tỉnh quảng bình năm 2016

Khám phá nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sâu răng của bà mẹ học sinh trường tiểu học Xuân Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình năm 2016.

Trường đại học

Đại học Y tế Công cộng

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

105
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh sâu răng và tầm quan trọng của phòng bệnh

Bệnh sâu răng là một trong những bệnh phổ biến nhất trên thế giới, đặc biệt ở trẻ em. Theo WHO, bệnh sâu răng được xếp vào hàng thứ ba trong bảng xếp hạng bệnh tật do mức độ phổ biến cao. Bệnh này gây tổn thương không hồi phục, dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở trẻ em rất cao, đặc biệt ở các vùng nông thôn như huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Nghiên cứu này tập trung vào kiến thức, thái độ, và thực hành của các bà mẹ trong việc phòng bệnh sâu răng cho con tại trường Tiểu học Xuân Thủy.

1.1. Đặc điểm và nguyên nhân gây sâu răng

Sâu răng là tình trạng tổn thương mất mô cứng của răng do quá trình hủy khoáng gây ra bởi vi khuẩn trong mảng bám răng. Nguyên nhân chính bao gồm chế độ ăn nhiều đường, vệ sinh răng miệng kém, và thiếu flour. Các yếu tố này tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, dẫn đến sâu răng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kiến thứcthái độ của các bà mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa bệnh sâu răng cho trẻ.

1.2. Tác hại của bệnh sâu răng

Sâu răng không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng mà còn gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng như viêm tủy, viêm xương hàm, và thậm chí gãy răng. Những biến chứng này không chỉ gây đau đớn mà còn ảnh hưởng đến chức năng nhai, phát âm, và thẩm mỹ của trẻ. Do đó, việc phòng ngừa sâu răng từ sớm là rất cần thiết.

II. Kiến thức thái độ và thực hành của bà mẹ về phòng bệnh sâu răng

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang để đánh giá kiến thức, thái độ, và thực hành của 195 bà mẹ tại trường Tiểu học Xuân Thủy. Kết quả cho thấy chỉ 40,4% bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh sâu răng, trong khi 45,6% có thái độ chưa đúng và 49,7% thực hành chưa đạt yêu cầu. Điều này cho thấy sự thiếu hụt kiến thức và thực hành phòng bệnh sâu răng trong cộng đồng.

2.1. Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh sâu răng

Kiến thức của các bà mẹ về phòng bệnh sâu răng còn hạn chế, đặc biệt về thời điểm bắt đầu thay răng sữa, nguyên nhân gây sâu răng, và phương pháp chải răng đúng cách. Chỉ 40,4% bà mẹ có kiến thức đạt yêu cầu, trong khi phần lớn còn lại chưa hiểu rõ về các biện pháp phòng ngừa sâu răng.

2.2. Thái độ và thực hành của bà mẹ

Thái độ của các bà mẹ về phòng bệnh sâu răng cũng chưa đúng, với 45,6% bà mẹ có thái độ chưa tích cực. Thực hành phòng bệnh sâu răng của các bà mẹ cũng chưa đạt yêu cầu, chỉ 49,7% bà mẹ thực hiện đúng các biện pháp phòng ngừa như chải răng đúng cách và đưa con đi khám răng định kỳ.

III. Các yếu tố liên quan đến kiến thức thái độ và thực hành phòng bệnh sâu răng

Nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ học vấn, nghề nghiệp, và tiếp cận thông tin là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, và thực hành phòng bệnh sâu răng của các bà mẹ. Bà mẹ có trình độ học vấn từ THPT trở lên có kiến thức tốt hơn gấp 2,5 lần so với bà mẹ có trình độ học vấn thấp hơn. Ngoài ra, bà mẹ được tiếp cận thông tin truyền thông về phòng bệnh sâu răng cũng có kiến thức và thực hành tốt hơn.

3.1. Ảnh hưởng của trình độ học vấn và nghề nghiệp

Trình độ học vấnnghề nghiệp của các bà mẹ có ảnh hưởng đáng kể đến kiến thức và thực hành phòng bệnh sâu răng. Bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn và làm việc trong các ngành nghề không liên quan đến nông nghiệp có kiến thức và thực hành tốt hơn.

3.2. Vai trò của tiếp cận thông tin

Tiếp cận thông tin về phòng bệnh sâu răng cũng là yếu tố quan trọng. Bà mẹ được tiếp cận thông tin qua các kênh truyền thông có kiến thức và thực hành tốt hơn so với những bà mẹ không được tiếp cận thông tin.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu này cho thấy kiến thức, thái độ, và thực hành của các bà mẹ về phòng bệnh sâu răng còn nhiều hạn chế. Để cải thiện tình trạng này, cần có các chương trình giáo dục và truyền thông hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức và thực hành phòng bệnh sâu răng trong cộng đồng. Đặc biệt, cần tập trung vào các bà mẹ có trình độ học vấn thấp và sống ở vùng nông thôn.

4.1. Giáo dục và truyền thông

Cần xây dựng các chương trình giáo dục và truyền thông về phòng bệnh sâu răng, đặc biệt là tại các trường học và cộng đồng. Các chương trình này nên tập trung vào việc hướng dẫn cách chải răng đúng cách, chế độ ăn uống hợp lý, và tầm quan trọng của việc khám răng định kỳ.

4.2. Hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức y tế

Chính quyền và các tổ chức y tế cần hỗ trợ các chương trình phòng bệnh sâu răng bằng cách cung cấp các nguồn lực cần thiết như kem đánh răng có flour, nước súc miệng, và các dịch vụ khám răng miệng định kỳ cho trẻ em.

23/02/2025
Luận văn kiến thức thái độ thực hành phòng bệnh sâu răng của bà mẹ học sinh trường tiểu học xuân thủy huyện lệ thủy tỉnh quảng bình năm 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sâu răng là một trong những bệnh răng miệng phổ biến nhất trên thế giới nhƣng có thể dự phòng đƣợc. Từ những năm 1970 Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã xếp bệnh sâu răng vào hàng thứ ba trong bảng xếp hạng bệnh tật vì mức độ phổ biến (90 - 99% dân số) [6]. Đây là bệnh tổn thƣơng không hồi phục do đó nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm ảnh hƣởng đến sức khỏe và thẩm mỹ [9]. Tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở Việt Nam, đặc biệt ở trẻ em đƣợc xếp ở vị trí rất cao.

Trong những năm trở lại đây, tỷ lệ bệnh sâu răng giảm xuống ở các nƣớc phát triển, tuy nhiên ở các nƣớc đang phát triển do điều kiện kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật còn hạn chế nên tình trạng sâu răng còn khá cao và có xu hƣớng tăng lên [28]. Tại Việt Nam, năm 2003 WHO đánh giá tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở nƣớc ta vào loại cao nhất thế giới và nƣớc ta thuộc khu vực các nƣớc có tỷ lệ bệnh răng miệng đang tăng lên [29]. Tại Việt Nam, sau khi rà soát một số tài liệu, nghiên cứu chủ yếu từ thƣ viện, cơ sở dữ liệu trực tuyến đã cho thấy một số nghiên cứu chứng minh kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sâu răng của bà mẹ có ảnh hƣởng lớn đến kết quả phòng bệnh sâu răng của trẻ; tuy nhiên thực trạng này còn chƣa đạt. Điển hình nhƣ nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thủy năm 2009 tại Hà Nội cho thấy kiến thức của bà mẹ trong phòng bệnh sâu răng cho con chƣa đạt chiếm tỷ lệ 31,7%, thực hành chƣa đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 40,9% [13].

Nghiên cứu của Đặng Thị Yên năm 2012 tại Hƣng Yên trên đối tƣợng là các bà mẹ có con học lớp một thì các tỷ lệ tƣơng ứng 85,5% và 66,4% [17]. Theo số liệu khám sức khỏe học sinh huyện Lệ Thủy qua các năm học, tỷ lệ sâu răng của học sinh khối tiểu học còn khá cao và đang có xu hƣớng tăng lên. Trong đó trƣờng tiểu học Xuân Thủy có tỷ lệ học sinh sâu răng cao nhất (61,8%). Đây thực sự là một vấn đề đáng quan tâm, vì lứa tuổi học sinh tiểu học ở giai đoạn này các em chuyển từ răng sữa sang răng vĩnh viễn nhƣng lại chƣa thể có ý thức tự chăm sóc và bảo vệ răng miệng của bản thân.

Do đó bên cạnh nhà trƣờng thì kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sâu răng của bà mẹ đóng một vai trò quan trọng đối với việc chăm sóc và bảo vệ răng miệng cho các em. Tuy nhiên chƣa có nghiên cứu nào về thực trạng sâu 2 răng cũng nhƣ kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sâu răng của bà mẹ trên địa bàn. Chính vì thế, nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sâu răng của bà mẹ học sinh trường tiểu học Xuân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2016” thực sự cần thiết, qua đó mong muốn sẽ đánh giá rõ hơn vai trò của bà mẹ trong việc phòng bệnh sâu răng cho trẻ và đƣa ra đƣợc những khuyến nghị góp phần nâng cao hiểu biết của bà mẹ đồng thời tăng hiệu quả công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe răng miệng. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.

Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sâu răng của bà mẹ học sinh trƣờng tiểu học Xuân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2016. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh sâu răng ở đối tƣợng nêu trên. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm về răng 1.

Đặc điểm giải phẫu của răng Răng đƣợc tạo thành bởi thân răng và chân răng, phần răng lộ ra trong khoang miệng gọi là thân răng, phần cắm trong xƣơng máng răng gọi là chân răng, bộ phận giáp ranh giữa thân răng và chân răng gọi là cổ răng. Quan sát theo mặt ngang răng gồm 4 bộ phận: Hình số 1: Giải phẫu răng - Men răng: Là lớp cứng bao phủ trên thân răng, có màu trắng sữa hoặc màu vàng nhạt, màu sắc của men răng có liên quan đến độ khoáng chất trong men răng. - Ngà răng Là phần cứng nằm ở mặt trong của men răng và xƣơng răng, tạo thành chủ thể của răng, bảo vệ tủy răng bên trong, đồng thời hỗ trợ cho men răng và xƣơng răng ở bên ngoài. 5 - Tủy răng Là khe hở ở trong răng.

Tủy răng là một khối tổ chức liên kết mạch máu nằm trong một hốc ở giữa răng gọi là hốc tủy răng. Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng. Hệ thần kinh trong tủy răng rất phong phú, khi chịu sự kích thích từ bên ngoài thƣờng có phản ứng đau mà không phân biệt đƣợc các kích thích khác nhau nhƣ nóng, lạnh, áp lực, hóa học… - Xƣơng răng Là tổ chức canxi hóa bao phủ chân răng, bắt đầu từ cổ răng. Độ dày của xƣơng răng thay đổi theo tuổi và vị trí.

Thành phần hóa học của xƣơng răng giống với xƣơng ở những nơi khác. Quá trình mọc răng - Thời kỳ 1: mọc răng sữa, bắt đầu từ 6 tháng đến 30 tháng tuổi. - Thời kỳ 2: mọc răng vĩnh viễn từ 6 đến 12 tuổi. - Thời kỳ 3: mọc răng khôn từ 18 đến 25 tuổi.

Trong đó thời kỳ 2 giữ vị trí quan trọng vì thời kỳ này hàm răng vĩnh viễn dần thay thế răng sữa. Trong thời kỳ này nếu hàm răng đƣợc chăm sóc tốt, thay đúng lúc thì hàm răng vĩnh viễn mọc lên mới đƣợc đều đặn, đẹp và tránh đƣợc các bệnh răng miệng. Vì vậy cần phải tập trung phòng bệnh sớm trong giai đoạn này để đảm bảo trẻ lớn lên có hàm răng chắc khỏe, tránh mất răng, rụng răng. Chức năng của răng Chức năng của răng là nghiền thức ăn, hỗ trợ phát âm, giữ hình thái bình thƣờng của hàm, mặt, miệng và sức khỏe của cơ thể.

Chức năng chính của răng là nghiền thức ăn. Nghiền thức ăn là một quá trình phức tạp, trong đó các răng khác nhau có tác dụng khác nhau. Răng cửa dùng để cắt thức ăn, răng nanh có chức năng chủ yếu là xé thức ăn, răng hàm có tác dụng nghiền nát thức ăn. 6 Chức năng phát âm: Răng có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ và phát âm.

Răng nằm giữa môi và lƣỡi, khi phát âm chúng phối hợp với nhau và không thể thiếu bộ phận nào. Các răng phía trƣớc có ảnh hƣởng rất lớn đối với ngôn ngữ và phát âm, khi bị mất răng cửa do không thể khống chế tốt các luồng hơi phát ra, khi nói sẽ thoát hơi, nếu hoạt động của lƣỡi mất đi sự hạn chế của răng trƣớc cũng ảnh hƣởng đến độ chính xác của việc phát âm. Hơn nữa, răng còn ảnh hƣởng quan trọng ngoại hình của mỗi ngƣời. Đặc điểm bệnh sâu răng 1.

Định nghĩa Theo Quyết định số 3108/QĐ-BYT ngày 28/07/2015 của Bộ y tế về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về răng hàm mặt”: Sâu răng là tình trạng tổn thƣơng mất mô cứng của răng do quá trình hủy khoáng gây ră bởi vi khuẩn ở mảng bám răng. Tiến triển của bệnh sâu răng Sâu răng đƣợc chia làm nhiều mức độ tùy theo thời gian tiến triển. Nếu ở mức độ nhẹ không điều trị sẽ thành mức độ tiếp theo nặng hơn từ sâu men thành sâu ngà, đến viêm tủy, tủy hoại tử, viêm quanh cuống, viêm xƣơng hàm. - Sâu men: Tổn thƣơng mới ở phần men chƣa có dấu hiệu lâm sàng rõ.

Khi phát hiện chấm trắng/đen trên lâm sàng thì sâu răng đã tới đƣờng men ngà. - Sâu ngà: Khi bắt đầu xuất hiện lỗ sâu trên lâm sàng thì chắc chắn là sâu ngà. Sâu ngà đƣợc chia làm 2 loại sâu: sâu ngà nông và sâu ngà sâu. + Sâu ngà nông: Không đau mặc dù ăn uống chua, nóng, lạnh, bệnh tiến triển nhanh.

+ Sâu ngà sâu: Đau/buốt khi ăn uống chua, nóng, lạnh. Ngừng ăn uống hết đau ngay. - Viêm tủy: Đau thành cơn dữ dội. Thăm khám có lỗ sâu lớn, có thể lộ tủy, gõ răng đau.

Ở giai đoạn này điều trị khó khăn đòi hỏi máy móc, dụng cụ hiện đại, tốn kém nhiều chi phí. 7 - Tủy hoại tử, viêm quanh cuống răng: Thƣờng thì không đau trừ khi có một đợt viêm cấp tái diễn. Khám thấy răng đổi màu, răng chết tủy, chụp phim có thể thấy tổn thƣơng ở vùng cuống răng. Ở giai đoạn này điều trị khá phức tạp và cần nhiều thời gian cũng nhƣ chi phí hơn so với điều trị viêm tủy.

Nếu không đƣợc điều trị tích cực và đúng phƣơng pháp sẽ dẫn đến viêm cuống răng, viêm khớp răng và phải nhổ răng. Nguyên nhân gây sâu răng Trƣớc năm 1970 bệnh sâu răng đƣợc xem là một tổn thƣơng không thể phục hồi bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố trong đó chú ý nhiều đến chất đƣờng và vi khuẩn Streptococcus Mutans, do đó việc phòng bệnh sâu răng tập trung vào chế độ ăn hạn chế đƣờng, tiến hành vệ sinh răng miệng kỹ. Khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng thì hiệu quả đạt đƣợc không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể [8]. Căn nguyên bệnh sâu răng đƣợc giải thích bằng sơ đồ Keyes: Hình số 2: Sơ đồ Keyes [22] Sau năm 1975 căn nguyên bệnh sâu răng đƣợc làm sang tỏ hơn và đƣợc giải thích bằng sơ đồ WHITE thay thế một vòng tròn của sơ đồ Keyes bằng vòng tròn nền.

- Thức ăn đƣợc thay thế bằng chất nền. - Nhấn mạnh vai trò của nƣớc bọt và pH của dòng chảy môi trƣờng xung quanh răng. 8 - Ngƣời ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của Flour, chống đƣợc sự phân hủy của axit tạo thành thƣơng tổn sâu răng. [20] Vi khuẩn Răng SR Chất nền Hình số 3: Sơ đồ WHITE [8] Cơ chế sâu răng gồm 2 quá trình hủy khoáng và tái khoáng.

Mỗi quá trình đều do một số yếu tố thúc đẩy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ