Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về an toàn truyền máu 1. Máu và các chế phẩm từ máu Máu là mô lỏng màu đỏ lưu thông trong hệ thống tuần hoàn. Máu gồm các thành phần hữu hình (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và huyết tương (chứa các chất dinh dưỡng, chất vận chuyển, các yếu tố đông máu.
Từ máu toàn phần người ta đã chiết tách ra các chế phấm máu khác nhau để phù hợp với nhu cầu điều trị của bệnh nhân [5], [6], [11]. Máu toàn phần Khối HC Khối BC hạt Plassma tươi Plassma tươi Plassma HC rửa giàu TC đông lạnh Khối TC Tủa VIII Hình 1.1: Máu toàn phần và một số chế phẩm từ máu 1. Nhóm máu - Các hệ nhóm máu đã được xác định: ABO, Rh, Kell, Duffy, Kidd, Lewis… song 2 hệ nhóm máu ABO và Rh hiện có ý nghĩa lâm sàng nhất trong thực hành truyền máu tại Việt Nam [5], [26]. 5 - Dựa trên sự có mặt của kháng nguyên trên hồng cầu và kháng thể trong huyết thanh, người ta chia nhóm máu hệ ABO thành 4 nhóm: A, B, AB và O 1.
Quy tắc truyền máu dựa trên hệ nhóm ABO - Truyền cùng nhóm máu: Bệnh nhân nhóm máu nào thì truyền nhóm máu đó và truyền theo chỉ định của Bác sỹ. - Truyền khác nhóm máu: Trong trường hợp cấp cứu không có máu cùng nhóm có thể truyền khác nhóm (không quá 250ml) theo quy tắc truyền máu tối thiểu và theo chỉ định của Bác sỹ [11], [27].2: Sơ đồ cho - nhận các nhóm máu hệ ABO. Mục đích truyền máu - Truyền máu toàn phần: Tăng khối lượng tuần hoàn, bồi phụ lại lượng máu đã mất khi bệnh nhân bị mất máu cấp do chấn thương, phẫu thuật hoặc chảy máu ồ ạt. - Truyền khối hồng cầu: Tăng khả năng cung cấp oxy khi thiếu máu không hồi phục hoặc thiếu máu nặng mất bù, như trong bệnh: Thalasemia, suy tuỷ.
- Truyền tiểu cầu và huyết tương: Tăng khả năng đông máu và cầm máu. - Truyền bạch cầu, gamma globulin, albumin: Tăng khả năng đề kháng và chống nhiễm khuẩn [2], [20], [25]. Các phản ứng bất lợi do truyền máu Phản ứng sớm: Tan máu cấp, khó thở, sốt rét run, dị ứng. Các phản ứng muộn: Tan máu muộn, xuất huyết giảm tiểu cầu, nhiễm khuẩn, nhiễm virus.
xảy ra chậm, sau nhiều ngày hoặc hàng tuần, hàng tháng sau truyền máu [2], [20], [25]. 6 Theo WHO(2008), các dấu hiệu đầu tiên của phản ứng truyền máu có thể xuất hiện trong vòng vài phút đầu sau khi bắt đầu truyền. Chính vì vậy việc theo dõi chặt chẽ bệnh nhân trong những phút đầu của quá trình truyền máu đối với từng đơn vị máu là rất quan trọng [47]. Hoạt động truyền máu 1.
Nguyên tắc thực hiện hoạt động truyền máu Chỉ sử dụng máu và các chế phẩm máu phục vụ chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu khoa học. Giữ bí mật các thông tin có liên quan đến người hiến máu, người nhận máu và chế phẩm máu. Bảo đảm an toàn cho người hiến máu, người bệnh được truyền máu, chế phẩm máu và nhân viên y tế có liên quan. Thực hiện truyền máu hợp lý đối với người bệnh [5].
Qui trình sử dụng máu cho người bệnh Bác sĩ chỉ định truyền máu cho người bệnh → ĐDV đăng ký máu → Gửi mẫu máu đăng ký → Khoa Truyền máu: Định nhóm máu và làm phản ứng hòa hợp miễn dịch → Phát máu → ĐDV lĩnh về khoa → Thực hiện QTKT truyền máu cho người bệnh→ Theo dõi BN trước, trong và sau khi truyền máu [2], [5], [25]. QTKT truyền máu: 15 bước [2]. Chuẩn bị môi 1. Chuẩn bị BN 4.Vệ sinh tay trường, máu 6.Làm phản ứng 7.
Cắm dây truyền 5. Lấy nước định lại nhóm và đuổi khí đúng muối máu tại giường 9. Xác định vị trí 11. Tư thế BN và 12.
Điều chỉnh và đưa kim vào hướng dẫn những dụng cụ tốc độ tĩnh mạch điều cần thiết 14. Rửa tay truyền máu 7 1. Thực hiện và theo dõi truyền máu tại đơn vị điều trị Bác sỹ điều trị và điều dưỡng viên phải thực hiện kiểm tra, đối chiếu, định nhóm máu, theo dõi truyền máu, phát hiện, xử trí kịp thời các bất thường, tai biến không mong muốn xảy ra trong và sau truyền máu. Thực hiện kiểm tra, đối chiếu các nội dung sau: Đối chiếu thông tin của người bệnh, đơn vị máu và phiếu truyền máu.
Kiểm tra hạn sử dụng và hình thức bên ngoài túi máu theo quy định. Thực hiện định nhóm máu hệ ABO của người bệnh, của túi máu ngay tại giường bệnh và đối chiếu với thông tin trên phiếu truyền máu Khi truyền máu toàn phần, khối hồng cầu, khối bạch cầu: sử dụng huyết thanh mẫu định nhóm máu ABO của mẫu máu người bệnh được lấy ngay trước khi truyền máu và của mẫu máu lấy từ đơn vị máu sắp truyền. Khi truyền tiểu cầu, huyết tương: - Sử dụng huyết thanh mẫu định nhóm máu ABO mẫu máu của người bệnh; - Trộn 02 giọt chế phẩm máu với 01 giọt máu người bệnh và kiểm tra ngưng kết. Không thực hiện truyền máu khi có ngưng kết, trừ trường hợp truyền tủa lạnh theo quy định.
Phối hợp với đơn vị phát máu điều tra làm rõ mọi sự khác biệt (nếu có) giữa hồ sơ bệnh án, phiếu truyền máu, nhãn đơn vị máu và kết quả định nhóm. Thực hiện việc truyền máu, theo dõi diễn biến, phát hiện, xử trí các bất thường về tình trạng sức khỏe của người bệnh: Kiểm tra, theo dõi các chỉ số mạch, nhiệt độ, huyết áp, trạng thái tinh thần của người bệnh vào các thời điểm trước và trong quá trình truyền máu, đặc biệt lưu ý theo dõi trong 15 phút đầu truyền máu để phát hiện và xử trí kịp thời tai biên liên quan đến truyền máu; Phải sử dụng bộ dây truyền máu có bầu lọc để truyền cho người bệnh; Ghi hồ sơ đầy đủ các chỉ số mạch, nhiệt độ, huyết áp, trạng thái tinh thần, diễn biến lâm sàng của người bệnh, các xử trí (nếu có) vào phiếu truyền máu [5]. Căn cứ tình trạng của người bệnh và diễn biến trong quá trình truyền máu, bác sỹ điều trị chỉ định việc theo dõi sau khi kết thúc truyền máu. 8 Không được bổ sung bất cứ chất gì (bao gồm cả các loại thuốc) vào túi máu, trừ trường hợp có chỉ định hoà loãng khối hồng cầu thì chỉ được sử dụng dung dịch muối đẳng trương (NaCl 0,9%) loại truyền tĩnh mạch.
Khi xảy ra các tai biến liên quan đến truyền máu, cơ sở điều trị phải thực hiện ngay các việc sau: Tùy theo mức độ nghiêm trọng của tai biến mà phải giảm tốc độ hoặc ngừng truyền máu. Trường hợp ngừng truyền máu, phải duy trì đường truyền tĩnh mạch bằng cách sử dụng dung dịch muối đẳng trương. Xử trí cấp cứu người bệnh. Không được tiếp tục truyền đơn vị máu, chế phẩm máu có liên quan đến tai biến sau khi đã ngừng truyền quá 4 giờ [5].
Nhiệm vụ thực hiện qui trình kỹ thuật chăm sóc người bệnh, qui trình kỹ thuật truyền máu 1. Nhiệm vụ thực hiện qui trình kỹ thuật của ĐDV Thông tư 07/2011/TT-BYT đã nêu những nhiệm vụ thực hiện QTKT chăm sóc người bệnh của ĐDV cụ thể như sau [4]: - Bệnh viện có quy định, QTKT điều dưỡng phù hợp, cập nhật trên cơ sở các quy định, hướng dẫn của Bộ Y tế. - ĐDV, hộ sinh viên phải tuân thủ QTKT chuyên môn, kỹ thuật vô khuẩn. - ĐDV, hộ sinh viên thực hiện các biện pháp phòng ngừa, theo dõi phát hiện và báo cáo kịp thời các tai biến cho bác sĩ điều trị đến xử trí kịp thời.
- Dụng cụ y tế dùng trong các kỹ thuật, thủ thuật xâm lấn phải đảm bảo vô khuẩn và được xử lý theo Điều 2 và Điều 3 của Thông tư số 18/2009/TT- BYT ngày 14/10/2009 của Bộ Y tế về Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các quy định khác về kiếm soát nhiễm khuẩn. Quy trình chăm sóc Quy trình là một vòng tròn khép kín, bao gồm nhiều bước phải trải qua nhằm đạt được mục tiêu đề ra [3]. Quy trình chăm sóc là một quy trình bao gồm nhiều bước mà người điều dưỡng phải trải qua gồm hàng loạt các hoạt động theo một kế hoạch đã được định trước để hướng đến kết quả chăm sóc người bệnh mà mình mong muốn [3]. QTKT truyền máu Truyền máu là một quy trình kỹ thuật nhằm mục đích đưa máu toàn phần hoặc các chế phẩm máu vào cơ thể người bệnh qua đường tĩnh mạch.
QTKT truyền máu bao gồm 03 khâu chuẩn bị (chuẩn bị bệnh nhân, chuẩn bị điều dưỡng, chuẩn bị phòng bệnh, dụng cụ, máu/ chế phẩm từ máu) và 12 bước thực hiện dựa trên nguyên tắc đảm bảo an toàn và tuyệt đối vô khuẩn cho bệnh nhân [2]. Một số nghiên cứu liên quan đến thực hành QTKT truyền máu của Điều dưỡng 1. Trên thế giới Nhằm mục đích nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh, trên thế giới đã tiến hành nhiều nghiên cứu về các hoạt động của Điều dưỡng. Việc xác định các yếu tố liên quan đến chất lượng thực hành các QTKT cũng như chất lượng CSNB của điều dưỡng cũng được mô tả trong các nghiên cứu này.
Năm 2012, Li-ming You và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 9688 ĐD và 5766 BN nhằm đánh giá một cách toàn diện nguồn lực tại 181 bệnh viện ở Trung Quốc và mối liên hệ giữa nguồn lực điều dưỡng với chất lượng chăm sóc BN. Kết quả cho thấy: 38% ĐD làm việc quá tải, áp lực công việc nặng nề, 45% không hài lòng với nghề nghiệp của mình. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ người bệnh trên ĐD có liên quan với chất lượng chăm sóc BN (mỗi người bệnh tăng thêm trên một ĐD làm tăng cả mức độ làm việc quá sức và mức độ không hài lòng nghề nghiệp là 1,04 lần). Có mối liên quan chặt chẽ giữa trình độ của ĐD và chất lượng chăm sóc BN [47].
Omorogbe và một số nhà nghiên cứu của Nigeria đã tiến hành nghiên cứu đánh giá kiến thức và thực hành tiêm an toàn (TAT) đối với các điều dưỡng trong khi làm nhiệm vụ trong bệnh viện tại thành phố Benin vào tháng 2-3/năm 2012. 122 điều dưỡng được hỏi qua bảng hỏi có cấu trúc. Kết quả cho thấy kiến thức của các điều dưỡng về TAT là thấp (55,7%) nhưng thực hành của họ đạt “Tốt” (48,4%) và “Xuất sắc” (47,5%). Nghiên cứu này cho thấy cần có các buổi tổ chức hội thảo, tập 10 huấn thường xuyên để nâng cao kiến thức và thực hành về TAT cho điều dưỡng của thành phố này [41].
Môi trường làm việc của các điều dưỡng có thể có tác động đáng kể đến chất lượng chăm sóc người bệnh.