Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm toán quy trình mua hàng và thanh toán trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chương 2: Thực trạng kiểm toán quy trình mua hàng và thanh toán trong của công ty tnhh kiểm toán – tư vấn tài chính dnp. Chương 3: Nhận xét, kiến nghị và bài học kinh nghiệm. xi CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN QUY TRÌNH MUA HÀNG VÀ THANH TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.
Khái quát chung về kiểm toán BCTC Khái niệm về Kiểm toán BCTC Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các báo cáo tài chính được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực hợp lý của báo cáo tài chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập. Mục tiêu Kiểm toán BCTC Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 thì “Kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không”. Ngoài ra “Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị”. Vai trò của BCTC Nhóm đối tượng bên trong DN: Đối với Các nhà quản lý DN, mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ để đảm bảo sự tồn tại và phát triển DN.
Ngoài ra, các nhà quản lý còn quan tâm đến các mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường… Báo cáo tài chính sẽ cung cấp thông tin giúp họ lập các mục tiêu cho DN, đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu đó, ra các quyết định, điều chỉnh các hoạt động sao cho có hiệu quả nhất. Đồng thời thông qua công khai các thông tin nhà quản lý cố gắng thuyết phục nhà đầu tư và chủ nợ rằng họ sẽ đem lại mức lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấp nhất. Thông tin trên báo cáo tài chính giúp nhà quản trị trả lời các câu hỏi như: Nguồn lực kinh tế (tài sản) của DN như thế nào? Hàng hóa tồn kho quá nhiều hay ít? Công nợ của DN ra sao? DN làm ăn có lãi không, lãi là bao nhiêu? Khả năng thu hồi các khoản nợ như thế nào? DN có khả năng trả nợ hay không?… 1 Đối với các nhà đầu tư (các nhà đầu tư): Quan tâm đến khả năng tạo ra doanh thu và mức độ an toàn của vốn đầu tư, khả năng trả lãi vay và chia lợi nhuận nhằm đưa ra quyết định tiếp tục duy trì hay từ bỏ quyền sở hữu? Như vậy báo cáo tài chính cần cung cấp các thông tin tài chính tổng hợp để nhà đầu tư giám sát các nhà quản lý thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết; bên cạnh đó nhà đầu tư cần các thông tin tài chính để thực hiện các quyết định đầu tư của mình. Đối người cho vay, nhà cung cấp: Quan tâm đến khả năng thanh toán của DN, khả năng thanh khoản của tài sản (khả năng chuyển đồi thành tiền); sự ổn định về tài chính của DN trong dài hạn.
Họ cần các thông tin tài chính để thực hiện quyết định có nên mở rộng quan hệ tín dụng hay không? Có nên tiếp tục cho vay hoặc cho DN mua trả chậm hàng hoá, dịch vụ hay không? Cơ quan chức năng như cơ quan thuế, thống kê…: Quan tâm đến việc kiểm tra DN có tuân thủ những nguyên tắc và luật lệ theo quy định không? thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước, giúp cơ quan tài chính kiểm tra hoạt động của DN, đồng thời có căn cứ để cơ quan thuế xác định số thuế DN phải nộp? (thuế thu nhập DN, thuế giá trị gia tăng (GTGT)). Những vấn đề chung về quy trình mua hàng và thanh toán Khái niệm Mua hàng là các hoạt động nghiệp vụ của các doanh nghiệp sau khi xem xét, tìm hiểu về chủ hàng và cùng với chủ hàng bàn bạc, thoả thuận điều kiện mua bán, thực hiện các thủ tục mua bán, thanh toán và các nghiệp vụ giao nhận, vận chuyển nhằm tạo nên lực lượng hàng hoá tại doanh nghiệp với số lượng, chất lượng, cu cấu đáp ứng các nhu cầu của dự trữ, bán hàng phục vụ cho khách hàng với chi phí thấp nhất. Thanh toán là sự chuyển giao tài sản của một bên (cá nhân hoặc công ty, tổ chức) cho bên kia, thường được sử dụng khi trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ trong một giao dịch có ràng buộc pháp lý. Tiền là phương tiện thực hiện trao đổi hàng hóa, đồng thời là việc kết thúc quá trình trao đổi.
Lúc này tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh toán. Sự vận động của tiền tệ có thể tách rời hay độc lập tương đối với sự vận động của hàng hóa. Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền không chỉ sử dụng để trả các khoản nợ về mua chịu hàng hóa, mà chúng còn được sử dụng để thanh toán những khoản nợ vượt ra 2 ngoài phạm vi trao đổi như nộp thuế, trả lương, đóng góp các khoản chi dịch vụ … Đặc điểm của quy trình mua hàng và thanh toán: Mua hàng và thanh toán là một chu trình quan trọng đối với đa số doanh nghiệp , đặc biệt là các doanh nghiệp thương mại và sản xuất. Bởi vì chi phi cho dịch vụ mua hàng thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số chi phí sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì thế , sự hữu hiệu và hiệu quả của chu trình này sẽ có ảnh hưởng lớn đến hiệu của hoạt động của doanh nghiệp và là mối quan tâm của nhiều nhà quản lý.
Mua hàng là bước khởi đầu của chu trình sản xuất kinh doanh nó cung cấp các yếu tố đầu vào để tiến hành các hoạt động khác. Và nó, có thể được sử dụng nhằm khai thác các lợi nhuận và lợi ích trực tiếp trong quá trình sử dụng. Cũng như chi tiêu hợp lý giúp tổ chức thực hiện được các kế hoạch đề ra. Đồng thời giữ lại các lợi nhuận hay khoản ngân sách phù hợp.
Khi đó, các kết quả kinh doanh mới đạt được hiệu quả. Cũng như tính chủ động trong tìm kiếm và lợi nhuận giữ lại. Từ những đặc điểm trên việc kiểm soát chu trình mua hàng và thanh toán luôn là nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp. Chức năng của chu trình mua hàng và thanh toán: Xử lý các đơn đặt mua hàng hóa, dịch vụ Đơn đặt hàng hay yêu cầu về sản phẩm, dịch vụ là điểm bắt đầu của chu trình này và được phê chuẩn bởi những người có thẩm quyền để đảm bảo hàng hóa – dịch vụ mua đúng mục đích, tránh tình trạng mua quá nhiều hoặc quá ít hoặc những mặt hàng không cần thiết.
Sau khi có sự phê duyệt, gửi đơn đặt hàng cho người bán và nó được coi là chứng từ hợp pháp, đề nghị mua hàng chính thức. Nhận hàng hóa, dịch vụ Sau khi đơn đặt hàng của doanh nghiệp đã được nhà cung cấp chấp nhận thì hàng sẽ giao cho doanh nghiệp. Bộ phận nhận hàng sẽ kiểm tra, nhằm đảm bảo rằng hàng nhận được đúng như trên đơn đặt hàng. Đồng thời bộ phận nhận hàng lập biên bản nhận hàng, để làm bằng chứng cho việc nhận hàng và kiểm tra.
Bản sao của biên bản nhận hàng, sẽ được chuyển cho các bộ phận liên quan theo quy định của doanh nghiệp. Cuối cùng, hàng sẽ được chuyển đi để kho hay để sử dụng tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp Ghi nhận các khoản phải trả người bán Kế toán thanh toán có trách nhiệm kiểm tra tính đúng đắn các lần mua hàng và ghi chép vào sổ nhật ký, sổ chi tiết TK 331, đối chiếu giữa hóa đơn mua hàng với mẫu mã, số lượng, giá cả, chi phí vận chuyển 3 trên hóa đơn,… với thông tin trên các đơn đặt hàng và báo cáo nhận hàng. Xử lý và ghi sổ các khoản thanh toán cho người bán Kế toán thanh toán có thể thanh toán cho người bán thông qua ủy nhiệm chi, séc, tiền mặt… và tiến hành ghi sổ kế toán. Một số chứng từ sổ sách liên quan: Phiếu yêu cầu mua hàng, đơn đặt hàng, biên bản giao nhận hàng, báo cáo nhận hàng, hoá đơn của nhà cung cấp, nhật ký mua hàng, sổ hạch toán chi tiết (nợ phải trả người bán, hàng tồn kho), bảng đối chiếu công nợ với nhà cung cấp, các chứng từ nội bộ.
Mục tiêu kiểm toán quy trình mua hàng và thanh toán Cụ thể trong hoạt động này, kiểm toán viên tham gia vào hoạt động. Thực hiện kiểm tra tính trung thực và hợp lí của các khoản mục liên quan đến chu trình mua hàng và thanh toán. Thông qua các cung cấp trên Báo cáo tài chính của một đơn vị. Các dữ liệu được mang vào phân tích, đánh giá.
Đưa ra các kết luận với nội dung chính phản ánh về các tính chất phản ánh giá trị giữa mua hàng thực tế và thanh toán ghi lại trên Báo cáo tài chính. Mục tiêu hợp lý chung: Đánh giá xem các số dư TK có liên quan có được phản ánh trung thực và hợp lý và phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi hay không. Các mục tiêu chung khác: Tính có thực: Tính có thực của hàng hóa, dịch vụ mua vào cũng như các khoản phải trả nhà cung cấp với ý nghĩa thông tin phản ánh tài sản, công nợ phải được bảo đảm bằng sự tồn tại của tài sản và công nợ. Tính đầy đủ: Tính đầy đủ của việc ghi nhận hàng hóa, dịch vụ mua vào và các khoản phải trả người bán với ý nghĩa thông tin phản ánh trên sổ sách, tài liệu kế toán không bị bỏ sót trong quá trình xử lý.
Tính giá: Đúng đắn trong việc tính giá thực tế hàng nhập kho được tính theo chi phí thực tế để thực hiện nghiệp vụ phù hợp với hợp đồng, hóa đơn mua hàng, biên bản giao nhận hàng hóa, dịch vụ.